ĐỀ TÀI " MỘT SỐ BIỆN PHÁP LUYỆN ĐỌC ĐÚNG CHO HỌC SINH LỚP 1 TRONG CÁC TIẾT TẬP ĐỌC " - Pdf 22

PHÒNG GD- ĐT GIO LINH
TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN CỬA VIỆT

  
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề tài:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP LUYỆN ĐỌC ĐÚNG
CHO
HỌC SINH LỚP 1 TRONG CÁC TIẾT TẬP
ĐỌC
Người viết : Trần Thị Quýt
Tổ : Một

Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp luyện đọc đúng cho học
sinh lớp Một trong các tiết tập đọc”
Cửa Việt , Tháng 4 năm 2010.
MỤC LỤC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 1
MỘT SỐ BIỆN PHÁP LUYỆN ĐỌC ĐÚNG CHO 1
Mở đầu 3
I-/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 3
II-/ MỤC ĐÍCH NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI 4
III-/ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 4
IV-/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
Chương I 6
I-/ VỊ TRÍ, NHIỆM VỤ CỦA DẠY ĐỌC Ở TIỂU HỌC 6
1. Vị trí của dạy đọc ở tiểu học 6
2. Nhiệm vụ của dạy đọc ở tiểu học 7
II-/ NHỮNG CƠ SỞ CỦA VIỆC DẠY ĐỌC Ở TIỂU HỌC 8
1. Cơ sở tâm lý, sinh lý của việc dạy đọc 8
2. Cơ sở ngôn ngữ và văn học của việc dạy đọc 9

Văn học là nghệ thuật của ngôn ngữ, là sự nhận thức về thế giới cuộc
sống con người và xã hội. Tác phẩm văn học dùng phương tiện ngôn từ để sáng
tạo nên những hình tượng về cuộc sống con người, quê hương, xử sở và đem lại
cho người đọc những rung cảm thực sự trong sáng. Trong nhà trường tiểu học ở Việt
Nam đã coi Tiếng Việt là một môn học trung tâm, làm nền móng các môn học khác.
Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học có nhiệm vụ vô vùng quan trọng đó là
hình thành 4 kỹ năng: Nghe – nói - đọc – viết cho học sinh. Tập đọc là một phân
môn của chương trình Tiếng Việt bậc tiểu học. Đây là phân môn có vị trí đặc
biệt trong chương trình vì nó đảm nhiệm việc hình thành và phát triển kỹ năng
đọc, một kỹ năng quan trọng hàng đầu của học sinh ở bậc tiểu học đầu tiên. Kỹ
năng đọc có nhiều mức độ: đọc đúng, đọc nhanh (lưu loát, trôi chảy), đọc có ý
thức (thông hiểu được nội dung những điều mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu)
và đọc diễn cảm. Khi học sinh đọc tốt, viết tốt thì các em mới có thể tiếp thu các
môn học khác một cách chắc chắn. Từ đó học sinh mới hoàn thành được năng
lực giao tiếp của mình. Những kỹ năng này không phải tự nhiên mà có. Nhà
trường phải từng bước hình thành và trường tiểu học nhận nhiệm vụ đặt viên gạch
đầu tiên. Nên việc dạy học phải có định hướng, có kế hoạch từ lớp 1 đến lớp 5.
Đặc biệt đối với học sinh lớp 1 - Lớp đầu cấp - việc dạy đọc cho các em
thật vô cùng quan trọng bởi các em có đọc tốt được ở lớp 1 thì khi học các lớp
tiếp theo các em mới nắm bắt được những yêu cầu cao hơn của môn Tiếng Việt.
Việc dạy đọc ở lớp 1 cũng quan trọng bởi từ chỗ các em còn phải đọc đánh vần
từng tiếng đến việc đọc thông thạo được một văn bản là việc tương đối khó với
các em mà mục tiêu của giờ dạy Tiếng Việt là phải hướng đến giáo dục học sinh
Người thực hiện: Trần Thị Quýt Trường tiểu học Thị Trấn Cửa Việt
- 3 -
Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp luyện đọc đúng cho học
sinh lớp Một trong các tiết tập đọc”
yêu tiếng Việt bằng cách nêu bật sức mạnh biểu đạt của Tiếng Việt, sự giàu đẹp
của âm thanh, sự phong phú của ngữ điệu trong việc biểu đạt nội dung. Thế
nhưng hiện nay, ở trường tiểu học, mặt âm thanh của ngôn ngữ, đặc biệt ngữ

Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng những phương pháp sau :
- Phương pháp thu nhận tài liệu;
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế;
- Dạy thực nghiệm;
Người thực hiện: Trần Thị Quýt Trường tiểu học Thị Trấn Cửa Việt
- 4 -
Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp luyện đọc đúng cho học
sinh lớp Một trong các tiết tập đọc”
- Trao đổi, toạ đàm với đồng nghiệp.
Người thực hiện: Trần Thị Quýt Trường tiểu học Thị Trấn Cửa Việt
- 5 -
Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp luyện đọc đúng cho học
sinh lớp Một trong các tiết tập đọc”
Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
I-/ VỊ TRÍ, NHIỆM VỤ CỦA DẠY ĐỌC Ở TIỂU HỌC
1. Vị trí của dạy đọc ở tiểu học
a. Khái niệm đọc:
Môn Tiếng Việt ở trường phổ thông có nhiệm vụ hình thành năng lực
hoạt động ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể hiện
bốn dạng hoạt động, tương ứng với chúng là bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết.
Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng thức chữ viết
sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với hình thức đọc thành tiếng),
là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không
có âm thanh (ứng với đọc thầm).
Đọc không chỉ là công việc giải một bộ mã gồm 2 phần chữ viết và phát
âm, nghĩa là nó không phải chỉ là sự “đánh vần” lên thành tiếng theo đúng như
các ký hiệu chữ viết mà còn là một quá trình nhận thức để có khả năng thông
hiểu những gì được đọc. Trên thực tế, nhiều khi người ta đã không hiểu khái
niệm “đọc” một cách đầy đủ. Nhiều chỗ người ta chỉ nói đến đọc như nói đến

Đọc một cách có ý thức cũng sẽ tác động tích cực tới trình độ ngôn ngữ
cũng như tư duy của người đọc, việc dạy đọc sẽ giúp học sinh hiểu biết hơn, bồi
dưỡng ở các em lòng yêu cái thiện và cái đẹp, dạy cho các em biết suy nghĩ một
cách logic cũng như biết tư duy có hình ảnh. Như vậy đọc có một ý nghĩa to lớn
còn vì nó bao gồm các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển.
2. Nhiệm vụ của dạy đọc ở tiểu học
Những điều vừa nêu trên khẳng định sự cần thiết của việc hình thành và
phát triển một cách có hệ thống và có kế hoạch năng lực đọc cho học sinh. Tập
đọc với tư cách là một phân môn của Tiếng Việt ở tiểu học có nhiệm vụ đáp ứng
yêu cầu này – hình thành và phát triển năng lực đọc cho học sinh.
Phân môn học vần cũng thực hiện nhiệm vụ dạy đọc nhưng mới dạy đọc
ở mức độ sơ bộ nhằm giúp học sinh sử dụng bộ mã chữ âm. Việc thông hiểu văn
bản chỉ đặt ra ở mức độ thấp và chưa có hình thức chuyển thẳng từ chữ sang
nghĩa (đọc thầm). Như vậy, tập đọc với tư cách là một phân môn tiếng Việt tiếp
tục những thành tựu dạy học mà học cần đạt được, nâng lên một mức đầy đủ
hoàn chỉnh hơn.
Tập đọc là một phân môn thực hành nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là
hình thành năng lực đọc cho học sinh. Năng lực đọc được tạo nên từ bốn kỹ
năng cũng là bốn yêu cầu về chất lượng của “đọc”: đọc đúng, đọc nhanh (đọc
lưu loát, trôi chảy), đọc có ý thức (thông hiểu được nội dung những điều mình
đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc diễn cảm. Bốn kỹ năng này được hình thành
trong 2 hình thức đọc: đọc thành tiếng và đọc thầm. Chúng được rèn luyện đồng
thời và hỗ trợ lẫn nhau. Sự hoàn thiện một trong những kỹ năng này sẽ có tác
động tích cực đến những kỹ năng khác. Ví dụ, đọc đúng là tiền đề của đọc nhanh
cũng như cho phép thông hiểu nội dung văn bản. Ngược lại, nếu không hiểu
điều mình đang đọc thì không thể đọc nhanh và diễn cảm được. Nhiều khi khó
mà nói được rạch ròi kỹ năng nào làm cơ sở cho kỹ năng nào, nhờ đọc đúng mà
Người thực hiện: Trần Thị Quýt Trường tiểu học Thị Trấn Cửa Việt
- 7 -
Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp luyện đọc đúng cho học

