PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO HUYỆN MỸ ĐỨC
TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỐC TÍN
- - - - - - - o0o - - - - - - -
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học 2010-2011
Tên đề tài
MỘT SỐ BIỆN PHÁP LUYỆN ĐỌC ĐÚNG
CHO HỌC SINH LỚP 1
TRONG CÁC TIẾT TẬP ĐỌC
Đề tài thuộc lĩnh vực: Môn Tiếng Việt
Họ và tên: Bùi Thị Minh Hương
Chức vụ: Tổ trưởng tổ 1
Đơn vị công tác: Trường tiểu học Đốc Tín
Mỹ Đức- TP Hà Nội
Bùi Thị Minh Hương Sng kin kinh nghim Năm hc 2010-2011
SƠ YẾU LÝ LỊCH
- Họ và tên: Bùi Thị Minh Hương
- Ngày sinh: 1972
- Năm vào nghành:1991
- Chức vụ: Tổ trưởng tổ 1
- Đơn vị công tác: Trường tiểu học Đốc Tín
- Trình độ chuyên môn: Cao đẳng
PHẦN MỞ ĐẦU
2
Bùi Thị Minh Hương Sng kin kinh nghim Năm hc 2010-2011
I-/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Văn học là nghệ thuật của ngôn ngữ, là sự nhận thức về thế giới cuộc
sống con người và xã hội. Tác phẩm văn học dùng phương tiện ngôn từ để
sáng tạo nên những hình tượng về cuộc sống con người, quê hương, xử sở và
đem lại cho người đọc những rung cảm thực sự trong sáng. Trong nhà trường tiểu học
được văn bản mà còn phải đọc đúng văn bản được đọc. Vấn đề đặt ra là làm
thế nào để giúp các em đọc đúng tiếng, đọc liền tiếng trong từ, trong câu, đọc
đúng ngữ điệu, biết cách ngắt nghỉ hơn trong văn bản thơ, cũng như văn bản
3
Bùi Thị Minh Hương Sng kin kinh nghim Năm hc 2010-2011
văn xuôi. Những băn khoăn này chính là lý do tôi chọn đề tài: “Một số biện
pháp luyện đọc đúng cho học sinh lớp 1 trong các tiết tập đọc”
II-/ MỤC ĐÍCH NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
Tập đọc là phân môn thực hành vì vậy nhiệm vụ của nó là hình thành
kỹ năng đọc cho học sinh. Kỹ năng đọc có nhiều mức độ: đọc đúng, đọc
nhanh. Dạy đọc giáo dục lòng ham đọc sách cho học sinh giúp cho các em
thấy được đây chính là con đường đặc biệt để tạo cho mình một cuộc sống trí
tuệ phát triển. Tập đọc góp phần làm giầu vốn kiến thức ngôn ngữ, bồi dưỡng
cho học sinh lòng yêu cái thiện và cái đẹp, dạy cho các cách tư duy có hình
ảnh.
Đặc điểm của dạy tập đọc lớp 1 chính là ở chỗ đây là bước chuyển tiếp
từ dạy “học vần” sang dạy “tập đọc” (ở lớp 2). Giờ tập đọc ở lớp 1 vận dụng
cả phương pháp học vần, cả phương pháp tập đọc. Yêu cầu của giờ tập đọc
lớp 1 là củng cố hệ thống âm vần đã đọc (nhất là các vần khó) đọc đúng
tiếng, liền tiếng trong từ, trong câu, đoạn, bài. Bước đầu biết cách ngắt hơi ở
các dấu câu, biết lên giọng và hạ giọng. Để làm tốt được những nhiệm vụ nêu
trên, đề tài của tôi mục đích đưa ra một số biện pháp để giúp học sinh đọc
thông được văn bản và đọc đúng ngữ điệu nói chung, ngắt giọng đúng nói
riêng nhằm nâng cao chất lượng của 1 giờ dạy tập đọc ở lớp 1.
III-/ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là thực trạng dạy đọc của lớp 1 ở Trường tiểu
học Đốc Tín.
