Sáng kiến kinh nghiệm SKKN biện pháp rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 1 trong các tiết tập đọc - Pdf 39

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
“MỘT SỐ KINH NGHIỆM RÈN LUYỆN KỸ NĂNG ĐỌC CHO
HỌC SINH LỚP 1”


A. MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
“Trẻ em hôm nay là thế giới ngày mai”. Vì vậy giáo dục trẻ em là một nhiệm vụ vô cùng
quan trọng , là quốc sách hàng đầu mà cả xã hội đều quan tâm. Để ngày mai thế giới có
những chủ nhân tốt, xã hội có những công dân tốt thì ngay từ ngày hôm nay chúng ta
phải đào tạo thế hệ trẻ có kiến thức cơ bản về tự nhiên xã hội và có phẩm chất đạo đức
của con người để các em được học lên các cấp học trên dễ dàng. Nhiệm vụ giáo dục học
sinh luôn luôn được xã hội quan tâm nhưng quan trọng hơn cả vẫn là nhà trường, đặc biệt
là trường tiểu học. Bởi vì nhà trường nói chung và trường tiểu học nói riêng là nơi kết
tinh trình độ văn minh của xã hội trong công tác giáo dục trẻ em. Đứa trẻ ngày hôm nay
và mai sau trở thành những người như thế nào là tuỳ thuộc rất nhiều vào cấp tiểu học các
em được học những gì.
Trong xã hội hiện nay rất nhiều người nói về giáo dục, về chất lượng học sinh lên lớp,về
những học sinh ngồi nhầm lớp từ khi có cuộc vận động “ hai không” của Bộ trưởng Bộ
giáo dục. Tôi không khỏi suy nghĩ phải làm gì, làm như thế nào để “sản phẩm” của mình
phải có chất lượng, những lí do trên đã thôi thúc tôi cần phải có kế hoạch và biện pháp cụ
thể góp phần đưa chất lượng học sinh trong nhà trường đạt hiệu quả tốt. Là một giáo viên
dạy rất nhiều năm ở lớp 1 của trường.Tôi luôn luôn trăn trở về kết quả học tập của học
sinh lớp 1. Nếu các em không đọc thông viết thạo thì các em làm toán cũng rất khó khăn
và học các môn học khác cũng rất chậm, như vậy các em học lên các lớp trên sẽ bị hỏng
kiến thức. Từ thực tế đó tôi rút ra kết luận nếu các em lớp 1 không đọc thông viết thạo thì
sẽ không học tốt các môn học khác.Vì vậy tôi đã chọn đề tài: Rèn kĩ năng đọc cho học
sinh lớp 1
II. Mục đích và phương pháp nghiên cứu

nói chung và của các trường tiểu học nói riêng đã có biết bao học sinh ở lại lớp và học
sinh yếu kém ngồi nhầm chỗ. Học sinh bỏ học do quá yếu không theo học được . Điều đó
khiến tôi rất trăn trở làm thế nào để nâng cao chất lượng học sinh yếu kém giúp học sinh
nắm được kiến thức cơ bản ngay từ đầu lớp 1 bởi lớp 1 là nền móng cho sự phát triển
của học sinh sau này với lớp 1 điều quan trọng nhất là đọc, viết được có đọc được tốt học
sinh mới hiểu được nội dung văn bản và lên lớp trên học sinh mới học tốt được các môn
học khác .Mà từ xưa các nhà trường nói chung trường tiểu học nói riêng chỉ chú trọng tổ
chức bồi dưỡng thêm cho học sinh giỏi mà chưa tổ chức phụ đạo riêng cho đối tượng học
sinh yếu đọc chính vì lẽ đó bản thân mỗi giáo viên chủ nhiệm phải có biện pháp để phụ
đạo học sinh yếu của lớp mình .
II. Cơ sở thực tiễn
Đối tượng học sinh của tôi là học sinh lớp Một. Ở lứa tuổi này khả năng tập trung chú ý
của trẻ chưa cao, tư duy chưa phát triển nên việc bồi dưỡng kĩ năng đọc cho các em ở giai
đoạn này rất khó khăn. Để giải quyết khó khăn ban đầu đấy thì trong hoạt động dạy học