giữa những mặt riêng lẻ này của quá trình đọc, đó là điểm phân tích biết người
mới biết đọc và người đọc thành thạo. Càng có khả năng tổng hợp các mặt trên bao
nhiêu thì việc đọc càng hoàn thiện, càng chính xác, càng biểu cảm bấy nhiêu.
- Dễ dàng nhận thấy rằng thuật ngữ "đọc" được sử dụng trong nhiều
nghĩa : theo nghĩa hẹp, việc hình thành kỹ năng đọc trùng với nắm kỹ thuật đọc
(tức là việc chuyển dạng thức chữ viết của từ thành âm thanh), theo nghĩa rộng,
Người thực hiện: Trần Thị Quýt Trường tiểu học Thị Trấn Cửa Việt
- 8 -
Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp luyện đọc đúng cho học
sinh lớp Một trong các tiết tập đọc”
đọc được hiểu là kỹ thuật đọc của những từ riêng lẻ mà cả câu, cả bài). ý nghĩa
hai mặt của thuật ngữ đọc được ghi nhận trong các tài liệu tâm lý học và phương
pháp dạy học. Từ đây chúng ta sẽ hiểu đọc với nghĩa thứ hai - đọc được xem
như là một hoạt động lời nói trong đó có các thành tố:
1. Tiếp nhận dạng thức chữ viết của từ
2. Chuyển dạng thức chữ viết thành âm thanh, nghĩa là phát âm các từ
theo từng chữ cái (đánh vần) hay là đọc thành từng tiếng tuỳ thuộc vào trình độ
nắm kỹ thuật đọc.
3. Thông hiểu những gì được đọc (từ, cụm từ, câu, bài) kỹ năng đọc là
một kỹ năng phức tạp, đòi hỏi một quá trình luyện lâu dài. chia việc hình thành
kỹ năng này ra làm 3 giai đoạn : phân tích tổng hợp (còn gọi là giai đoạn phát
sinh, hình thành một cấu trúc chỉnh thể của hành động) và giai đoạn tự động
hoá. Giai đoạn dạy học vần là sự phân tích các chữ cái và đọc từng tiếng theo
các âm. Giai đoạn tổng hợp thì đọc thành cả từ trọn vẹn, trong đó có sự tiếp
nhận từ bằng thị giác và phát âm hầu như trùng với nhận thức ý nghĩa. Tiếp
theo sự thông hiểu ý nghĩa của "từ" trong cụm từ hoặc câu đi trước sự phát âm,
tức là đọc được thực hiện trong sự đoán các nghĩa. Bước sang lớp 2, lớp 3 học
sinh bắt đầu đọc tổng hợp. Trong những năm học cuối cấp, đọc càng ngày càng
tự động hoá, nghĩa là người đọc ngày càng ít quan tâm đến chính quá trình đọc
mà chú ý nhiều đến việc chiếm lĩnh văn hoá (bài khoá), nội dung của sự kiện,

nhiều ý kiến khác nhau. Nó liên quan đến nhiều vấn đề khác nhau như chuẩn
hoá ngôn ngữ, giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt, mục đích của việc xây dựng
chính âm.
b. Vấn đề ngữ điệu của Tiếng Việt
Theo nghĩa hẹp, ngữ điệu là sự thay đổi giọng nói, giọng đọc, là sự lên
cao hay hạ thấp giọng đọc, giọng nói. Ngữ điệu là một trong những thành phần
của ngôn điệu. Ngữ điệu là yếu tố gắn chặt với lời nói, là yếu tố tham gia tạo
thành lời nói.
Mỗi ngôn ngữ có một ngữ điệu riêng. Ngữ điệu tiếng Việt, như các ngôn
ngữ có thanh điệu khác, chủ yếu được biểu hiện ở sự lên giọng và xuống giọng
(cao độ), sự nhấn giọng (cường độ), sự ngừng giọng (trường độ) và sự chuyển
giọng (phối hợp cả trường độ và cường độ).
Ngữ điệu là một hiện tượng phức tạp có thể tách ra thành các yếu tố cơ
bản có quan hệ với nhau: chỗ nghỉ (ngưng giọng hay ngắt giọng) trọng âm, âm
điệu, âm nhịp và âm sắc. Dạy đọc đúng ngữ điệu là dạy học sinh biết làm chủ
những yếu tố này.
c. Cơ sở lý thuyết cơ bản, phong cách học và văn học của dạy đọc
Việc dạy đọc không thể dựa trên lý thuyết về văn bản những tiêu chuẩn
để phân tích, đánh giá một văn bản (ở đây muốn nói đến những bài đọc ở tiểu
học) nói chung cũng như lý thuyết để phân tích, đánh giá các tác phẩm văn
chương nói riêng. Việc hình thành kỹ năng đọc đúng, đọc diễn cảm và đọc hiểu
cho học sinh phải dựa trên những tiêu chuẩn đánh giá một văn bản tốt: tính
chính xác, tính đúng đắn và tính thẩm mỹ, dựa trên những đặc điểm vè các kiểu
ngôn ngữ, các phong cách chức năng, các thể loại văn bản, các đặc điểm về loại
thể của tác phẩm văn chương dùng làm ngữ liệu đọc ở tiểu học. Ví dụ, cách đọc
và khai thác để hiểu nội dung một bài thơ, một đoạn tả cảnh, một câu tục ngữ,
một truyền thuyết, một bài sử, một bài có tính chất khoa học thưởng thức… là
Người thực hiện: Trần Thị Quýt Trường tiểu học Thị Trấn Cửa Việt
- 10 -
Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp luyện đọc đúng cho học