IV-/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng những phương pháp sau :
- Phương pháp thu nhận tài liệu;
đại. Biết đọc, con người đã nhân khả năng tiếp nhận lên nhiều lần, từ đây anh
ta biết tìm hiểu, đánh giá cuộc sống nhận thức các mối quan hệ tự nhiên, xã
hội, tư duy. Biết đọc con người sẽ có khả năng chế ngự một phương tiện văn
hoá cơ bản giúp họ giao tiếp được với thế giới bên trong của người khác,
thông hiểu tư tưởng tình cảm của người khác, đặc biệt khi đọc các tác phẩm
văn chương, con người không chỉ được thức tỉnh về nhận thức mà còn rung
động tình cảm, nảy nở những ước mơ tốt đẹp, được khơi dậy năng lực hành
động sức mạnh sáng tạo cũng như được bồi dưỡng tâm hồn không biết đọc
con người sẽ không có điều kiện hưởng thụ sự giáo dục mà xã hội dành cho
họ, không thể hình thành được một nhân cách toàn diện. Đặc biệt trong thời
5
Bùi Thị Minh Hương Sng kin kinh nghim Năm hc 2010-2011
đại bủng nổ thông tin thì biết đọc ngày càng quan trọng vì nó sẽ giúp người
ta sử dụng các nguồn thông tin, đọc chính là học, học nữa học mãi, đọc để tự
học, học cả đời. Vì những lý lẽ trên dạy đọc có ý nghĩa to lớn ở tiểu học. Đọc
trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với mỗi người đi học. Đầu tiên trẻ
phải học đọc, sau đó trẻ phải đọc để học. Đọc giúp trẻ em chiếm lĩnh được
một ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và học tập. Nó là công cụ để học tập
các môn học khác. Nó tạo ra hứng thú và động cơ học tập. Nó tạo điều kiện
để học sinh có khả năng tự học và tinh thần học tập cả đời. Nó là một khả
năng không thể thiếu được của con người văn minh.
Đọc một cách có ý thức cũng sẽ tác động tích cực tới trình độ ngôn ngữ
cũng như tư duy của người đọc, việc dạy đọc sẽ giúp học sinh hiểu biết hơn,
bồi dưỡng ở các em lòng yêu cái thiện và cái đẹp, dạy cho các em biết suy
nghĩ một cách logic cũng như biết tư duy có hình ảnh. Như vậy đọc có một ý
nghĩa to lớn còn vì nó bao gồm các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát
triển.
2. Nhiệm vụ của dạy đọc ở tiểu học
Những điều vừa nêu trên khẳng định sự cần thiết của việc hình thành
và phát triển một cách có hệ thống và có kế hoạch năng lực đọc cho học sinh.
thức về ngôn ngữ, đời sống và kiến thức văn hoá cho học sinh, phát triển ngô
ngữ và tư duy, giáo dục tư tưởng đạo đức, tình cảm, thị hiếu thẩm mỹ cho
các em.
II-/ NHỮNG CƠ SỞ CỦA VIỆC DẠY ĐỌC Ở TIỂU HỌC
1. Cơ sở tâm lý, sinh lý của việc dạy đọc
Để tổ chức dạy đọc cho học sinh, chúng ta cần hiểu rõ về quá trình
đọc, nắm bản chất của kỹ năng đọc. Đặc điểm tâm lý sinh lý của học sinh khi
đọc hay cơ chế của đọc là cơ sở của việc dạy học.
Như trên đã nói, đọc là một hoạt động trí tuệ phức tạp mà cơ sở là việc
tiếp nhận thông tin bằng chữ viết dựa vào các hoạt động của cơ quan thị giác.
Chúng ta đi vào phân tích đặc điểm của quá trình này.
- Đọc được xem như là một hoạt động có hai mặt quan hệ mật thiết với
nhau, là việc sử dụng bộ mã gồm hai phương diện. Một mặt đó là quá trình
vận động của mắt, sử dụng bộ mã chữ - âm để phát ra một cách trung thành
nhưng dòng văn tự ghi lại lời nói âm thanh. Thứ hai đó là sự vận động của tư
tưởng, tình cảm, sử dụng bộ mã chữ - nghĩa tức là mối liên hệ giữa các con
chữ và ý tưởng, các khái niệm chứa đựng bên trong để nhớ và hiểu cho được
nội dung những gì được đọc.
- Đọc bao gồm những yếu tố như tiếp nhận bằng mắt hoạt động của các
cơ quan phát âm, các cơ quan thính giác và thông hiểu những gì được đọc.
Càng ngày những yếu tố này càng gần nhau hơn, tác động đến nhau nhiều
hơn.