của mình, tôi đã sử dụng một số biện pháp để giúp trẻ tăng thêm hứng thú trong quá trình
học ,thích thú trong giờ học Tiếng Việt để tiến tới đọc thật đúng và chính xác, tạo đà cho
những năm học sau.
III. Thực trạng và những mâu thuẫn
1.Thuận lợi
- Được sự quan tâm của Ban giám hiệu trường.
- Được sự quan tâm của Ban Đại Diện cha mẹ học sinh.
- Nhờ sự giúp đỡ nhiệt tình của giáo viên tổ khối Một .
- Phòng học thoáng mát, đầy đủ ánh sáng, bàn ghế đúng tiêu chuẩn.
- Đa số học sinh đã qua mẫu giáo và ở tại địa bàn phường An Thạnh.
2. Khó khăn
- Đối với giáo viên : Vận dụng phương pháp dạy học chưa phù hợp với từng đối tượng
học sinh nên chất lượng chưa cao, một số giáo viên chưa nhiệt tình giúp đỡ học sinh.
- Đối với học sinh: Học sinh Mẫu giáo khi mới vào lớp Một các em còn rất bỡ ngỡ, rụt


Nhóm 3: Gồm những học sinh khá



Nhóm 4: Gồm những học sinh giỏi

- Tôi có thể thay tên nhóm 1,2,3,4 thành tên khác như nhóm A,B,C,D…Trong quá trình
dạy giáo viên vẫn phải lấy chuẩn để làm thước đo nhưng ở các tiết ôn tập, các giờ ôn của
buổi chiều giáo viên yêu cầu các em thực hiện nhiệm vụ với 4 mức khác nhau trong cùng
một giờ học.
Ví dụ: Nhóm 1 các em đọc nhiều lần hơn, viết ít hơn so với nhóm 3 và 4. Các dạng bài
đọc và viết về vần đều có thể vận dụng phương này. Chẳng hạn bài 46 vần ÔN, ƠN các
em chỉ cần viết ôn, ơn, con chồn, sơn ca, mỗi vần, mỗi từ chỉ một dòng, trong khi đó các
em ở nhóm 3, 4 viết nhiều hơn mỗi loại như trên từ 2 đến 3 dòng. Các em ở nhóm 2 chỉ
cần viết theo yêu cầu chuẩn.
- Tôi thống qua BGH trong các giờ học âm nhạc,thể dục, mĩ thuật…cho những em học
sinh chậm, yếu ở lại phòng học, tôi tiếp tục kèm cho các em đọc nội dung nào các em còn
yếu.
1.2. Phương pháp sử dụng đồ dùng dạy học như tranh, ảnh, vật thật….cho học sinh
học chậm
- Lứa tuổi học sinh tiểu học nhất là học sinh lớp Một khả năng tư duy trừu tượng kém,
phần lớn các em phải dựa trên những mô hình vật thật, tranh ảnh, do vậy trong các giờ
học việc yêu cầu giáo viên sử dụng đồ dùng dạy học là không thể thiếu kể cả đồ dùng do
giáo viên tự làm, đồ dùng dạy học là phương tiện chuyển tải thông tin và là nội dung
truyền thụ kiến thức giáo dục tư cách, rèn luyện kỹ năng thực hành cho học sinh, nó có
tác dụng điều khiển hoạt động của học sinh từ trực quan sinh động đến tư duy trừu
tượng, kích thích hứng thú cho học sinh học tập. Có nhà giáo dục trẻ cho rằng trẻ không
sợ học mà chỉ sợ những tiết học đơn điệu nhàm chán vì thế đồ dùng dạy học có tác dụng
rất lớn trong quá trình dạy môn Tiếng Việt đọc cho học sinh, nhất là các em học sinh học