các em đọc to chừng nào bạn ở xa nhất trong lớp nghe thấy mới thôi. Giáo viên
nên cho học sinh đứng trên bảng để đối diện với những người nghe. Tư thế đứng
đọc phải vừa đàng hoàng, vừa thoải mái, sách phải được mở rộng và cầm bằng
hai tay.Giáo viên làm mẫu, đây là đối tượng HS vùng nông thôn , GV cần nắm
bắt sự khéo léo , tâm lý của HS, giúp HS mạnh dạn, tự tin trong lúc đọc.
2. Luyện đọc đúng
a. Đọc đúng là sự tái hiện mặt âm thanh của bài đọc một cách chính xác,
không có lỗi. Đọc đúng là đọc không thừa, không sót từng âm, vần, tiếng. Đọc
Người thực hiện: Trần Thị Quýt Trường tiểu học Thị Trấn Cửa Việt
- 11 -
Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp luyện đọc đúng cho học
sinh lớp Một trong các tiết tập đọc”
đúng phải thể hiện đúng ngữ âm chuẩn, tức là đọc đúng chính âm. Nói cách khác là
không đọc theo cách phát âm địa phương lệch chuẩn. Đọc đúng bao gồm việc đọc
đúng các âm thanh (đúng các âm vị) ngắt nghỉ hơi đúng chỗ (đọc đúng ngữ điệu).
b. Luyện đọc đúng phải rèn cho học sinh thể hiện chính xác các âm vị
tiếng Việt.Với HS ở Thị Trấn Cửa Việt cần rèn đọc đúng các yếu tố sau:
- Đọc đúng các phụ âm đầu: Ví dụ: có ý thức phân biệt để không đọc:
“dảy dây”, “khoẻ khắn” mà phải đọc là “nhảy dây” ,“khỏe khoắn”, chú ý phân
biệt giữa âm d và âm nh., âm x và âm s như : “chim sẻ” thành “chim xẻ”.v.v…
- Đọc đúng các âm chính: Ví dụ: có ý thức phân biệt để không đọc “iu
tin, quả lịu” mà phải đọc “ưu tiên, quả lựu”.
- Đọc đúng các âm cuối: Ví dụ: có ý thức không đọc: “luông luông” mà
phải đọc “luôn luôn”.
- Đọc đúng bao gồm cả đọc tiết tấu, ngắt hơi, nghỉ hơi, ngữ điều câu. Ngữ
điệu là hiện tượng phức tạp, có thể tách ra thành các yếu tố cơ bản có quan hệ
với nhau: chỗ nghỉ (ngưng giọng hay ngắt giọng), trọng âm, âm điệu, âm nhịp
và âm sắc. Dạy đọc đúng ngữ điệu là dạy cho học sinh làm chủ những yếu tố này.
Đọc đúng ngữ điệu nói chung, ngắt giọng đúng nói riêng vừa là mục đích của dạy
đọc thành tiếng, vừa là phương tiện giúp học sinh chiếm lĩnh nội dung bài đọc.