Nhiệm vụ cuối cùng của sự phát triển kỹ năng đọc là đạt đến sự tổng
hợp giữa những mặt riêng lẻ này của quá trình đọc, đó là điểm phân tích biết
người mới biết đọc và người đọc thành thạo. Càng có khả năng tổng hợp các mặt trên
bao nhiêu thì việc đọc càng hoàn thiện, càng chính xác, càng biểu cảm bấy nhiêu.
7
Bùi Thị Minh Hương Sng kin kinh nghim Năm hc 2010-2011
- Dễ dàng nhận thấy rằng thuật ngữ "đc" được sử dụng trong nhiều
nghĩa : theo nghĩa hẹp, việc hình thành kỹ năng đọc trùng với nắm kỹ thuật
chúng sẽ không có hứng thú học tập và không có khả năng thành công. Do đó
hiểu những gì được đọc sẽ tạo ra động cơ, hứng thú cho việc đọc.
Để có giờ tập đọc đạt kết quả tốt người giáo viên phải nắm được đặc
điểm tâm sinh lý của học sinh mình nắm được đặc điểm yêu cầu, bản chất kỹ
năng cơ chế đích cần đạt được của tiết dạy tập đọc. Trên cơ sở đó sử dụng
phương pháp cho phù hợp.
8
Bùi Thị Minh Hương Sng kin kinh nghim Năm hc 2010-2011
2. Cơ sở ngôn ngữ và văn học của việc dạy đọc
Phương pháp dạy tập đọc phải dựa trên những cơ sở của ngôn ngữ học.
Nó liên quan mật thiết với một số vấn đề của ngôn ngữ học như vấn đề chính
âm, chính tả, chữ viết, ngữ điệu (thuộc ngữ âm học), vấn đề nghĩa của từ, của
câu, đoạn, bài (thuộc từ vựng học, ngữ nghĩa học), vấn đề dấu câu, các kiểu
câu… Phương pháp dạy học tập đọc phải dựa trên những kết quả nghiên cứu
của ngôn ngữ học, việt ngữ học về những vấn đề nói trên để xây dựng, xác
lập nội dung và phương pháp dạy học. Bốn phẩm chất của đọc không thể tách
rời những cơ sở ngôn ngữ học. Không coi trọng đúng mức những cơ sở này,
việc dạy học sẽ mang tính tuỳ tiện và không đảm bảo hiệu quả dạy học.
a. Vấn đề chính âm trong tiếng Việt
Chính âm là các chuẩn mực phát âm của ngôn ngữ có giá trị và hiệu
quả về mặt xã hội. Vấn đề chuẩn mực phát âm tiếng Việt đang là vấn đề thời
sự, có nhiều ý kiến khác nhau. Nó liên quan đến nhiều vấn đề khác nhau như
chuẩn hoá ngôn ngữ, giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt, mục đích của việc
xây dựng chính âm.
b. Vấn đề ngữ điệu của Tiếng Việt
Theo nghĩa hẹp, ngữ điệu là sự thay đổi giọng nói, giọng đọc, là sự lên
cao hay hạ thấp giọng đọc, giọng nói. Ngữ điệu là một trong những thành
phần của ngôn điệu. Ngữ điệu là yếu tố gắn chặt với lời nói, là yếu tố tham
gia tạo thành lời nói.
Mỗi ngôn ngữ có một ngữ điệu riêng. Ngữ điệu tiếng Việt, như các
III-/ TỔ CHỨC DẠY ĐỌC THÀNH TIẾNG Ở TIỂU HỌC
1. Chuẩn bị cho việc đọc
Giáo viên hướng dẫn học sinh chuẩn bị tâm thế để đọc. Khi ngồi đọc
cần phải ngồi ngay ngắn, khoảng cách từ mắt đến sách nên nằm trong khoảng
30-35 cm, cổ và đầu thẳng, phải thở sâu và thở ra chậm để lấy hơi. Ở lớp, khi
được cô giáo gọi đọc, học sinh phải bình tĩnh, tự tin, không hấp tấp đọc ngay.