chuyển lên nên việc tiếp thu kiến thức thông qua hình thức: Học mà chơi, chơi mà học,
giáo viên phải nhẹ nhàng ân cần dạy bảo các em luôn tạo không khí thoải mái, vui vẻ
trong giờ học, một lời nhận xét động viên các em giúp các em thấy tự tin và phấn khởi,
sự chỉ bảo ân cần là điều rất cần thiết, tránh quát mắng các em khi các em làm sai hay
chưa làm được. Đặc biệt không được ngồi một chỗ bảo các em đọc đi, viết đi mà giáo
viên phải đi xuống bên học sinh xem em nào đã làm được còn em nào làm chưa được
nhắc nhở các em, chỉ cụ thể cho các em nhất là với các em học chậm cần nhắc lại hay bắt
tay các em để các em viết cho đúng. Làm sao để mỗi ngày các em đến trường là một ngày
vui. Giáo viên phải gần gũi với học sinh thì mới hiểu được về học sinh của mình, để hình
ảnh ân cần của cô luôn là hình ảnh đẹp trong ánh mắt của các em, bản thân các em cũng


thấy cô giáo như người thân trong gia đình sẵn sàng kể cho cô nghe những niềm vui
hoặc những khó khăn của mình trong học tập hay trong sinh hoạt hàng ngày mà cần cô
giúp đỡ.
Ví dụ: Em Thành lớp tôi, em đọc rất chậm hay sai, một số chữ đọc hay lẫn lộn trong 3
tháng đầu năm học. Nhưng tôi luôn đến tận nơi chỉ cho em từng âm , từng chữ cho em
cùng với lời khen dù chỉ là tiến bộ nhỏ nhất, tôi theo dõi hàng tháng để xem em đó tiến
bộ như thế nào, quả thật đến nay em Thành đã tiến bộ rõ rệt, đọc đúng âm, chữ cỏn đọc
được cả câu.
Tóm lại: Qua việc dạy học phân nhóm đối tượng học sinh tôi nhận thấy nếu người giáo
viên biết lựa chọn phương pháp dạy học thích hợp với từng trình độ học sinh của một lớp
cùng với lòng nhiệt tình, quan tâm giúp đỡ học sinh học chậm thì chất lượng học sinh
ngày một nâng lên.
2. Biện pháp thứ 2: Người giáo viên phải làm gì để học sinh nhận thức chậm, hay
quên; học sinh có hoàn cảnh gia đình học tốt hơn.

Có lẽ nguyên nhân này là nguyên nhân lớn làm giảm chất lượng học sinh, qua dự giờ
chéo của các lớp khối Một, điều làm tôi thật sự băn khoăn và trăn trở bởi số học sinh này
không phải chỉ có 1 hay 2 em, nên tôi nghĩ cần có kế hoạch cụ thể để giúp giáo viên khối

sống khó khăn.
- Nguyên nhân này cũng là yếu tố làm giảm chất lượng học sinh, trong quá trình tìm hiểu
thực tế cho thấy nhiều em đến lớp không viết bài, ngồi ngơ ngác có khi còn ngủ gật,
không chú ý cô giảng bài…Đối tượng học sinh này cần được quan tâm nhiều cả về vật
chất lẫn tinh thần. Vì vậy muốn các học sinh này học tốt giáo viên phải nắm được hoàn
cảnh thực tế của các em từ đó mới có biện pháp cụ thể để dạy các em.
- Để giúp các em học tập tốt, tôi bàn với BGH, Ban Đại Diện cha mẹ học sinh của lớp,
Hội khuyến học của trường kịp thời giúp đỡ về vật chất như tập sách, đồ dùng học tập,
quần áo…
- Cần động viên các em trong mọi hoạt động nhất là với những em mồ côi, gần gũi
quan tâm các em khi các em bệnh, ốm, tạo không khí thoải mái trong học tập, để các em
thấy cô giáo là người mẹ thứ hai của mình, các em không còn thấy cô đơn khi tới trường.
Ví dụ: Lớp tôi có em Dương cha mẹ em đều bị bệnh và qua đời, em hay nghỉ học, đến
lớp ngồi một mình không tham gia hoạt động cùng với các bạn, em học kém, hay quên
tập vở. Tôi luôn gần gũi, động viên em, khi thấy em nghỉ học không lí do tôi đến nhà gặp
gia đình của em, giúp em cùng chơi và hoà nhập với các bạn. Đồng thời tôi cho em để
một số sách vở ở lớp để em khỏi quên như tập hát, tự nhiên xã hội, vở bài tập các loại.
Một vài lần kiểm tra, tôi thấy em Dương cũng đã tiến bộ nhiều, em vui hơn khi tham gia
chơi cùng bạn bè và không còn ngồi buồn nữa.