của phân môn học vần phải đảm nhận), đọc không ê a, ngắc ngứ, không vừa đọc
vừa đánh vần. Về sau tốc độ đọc phải đi song song với việc tiếp nhận có ý thức
bài đọc. Khi đọc cho người khác nghe thì người đọc phải xác định tốc độ đọc
nhanh nhưng để cho người nghe hiểu kịp được. Vì vậy, đọc nhanh không phải là
đọc liến thoắng. Tốc độ chấp nhận được của đọc nhanh khi đọc thành tiếng
trùng với tốc độ của lời nói. Khi đọc thầm thì tốc độ đọc sẽ nhanh hơn nhiều.
b) Biện pháp luyện đọc nhanh
Giáo viên hướng dẫn cho học sinh làm chủ tốc độ đọc bằng cách đọc mẫu
để học sinh đọc theo tốc độ đã định. Đơn vị để đọc nhanh là cụm từ, câu, đoạn,
bài. Giáo viên điều chỉnh tốc độ đọc bằng cách giữ nhịp đọc. Ngoài ra, còn có
biện pháp đọc nối tiếp trên lớp, đọc nhẩm có sự kiểm tra của thầy, của bạn để
điều chỉnh tốc độ. Giáo viên đo tốc độ đọc bằng cách chọn sẵn bài có số tiếng
cho trước và dự tính sẽ đọc trong bao nhiêu phút. Định tốc như thế nào còn phụ
thuộc vào độ khó của bài đọc.
IV-/ MỤC ĐÍCH YÊU CẦU CỦA PHÂN MÔN TẬP ĐỌC Ở LỚP 1
- Môn Tiếng Việt ở trường tiểu học có tác dụng hình thành phát triển
ngôn ngữ cho học sinh. Tiếng Việt gồm nhiều phân môn: Tập đọc, từ ngữ, ngữ
pháp, chính tả, tập làm văn. Phân môn tập đọc có vị trí quan trọng. Dạy tốt phân
môn này đáp ứng một trong 4 kỹ năng sử dụng tiếng Việt. Kỹ năng đọc nhanh,
chính xác, rõ ràng, rành mạch và diễn cảm nhờ đó học sinh có những hiểu biết
văn học ngôn ngữ và ngược lại. Vì vậy đọc đúng, đọc hiểu và đọc diễn cảm là
quá trình có liên quan mật thiết với nhau. Qua việc đọc, học sinh chiếm lĩnh
được những tri thức văn hoá của dân tộc và cũng từ đó giáo dục tình cảm đạo
đức cao đẹp cho học sinh, đồng thời phát huy tính sáng tạo, khả năng tư duy cho
các em.
Đối với học sinh lớp 1, các em bắt đầu chuyển từ giai đoạn học vần sang
tập đọc vì vậy giờ tập đọc ở lớp 1 vận dụng cả phương pháp học vần, cả phương
pháp tập đọc. Yêu cầu của giờ tập đọc lớp 1 là củng cố hệ thống âm vần đã học
(nhất là các vần khó), đọc đúng và trơn tiếng, đọc liền từ, đọc cụm từ và câu: tập
ngắt nghỉ (hơi) đúng chỗ trong câu. Hiểu các từ thông thường, hiểu được ý diễn