Trước khi nói về việc rèn đọc đúng, cần nói về tiêu chí cường độ và tư
thế khi đọc, tức là rèn đọc to, đọc đàng hoàng. Trong hoạt động giao tiếp, khi
đọc thành tiếng, người đọc một lúc đóng hai vai: một vai - và mặt này thường
được nhấn mạnh - là người tiếp nhận thông tin bằng chữ viết; vai thứ hai là
người trung gian để truyền thông tin đưa văn bản viết đến người nghe. Khi
giữ vai thứ hai này, người đọc đã thực hiện việc tái văn bản. Vì vậy, khi đọc
thành tiếng, người đọc có thể đọc cho mình hoặc cho người khác hoặc cho cả
hai. Đọc cùng với phát biểu trong lớp là hai hình thức giao tiếp trước đám
đông đầu tiên của trẻ em nên giáo viên phải coi trọng khâu chuẩn bị để đảm
bảo sự thành công, tạo cho các em sự tự tin cần thiết. Khi đọc thành tiếng,
các em phải tính đến người nghe. Giáo viên cần cho các em hiểu rằng các em
đọc không phải chỉ cho mình cô giáo mà để cho tất cả các bạn cùng nghe nên
cần đọc đủ lớn để cho tất cả những người này nghe rõ. Nhưng như thế không
có nghĩa là đọc quá to hoặc gào lên. Để luyện cho học sinh đọc quá nhỏ "lí
nhí", giáo viên cần tập cho các em đọc to chừng nào bạn ở xa nhất trong lớp
nghe thấy mới thôi. Giáo viên nên cho học sinh đứng trên bảng để đối diện
10
Bùi Thị Minh Hương Sng kin kinh nghim Năm hc 2010-2011
với những người nghe. Tư thế đứng đọc phải vừa đàng hoàng, vừa thoải mái,
sách phải được mở rộng và cầm bằng hai tay.
2. Luyện đọc đúng
a. Đọc đúng là sự tái hiện mặt âm thanh của bài đọc một cách chính
xác, không có lỗi. Đọc đúng là đọc không thừa, không sót từng âm, vần, tiếng. Đọc
đúng phải thể hiện đúng ngữ âm chuẩn, tức là đọc đúng chính âm. Nói cách khác là
Việc ngắt hơi phải phù hợp với các dấu câu: nghỉ ít ở dấu phẩy, nghỉ
lâu hơn ở dấu chấm, đọc đúng các ngữ điệu câu: lên giọng ở cuối câu hỏi, hạ
11
Bùi Thị Minh Hương Sng kin kinh nghim Năm hc 2010-2011
giọng ở cuối câu kể, thay đổi giọng cho phù hợp với tình cảm cần diễn đạt
trong câu cảm. Với câu cầu khiến cần nhấn giọng phù hợp để thấy rõ giọng
khi đọc bộ phận giải thích của câu.
Như vậy đọc đúng đã bao gồm một số tiêu chuẩn của đọc diễn cảm.
3. Luyện đọc nhanh
a) Đọc nhanh (còn gọi là đọc lưu loát, trôi chảy) là nói đến phẩm chất
đọc về mặt tốc độ, là việc đọc không ê a, ngắc ngứ. Vấn đề tốc độ đọc chỉ đặt
ra sau khi đã đọc đúng.
Mức độ thấp nhất của đọc nhanh là đọc trơn (nhiệm vụ này phần dạy
đọc của phân môn học vần phải đảm nhận), đọc không ê a, ngắc ngứ, không
vừa đọc vừa đánh vần. Về sau tốc độ đọc phải đi song song với việc tiếp
nhận có ý thức bài đọc. Khi đọc cho người khác nghe thì người đọc phải xác
định tốc độ đọc nhanh nhưng để cho người nghe hiểu kịp được. Vì vậy, đọc
nhanh không phải là đọc liến thoắng. Tốc độ chấp nhận được của đọc nhanh
khi đọc thành tiếng trùng với tốc độ của lời nói. Khi đọc thầm thì tốc độ đọc
sẽ nhanh hơn nhiều.
b) Biện pháp luyện đọc nhanh
Giáo viên hướng dẫn cho học sinh làm chủ tốc độ đọc bằng cách đọc
mẫu để học sinh đọc theo tốc độ đã định. Đơn vị để đọc nhanh là cụm từ,
câu, đoạn, bài. Giáo viên điều chỉnh tốc độ đọc bằng cách giữ nhịp đọc.