Tóm lại: Đối với học sinh có hoàn cảnh đặc biệt, giáo viên cần quan tâm, giúp đỡ, động
viên các em giúp các em tự tin trong học tập và hoà nhập với cộng đồng, cần giúp đỡ các
em cả vật chất và tinh thần

3. Biện pháp thứ 3: Làm thế nào để phụ huynh quan tâm tới con em mình không
khoán trắng cho nhà trường và thấy được sự phối hợp giữa nhà trường và gia dình là rất
cần thiết.

Từ thực tế cho thấy nhiều cha mẹ học sinh cho con đến trường là xong nhiệm vụ còn

Sau gần hết một năm học theo dõi và giúp đỡ các em học chậm trong quá trình dạy học
môn Tiếng Việt đọc, tôi nhận thấy chất lượng môn Tiếng Việt đọc lớp tôi đã được nâng
lên, kết quả cuối HKI và Giữa học kì 2- 2/2012, cụ thể như sau:
Học kì I

Giữa học kì II

Tổng số Tỉ lệ

Tổng số Tỉ lệ

Học sinh đọc, viết Giỏi

24

70,6

24

70,6

Học sinh đọc, viết khá

6

17,6

8

23,5

con người có đức có tài, ham học hỏi, thông minh sáng tạo, được chuẩn bị tốt về văn hoá.
Để hoàn thành nhiệm vụ này người giáo viên phải tâm huyết với nghề, luôn tìm tòi và có


biện pháp cụ thể trong quá trình giảng dạy, kết hợp cùng đồng nghiệp, với Ban Giám
Hiệu cùng tìm ra giải pháp hợp lí, vận dụng các phương pháp phù hợp với từng đối tượng
học sinh nhằm nâng cao chất lượng dạy học nói chung và môn Tiếng Việt đọc nói riêng,
tạo tiền đề tốt cho các em học lên các lớp trên.
Phụ huynh nhận thấy rõ vai trò của gia đình trong quá trình giáo dục con em mình, nhiệt
tình chỉ bảo, quan tâm tới các em nhiều hơn, thường xuyên giữ mối liên hệ với nhà
trường, hiểu được tầm quan trọng của sự kết hợp giữa nhà trường và gia đình.
II. khả năng áp dụng
Sáng kiến này được áp dụng trong quá giảng dạy cho học sinh khối Một ở các trường
tiểu học nhằm nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt Tiểu học nói chung và của trường
tiểu học An Thạnh 1 nói riêng.
III. Bài học kinh nghiệm và hướng phát triển
Với những kết quả đạt được, bản thân tôi rút ra bài học kinh nghiệm sau:
- Người giáo viên phải chuyên tâm, say sưa, nhiệt tình trong công việc, không ngừng học
tập để nâng cao kiến thức và năng lực giảng dạy của mình trong nhà trường.
- Đoàn kết, thống nhất từ bản thân với đồng nghiệp.
- Có kế hoạch phụ đạo học sinh và thường xuyên học hỏi đồng nghiệp trong quá trình
giải quyết những khó khăn.
- Có kiểm tra theo dõi, đánh giá rút kinh nghiệm sau từng đợt kiểm tra.
- Dự giờ chéo giáo viên lẫn nhau học hỏi kinh nghiệm giảng dạy của đồng nghiệp.
- Cần mềm mỏng, khéo léo, động viên học sinh trong giảng dạy, thay lời chê bai bằng
những lời khen ngợi dù là những tiến bộ nhỏ nhất của các em.
- Biết lắng nghe và thu nhận thông tin phản hồi từ phụ huynh và sự chỉ đạo của Ban Giám
Hiệu .
- Giữ mối liên hệ tốt giữa nhà trường – gia đình – xã hội.
Trên đây là một số kinh nghiệm đúc kết trong quá trình giảng dạy của mình. Tôi hy vọng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status