phương pháp khác nhau để phù hợ với đặc trưng của phân môn và phù hợp với
nội dung của bài dạy. Quá trình hướng dẫn học sinh rèn đọc trước hết giáo viên
phải sử dụng phương pháp làm mẫu. Nghĩa là giáo viên làm mẫu cho học sinh
nghe, yêu cầu giọng đọc của giáo viên phẩi chuẩn, diễn cảm thể hiện đúng nội
dung, ý nghĩa của bài học để học sinh bắt trước đọc theo. Sau đó giáo viên phải
kết hợp phương pháp luyện đọc theo mẫu, luyện đọc đúng, đọc chính xác các
phụ âm đầu, âm chính, âm cuối, dấu thanh. Đọc đúng tiết tấu, ngắt hơi nghỉ hơi
đúng chỗ, đúng ngữ điệu câu. Từ đó hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm để biểu đạt
đúng ý nghĩa và tình cảm mà tác giả mong muốn và gửi gắm trong bài tập đọc.
- Trong quá trình hướng dẫn học sinh rèn đọc, giáo viên cần đổi mới
phương pháp giảng dạy, luôn lấy học sinh làm trung tâm, giáo viên chỉ là người
hướng dẫn tổ chức, học sinh tự tìm hiểu, tự phát hiện và luyện đọc đạt kết quả tốt.
- Ngoài ra để phần rèn đọc đạt kết quả tốt thì cần phải có các yếu tố khác
như cơ sở vật chất đầy đủ, đồ dùng học tập. Bên cạnh đó giáo viên phải luôn
Người thực hiện: Trần Thị Quýt Trường tiểu học Thị Trấn Cửa Việt
- 14 -
Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp luyện đọc đúng cho học
sinh lớp Một trong các tiết tập đọc”
tích cực tự học, tự rèn luyện để nâng cao trình độ năng lực. Nếu phối hợp các
yếu tố trên sẽ giúp học sinh đọc đúng, diễn cảm tốt. Từ đó thể hiện được nội
dung của bài học, thấy được cái hay, cái đẹp của cuộc sống qua từng bài học.
- Bên cạnh các yếu tố trên trong giảng dạy phân môn tập đọc giáo viên
còn phải chú ý đến một số nguyên tắc sau:
+ Nguyên tắc phát triển lời nói (nguyên tắc thực hành). Chúng ta ai cũng
biết trẻ em không thể lĩnh hội được lời nói nếu chúng không nắm được lời
miệng. Do vậy khi giảng dạy cần phải bảo đảm nguyên tắc này. Điều này được
thể hiện rõ hơn ở phần luyện đọc, ở phần này học sinh được rèn luyện về cách
phát âm, cách nghĩ hơi đúng chỗ, cách đọc đúng ngữ điệu.
+ Để giờ tập đọc đạt kết quả cao thì phải bảo đảm nguyên tắc phát triển tư
duy, phát huy tính tích cực, chủ đạo của học sinh. Do vậy phần luyện đọc giáo

Hiện nay ở tiểu học, về vấn đề rèn đọc cho học sinh, giáo viên sử dụng
phương pháp dạy học cụ thể là: phương pháp làm mẫu, phương pháp luyện đọc
theo mẫu, phương pháp luyện tập củng cố, phương pháp hỏi đáp (đặt câu hỏi để
học sinh tự tìm và phát hiện từ khó, cách ngắt nhịp câu dài…) và phương pháp
đóng vai (đối với văn kể chuyện).
* Thực trạng phần rèn đọc ở lớp 1
Qua giảng dạy , tìm hiểu và dự giờ ở lớp 1 tôi thấy hiện nay nhìn chung
giờ tập đọc được tiến hành theo trình tự sau:
Tiết 1:
1. Kiểm tra bài cũ
Học sinh đọc lại bài của tiết trước và trả lời một số câu hỏi ứng với nội
dung bài học.
2. Bài mới:
a. Giới thiệu bài:
Người thực hiện: Trần Thị Quýt Trường tiểu học Thị Trấn Cửa Việt
- 16 -
Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp luyện đọc đúng cho học
sinh lớp Một trong các tiết tập đọc”
- Giáo viên chép sẵn bài đọc lên bảng lớp
- Giáo viên đọc mẫu, học sinh theo dõi
b. Hướng dẫn học sinh luyện đọc
* Luyện đọc tiếng, từ
Giáo viên kể chân những tiếng từ mà SKG yêu cầu → cá nhân học sinh đọc
* Luyện đọc câu
Giáo viên đưa ra những câu thơ, văn ngắt nhịp, ngắt giọng sẵn và đọc
mẫu sau đó học sinh đọc theo cô. Khi cá nhân học sinh đọc các em khác nghe và
nhận xét bạn.
* Luyện đọc đoạn
Giáo viên nêu bài đọc chia thành……đoạn… sau đó cho học sinh đọc
nối tiếp đoạn cho đến hết bài.