Ngoài ra, còn có biện pháp đọc nối tiếp trên lớp, đọc nhẩm có sự kiểm tra
của thầy, của bạn để điều chỉnh tốc độ. Giáo viên đo tốc độ đọc bằng cách
chọn sẵn bài có số tiếng cho trước và dự tính sẽ đọc trong bao nhiêu phút.
Định tốc như thế nào còn phụ thuộc vào độ khó của bài đọc.
IV-/ MỤC ĐÍCH YÊU CẦU CỦA PHÂN MÔN TẬP ĐỌC Ở LỚP 1
- Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học có tác dụng hình thành phát triển
- Quá trình tìm hiểu thực tế, nhìn chung mỗi giờ tập đọc đều có 2 phần
lớn tìm hiểu nội dung bài và luyện đọc, hai phần này có thể tiến hành cùng
một lúc, đan xen vào nhau, cũng có thể tách rời nhau tuỳ từng bài và từng
giáo viên. Song dù dạy theo cách nào thì hai phần này luôn có mối quan hệ
tương hỗ, khăng khít. Phần tìm hiểu bài giúp học sinh tìm hiểu kỹ nội dung
nghệ thuật của từng bài, từ đó học sinh đọc đúng, diễn cảm tốt. Ngược lại
đọc diễn cảm để thể hiện nội dung bài, thể hiện những hiểu biết của mình
xunh quanh bài học.
Như vậy phần luyện đọc có vai trò quan trọng, học sinh đọc tốt sẽ giúp
các em hoàn thành được năng lực giao tiếp bằng ngôn ngữ của chính bản
thân mình. Đọc tốt giúp các em hiểu biết tiếp thu được văn minh của loài
người, bồi đưỡng tâm hồn tình cảm, phát triển tư duy.
Trong quá trình rèn đọc giáo viên cần rèn luyện một cách linh hoạt các
phương pháp khác nhau để phù hợ với đặc trưng của phân môn và phù hợp
với nội dung của bài dạy. Quá trình hướng dẫn học sinh rèn đọc trước hết
giáo viên phải sử dụng phương pháp làm mẫu. Nghĩa là giáo viên làm mẫu
cho học sinh nghe, yêu cầu giọng đọc của giáo viên phẩi chuẩn, diễn cảm thể
hiện đúng nội dung, ý nghĩa của bài học để học sinh bắt trước đọc theo. Sau
đó giáo viên phải kết hợp phương pháp luyện đọc theo mẫu, luyện đọc đúng,
đọc chính xác các phụ âm đầu, âm chính, âm cuối, dấu thanh. Đọc đúng tiết tấu,
ngắt hơi nghỉ hơi đúng chỗ, đúng ngữ điệu câu. Từ đó hướng dẫn học sinh đọc diễn
cảm để biểu đạt đúng ý nghĩa và tình cảm mà tác giả mong muốn và gửi gắm trong
bài tập đọc.
13
Bùi Thị Minh Hương Sng kin kinh nghim Năm hc 2010-2011
- Trong quá trình hướng dẫn học sinh rèn đọc, giáo viên cần đổi mới
phương pháp giảng dạy, luôn lấy học sinh làm trung tâm, giáo viên chỉ là người
hướng dẫn tổ chức, học sinh tự tìm hiểu, tự phát hiện và luyện đọc đạt kết quả tốt.
- Ngoài ra để phần rèn đọc đạt kết quả tốt thì cần phải có các yếu tố
khác như cơ sở vật chất đầy đủ, đồ dùng học tập. Bên cạnh đó giáo viên phải
quan trọng hơn còn về thời gian phân bố trong giờ luyện đọc thì 80% số giáo
viên cho rằng thời gian luyện đọc là nhiều hơn còn 20% cho rằng thời gian
của 2 phần này như nhau. Được dự các tiết tập đọc của trường nói chung và
của lớp 1 nói riêng tôi nhận thấy phần lớn giáo viên đều chú ý sửa lỗi phát
âm cho học sinh song do thời gian bị hạn ché nên việc sửa lỗi do chỉ được
thực hiện lướt qua khi luyện đọc từ hoặc câu giáo viên thường chỉ cho học
sinh luyện những từ và câu mà sách giáo khoa yêu cầu chứ chưa chọn lọc ra
những từ hoặc câu mà học sinh của mình hay nhầm lẫn.
2. Những phương pháp giáo viên thường sử dụng trong phần rèn đọc
Hiện nay ở tiểu học, về vấn đề rèn đọc cho học sinh, giáo viên sử dụng
phương pháp dạy học cụ thể là: phương pháp làm mẫu, phương pháp luyện
đọc theo mẫu, phương pháp luyện tập củng cố, phương pháp hỏi đáp (đặt câu
hỏi để học sinh tự tìm và phát hiện từ khó, cách ngắt nhịp câu dài…) và
phương pháp đóng vai (đối với văn kể chuyện).
* Thực trạng phần rèn đọc ở lớp 1
Qua tìm hiểu và dự giờ ở lớp 1 tôi thấy hiện nay nhìn chung giờ tập
đọc được tiến hành theo trình tự sau:
Tiết 1:
1. Kiểm tra bài cũ
Học sinh đọc lại bài của tiết trước và trả lời một số câu hỏi ứng với nội
dung bài học.
2. Bài mới:
a. Giới thiệu bài:
- Giáo viên chép sẵn bài đọc lên bảng lớp
15
Bùi Thị Minh Hương Sng kin kinh nghim Năm hc 2010-2011
- Giáo viên đọc mẫu, học sinh theo dõi
b. Hướng dẫn học sinh luyện đọc
* Luyện đọc tiếng, từ
Giáo viên kể chân những tiếng từ mà SKG yêu cầu → cá nhân học sinh đọc
5. Củng cố – dặn dò
Dặn dò học sinh đọc lại bài nhiều lần và chuẩn bị bài sau
Sau một thời gian tiến hành tìm hiểu điều tra thực trạng, tôi rút ra một
số kết luận sau:
- Giờ tập đọc có vị trí quan trọng ở tiểu học.
- Giáo viên nhận thức được ý nghĩa của việc tập đọc và nhiệm vụ
chính của dạy đọc.
- Trong giờ tập đọc giáo vien còn làm mẫu nhiều mà chưa để các em tự
phát hiện ra cách đọc. Giáo viên còn lúng túng trong việc hướng dẫn học sinh
sửa phát âm sai do học sinh nói ngọng hoặc do tiếng địa phương.
- Trong giờ tập đọc nhất là khi có người dự giờ thì giáo viên còn ít chú
ý đến học sinh yếu vì đối tượng này thường đọc chậm, làm mất thời gian,
làm giảm tiến độ của tiết dạy.
3. Đối với học sinh
Qua nhiều năm dạy học, tôi nhận thấy ở tiểu học các em thường coi
nhẹ môn tập đọc vì các em cho rằng môn tập đọc là môn dễ không phải suy
nghĩ như môn toán mà chỉ cần đọc trôi chảy, lưu loát là được. Các em cũng
chưa để ý đến việc đọc của mình như thế nào. Một số ít học sinh phát âm sai
do thói quen đã có từ trước hoặc do tiếng địa phương. Khi đọc các em còn
hay mắc lỗi ngắt giọng, các em còn ngắt giọng để lấy hơi một cách tuỳ tiện
(còn gọi là ngắt giọng sinh lý). Học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 1
nói riêng phần lớn các em chỉ biết bắt chước cô một cách tự nhiên.
17
Bùi Thị Minh Hương Sng kin kinh nghim Năm hc 2010-2011
CHƯƠNG III
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC
Từ việc nghiên cứu cơ sở thực tiễn và cơ sở lý luận của việc dạy đọc là
nhận thấy nếu dạy như đại trà hiện nay thì chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu
dạy đọc ở tiểu học. Do vậy dể khắc phục những hạn chế, phát huy những ưu
điểm hiện có ở thực tế. Tôi xin mạnh dạn đưa ra một số biện pháp hướng dẫn
hoặc phát âm sai để cho các em luyện đọc. Trong thực tế, hàng ngày lên lớp
tôi vẫn thực hiện điều này.