* Giáo viên nhận thức được ý nghĩa của việc tập đọc và nhiệm vụ chính
của dạy đọc.
* Trong giờ tập đọc giáo viên còn làm mẫu nhiều mà chưa để các em tự
phát hiện ra cách đọc.
* Trong giờ tập đọc nhất là khi có người dự giờ thì giáo viên còn ít chú ý
đến học sinh yếu vì đối tượng này thường đọc chậm, làm mất thời gian, làm
giảm tiến độ của tiết dạy.
3. Đối với học sinh
Qua nhiều năm dạy học, tôi nhận thấy ở tiểu học các em thường coi nhẹ
môn tập đọc vì các em cho rằng môn tập đọc là môn dễ không phải suy nghĩ như
môn toán mà chỉ cần đọc trôi chảy, lưu loát là được. Các em cũng chưa để ý đến
việc đọc của mình như thế nào. Một số ít học sinh phát âm sai do thói quen đã
có từ trước hoặc do tiếng địa phương. Khi đọc các em còn hay mắc lỗi ngắt
giọng, các em còn ngắt giọng để lấy hơi một cách tuỳ tiện (còn gọi là ngắt giọng
sinh lý). Học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 1 nói riêng phần lớn các
em chỉ biết bắt chước cô một cách tự nhiên.
Người thực hiện: Trần Thị Quýt Trường tiểu học Thị Trấn Cửa Việt
- 18 -
Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp luyện đọc đúng cho học
sinh lớp Một trong các tiết tập đọc”
Chương III
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC
Từ việc nghiên cứu cơ sở thực tiễn và cơ sở lý luận của việc dạy đọc là
nhận thấy nếu dạy như đại trà hiện nay thì chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu
dạy đọc ở tiểu học. Do vậy dể khắc phục những hạn chế, phát huy những ưu
điểm hiện có ở thực tế. Tôi xin mạnh dạn đưa ra một số biện pháp hướng dẫn
học sinh rèn đọc đúng để nâng cao hiệu quả của giờ tập đọc ở lớp 1 nói riêng và
ở tiểu học nói chung. Đó là:
1. Đọc mẫu:
- Bài đọc mẫu của giáo viên chính là cái đích mẫu hình thành kỹ năng đọc

Sách giáo khoa chỉ yêu cầu luyện đọc các từ sau
“ Hoa lan, lá dày, lấp ló”
Khi dạy, dựa vào tình hình đọc của lớp ngoài những từ trên tôi đã tìm
thêm một số từ ngữ khác cần luyện đọc đúng đó là các từ ngữ: “xanh thẫm, nụ
hoa, cánh xoè ra duyên dáng, ngan ngát, toả khắp vườn, khắp nhà…” Sở dĩ tôi đã
lựa chọn thêm những từ ngữ này bởi vì thực tế ở lớp tôi dạy vần còn một số ít em
đọc chưa tốt, các em hay nhầm lẫn vần, phụ âm đầu và dấu thanh. Cụ thể như:
Từ Học sinh đọc nhầm
Xanh thẫm Sân thấm
Nụ hoa Nụ hao
Cánh xoè ra duyên dáng Cánh xèo ra duyên dáng
Ngan ngát Ngan ngác
Toả khắp vườn, khắp nhà Toả khắc vườn, khắc nhà
Giáo viên cũng nên để cho học sinh tự nêu những từ mà các em cảm thấy
khó đọc trong khi phát âm.
Thí dụ: Bài “Chú công”
SGK chỉ yêu cầu luyện đọc từ “nâu gạch, rẻ quạt, rực rỡ, lóng lánh”
nhưng các em học sinh lớp tôi đã nêu ra được 2 từ mà các em cho là khó đọc đó
là: “màu sắc, xoè tròn” vì khi đọc dễ bị lẫn “màu sắc” với “màu xắc”, “xoè
tròn” với “xèo tòn”
Khi cho các em luyện đọc từ ngữ, giáo viên nên kết hợp phân tích tiếng
để giúp học sinh nhớ lại những âm vần đã học. Tuy nhiên chúng ta cần tập trung
gọi những học sinh đọc còn yếu, song để giúp những em này đọc được đúng thì
việc gọi một số em giỏi đọc thật to, thật chính xác là một việc làm không thể
thiếu bởi vì các êm yếu sẽ bắt chước các bạn để đọc và như vậy các em sẽ có ý
thức tự sửa hơn. Sau đó cả lớp sẽ đồng thanh những từ ngữ này. Cần tăng cường
cho các em nhận xét nhau đọc, đúng hay say, nếu sai thì ở đâu, các em có thể tự
sửa lại cho bạn. Nếu học sinh không làm được việc đó, giáo viên phải kịp thời
uốn nắn sửa sai ngay cho các em. Nhất thiết phải có khen chê kịp thời.
Người thực hiện: Trần Thị Quýt Trường tiểu học Thị Trấn Cửa Việt