Thí dụ: Bài “Hoa Ngc Lan”
Sách giáo khoa chỉ yêu cầu luyện đọc các từ sau
“ Hoa lan, l dày, lấp ló”
Khi dạy, dựa vào tình hình đọc của lớp ngoài những từ trên tôi đã tìm
thêm một số từ ngữ khác cần luyện đọc đúng đó là các từ ngữ: “xanh thẫm,
nụ hoa, cnh xoè ra duyên dng, ngan ngt, toả khắp vườn, khắp nhà…” Sở dĩ
tôi đã lựa chọn thêm những từ ngữ này bởi vì thực tế ở lớp tôi dạy vần còn một số ít
em đọc chưa tốt, các em hay nhầm lẫn vần, phụ âm đầu và dấu thanh. Cụ thể như:
Từ Học sinh đọc nhầm
Xanh thẫm Xăn thấm
Nụ hoa Lụ hoa
Cnh xoè ra duyên dng Cnh xèo ra duyên dng
Ngan ngt Ngan ngc
Toả khắp vườn, khắp
nhà
Toả khắc vườn, khắc
nhà
Giáo viên cũng nên để cho học sinh tự nêu những từ mà các em cảm
thấy khó đọc trong khi phát âm.
Thí dụ: Bài “Chú công”
SGK chỉ yêu cầu luyện đọc từ “nâu gạch, rẻ quạt, rực rỡ, lóng lnh”
nhưng các em học sinh lớp tôi đã nêu ra được 2 từ mà các em cho là khó đọc
đó là: “màu sắc, xoè tròn” vì khi đọc dễ bị lẫn “màu sắc” với “mầu sắc”,
“xoè tròn” với “xèo tròn”
Khi cho các em luyện đọc từ ngữ, giáo viên nên kết hợp phân tích tiếng
để giúp học sinh nhớ lại những âm vần đã học. Tuy nhiên chúng ta cần tập
trung gọi những học sinh đọc còn yếu, song để giúp những em này đọc được
đúng thì việc gọi một số em giỏi đọc thật to, thật chính xác là một việc làm
Thơ là tiếng nói của tình cảm, là sự phản ánh con người và thời đại một
cách cao đẹp, thơ rất giàu chất trữ tình. Vì vậy khi đọc thơ cần thể hiện được
tình cảm của tác giả gửi gắm trong từ, từng dòng thơ, nhịp thơ để truyền cảm
xúc đến người nghe. Vì vậy đọc thơ phải đọc đúng dòng thơ, vần thơ, thể thơ
để thể hiện sắc thái, tình cảm. Khi dạy bài tập đọc là thơ thì một công việc
không thể thiếu được đối với giáo viên và học sinh đó là ngắt nhịp câu thơ.
Thực tế cho thấy học sinh mắc lỗi ngắt nhịp là do không tính đến nghĩa chỉ
đọc theo áp lực của nhạc thơ. Học sinh tìm được trong bài có những dấu câu
thì ngắt nhịp ra sao. Do vậy khi dạy những bài đọc thơ ở giai đoạn đầu tôi
thường chép lên bảng các câu thơ cần chú ý ngắt giọng rồi hướng dẫn
Thí dụ: Bài “Tặng Cháu”
20
Bùi Thị Minh Hương Sng kin kinh nghim Năm hc 2010-2011
Vở này / ta tặng chu yêu ta
Tỏ chút lòng yêu chu / gi là
Mong chu / ra công mà hc tập
Mai sau / chu giúp nước non nhà
Học sinh sẽ được luyện đọc từng câu rồi đọc nối tiếp nhau cho đến hết
bài. Giáo viên có thể cho các em dùng ký hiệu đánh dấu vào sách để khi đọc
không bị quên.
Đến giai đoạn sau (khoảng từ giữa học kỳ II trở đi) tôi đã để học sinh
nhìn vào sách và nêu cách ngắt giọng của mình ở từng câu thơ (vì những bài
thơ của lớp 1 thường là ngắn nên công viẹc này cũng không chiếm quá nhiều
thời gian trong tiết dạy). Nếu học sinh nói đúng giáo viên công nhân ngay và
cho các em đánh dấu luôn vào sách. Nếu học sinh nói sai giáo viên sửa lại
cho học sinh.
Thí dụ 1: Bài “Mẹ và cô”
Học sinh thường ngắt nhịp như sau:
Buổi sng / bé chào mẹ
Chạy tới ôm / cổ cô
câu ứng dụng hay bài ứng dụng đã có ở phần học vần.
Thí dụ:
“L thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngc
Đạp trên l vàng khô”
Hay
“Ting dừa làm dịu nắng trưa
Gi đàn gió đn cùng dừa múa reo
Trời trong đầy ting rì rào
Đàn cò đnh nhịp bay vào bay ra”
c. Đọc đúng: dạng văn xuôi
Tương tự như ở thơ, giáo viên cần chú trong rèn cho các em biết ngắt,
nghỉ hơi cho đúng. Cần phải dựa vào nghĩa và các dấu câu để ngắt hơi cho
đúng. Khi đọc không được tách một từ ra làm hai, tức là không ngắt hơi
trong một từ. Việc ngắt hơi phải phù hợp với các dấu câu, nghĩ ít ở dấu phẩy,
nghỉ lâu hơn ở dấu chấm. Đối với những câu văn dài cần hướng dẫn học sinh
ngắt hơi cho phù hợp. Cụ thể tôi cho học sinh tự tìm những câu văn dài đó
hoặc do chính giáo viên đưa ra. Sau đó yêu cầu học sinh xác định cách ngắt
giọng, gọi học sinh nhận xét đúng sai. Đối với học sinh lớp 1 giáo viên cũng
22
Bùi Thị Minh Hương Sng kin kinh nghim Năm hc 2010-2011
chưa nên hỏi nhiều quá về việc tại sao các em lại ngắt giọng như vậy mà nếu
thấy đúng thì giáo viên công nhận ngay, còn nếu sai thì sửa cho các em và
giải thích để các em thấy rõ hơn. Sau khi xác định ngắt giọng ở mỗi câu văn
dài bao giờ giáo viên cũng phải nhấn mạnh cho các em thấy tầm quan trọng
trong việc ngắt, nghỉ đúng ở các câu văn, đoạn văn. Muốn xác định cách ngắt
giọng đúng thì phải dựa vào nghĩa vào các tiếng, từ, dấu câu.
Thí dụ: Bài “Trường em”
Câu dài trong bài cần hướng dẫn cách ngắt nghỉ hơi là:
“Ở trường / có cô gio hiền như mẹ / có nhiều bè bạn thân thit như anh em /”
giúp giáo viên kiểm soát được khả năng đọc của toàn thể học sinh trong lớp.
- Luyện đọc diễn cảm sẽ được thể hiện trong tiết 2, trong phạm vi đề
tài này tôi chỉ đề cập đến vấn đề đọc đúng. Vì vậy mà cách hướng dẫn đọc
diễn cảm sẽ không được nêu lên trong đề tài.
d. Luyện đọc củng cố và nâng cao
Để giúp học sinh đọc bài một cách chắc chắn, giáo viên cần dành thời
gian để luyện đọc củng cố và nâng cao. Trong phần này giáo viên cho học
sinh luyện đọc cá nhân – giáo viên cần chú ý tới các em đọc yếu để em đó
được tham gia đọc – giáo viên cần động viên khích lệ kịp thời. Trong quá
trình học sinh đọc giáo viên quan tâm theo dõi, uốn nắn, sửa sai cho các em.
Đối với những bài đọc có lời đối thoại nên cho các em đọc theo lối phân vai.
Đối với bài thơ cần cho các em đọc nhiều. Một tiết học tập đọc chỉ có 35 –
40 phút vì vậy để đảm bảo thời gian và chất lượng giờ học, học sinh phải đọc
trước văn bản ở nhà. Giáo viên cần có sự chuẩn bị chu đáo, phải đưa ra các
tình huống có thể xảy ra khi hướng dẫn học sinh đọc cho đúng, cho hay.
Muốn vậy giáo viên phải luôn trau dồi kiến thức, luôn thay đổi phương pháp
dạy học cho phù hợp với sự phát triển của xã hội. Trong giờ học, giáo viên
chỉ là người hướng dẫn, tổ chức để học sinh tự tìm ra kiến thức.
24
Bùi Thị Minh Hương Sng kin kinh nghim Năm hc 2010-2011
CHƯƠNG IV
DẠY THỰC NGHIỆM
Tôi đã tiến hành dạy thực nghiệm ở khối lớp 1 của mình. Sau đây là 2
bài tập đọc mà tôi xin trình bày giáo án trong đề tài đó là bài “Mẹ và cô” và
bài “Sau cơn mưa” khi dạy hai bài này tôi đã áp dụng những biện pháp nêu
trên để rèn đọc cho học sinh đạt kết quả tốt.
Dưới đây là nội dung hai giáo án đó
Tiết số 1 - Tuần: 4
Tên bài dạy