thể thiếu được đối với giáo viên và học sinh đó là ngắt nhịp câu thơ. Thực tế cho
thấy học sinh mắc lỗi ngắt nhịp là do không tính đến nghĩa chỉ đọc theo áp lực
của nhạc thơ. Học sinh tìm được trong bài có những dấu câu thì ngắt nhịp ra sao.
Do vậy khi dạy những bài đọc thơ ở giai đoạn đầu tôi thường chép lên bảng các
câu thơ cần chú ý ngắt giọng rồi hướng dẫn
Thí dụ: Bài “Tặng Cháu”
Vở này / ta tặng cháu yêu ta
Người thực hiện: Trần Thị Quýt Trường tiểu học Thị Trấn Cửa Việt
- 21 -
Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp luyện đọc đúng cho học
sinh lớp Một trong các tiết tập đọc”
Tỏ chút lòng yêu cháu / gọi là
Mong cháu / ra công mà học tập
Mai sau / cháu giúp nước non nhà
Học sinh sẽ được luyện đọc từng câu rồi đọc nối tiếp nhau cho đến hết
bài. Giáo viên có thể cho các em dùng ký hiệu đánh dấu vào sách để khi đọc
không bị quên.
Đến giai đoạn sau (khoảng từ giữa học kỳ II trở đi) tôi đã để học sinh
nhìn vào sách và nêu cách ngắt giọng của mình ở từng câu thơ (vì những bài thơ
của lớp 1 thường là ngắn nên công việc này cũng không chiếm quá nhiều thời
gian trong tiết dạy). Nếu học sinh nói đúng giáo viên công nhân ngay và cho các
em đánh dấu luôn vào sách. Nếu học sinh nói sai giáo viên sửa lại cho học sinh.
Thí dụ 1: Bài “Mẹ và cô”
Học sinh thường ngắt nhịp như sau:
Buổi sáng / bé chào mẹ
Chạy tới ôm / cổ cô
Buổi chiều / bé / chào cô
Rồi sào / vào lòng mẹ
Mặt trời / mọc / rồi lặn
Trên đôi chân / lon ton

“Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô”
Hay
“Tiếng dừa làm dịu nắng trưa
Gọi đàn gió đến cùng dừa múa reo
Trời trong đầy tiếng rì rào
Đàn cò đánh nhịp bay vào bay ra”
c. Đọc đúng: dạng văn xuôi
Tương tự như ở thơ, giáo viên cần chú trong rèn cho các em biết ngắt,
nghỉ hơi cho đúng. Cần phải dựa vào nghĩa và các dấu câu để ngắt hơi cho đúng.
Khi đọc không được tách một từ ra làm hai, tức là không ngắt hơi trong một từ.
Việc ngắt hơi phải phù hợp với các dấu câu, nghĩ ít ở dấu phẩy, nghỉ lâu hơn ở
dấu chấm. Đối với những câu văn dài cần hướng dẫn học sinh ngắt hơi cho phù
hợp. Cụ thể tôi cho học sinh tự tìm những câu văn dài đó hoặc do chính giáo
viên đưa ra. Sau đó yêu cầu học sinh xác định cách ngắt giọng, gọi học sinh
nhận xét đúng sai. Đối với học sinh lớp 1 giáo viên cũng chưa nên hỏi nhiều quá
về việc tại sao các em lại ngắt giọng như vậy mà nếu thấy đúng thì giáo viên
công nhận ngay, còn nếu sai thì sửa cho các em và giải thích để các em thấy rõ
Người thực hiện: Trần Thị Quýt Trường tiểu học Thị Trấn Cửa Việt
- 23 -
Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp luyện đọc đúng cho học
sinh lớp Một trong các tiết tập đọc”
hơn. Sau khi xác định ngắt giọng ở mỗi câu văn dài bao giờ giáo viên cũng phải
nhấn mạnh cho các em thấy tầm quan trọng trong việc ngắt, nghỉ đúng ở các câu
văn, đoạn văn. Muốn xác định cách ngắt giọng đúng thì phải dựa vào nghĩa vào
các tiếng, từ, dấu câu.
Thí dụ: Bài “Trường em”
Câu dài trong bài cần hướng dẫn cách ngắt nghỉ hơi là:
“Ở trường / có cô giáo hiền như mẹ / có nhiều bè bạn thân thiết như

thì giáo viên phải tổ chức đọc theo nhiều hình thức khác nhau như đọc cá nhân,
đọc theo nhóm, theo tổ hoặc đồng thanh. Những hình thức này còn giúp giáo
viên kiểm soát được khả năng đọc của toàn thể học sinh trong lớp.
- Luyện đọc diễn cảm sẽ được thể hiện trong tiết 2, trong phạm vi đề tài
này tôi chỉ đề cập đến vấn đề đọc đúng. Vì vậy mà cách hướng dẫn đọc diễn
cảm sẽ không được nêu lên trong đề tài.
d. Luyện đọc củng cố và nâng cao
Để giúp học sinh đọc bài một cách chắc chắn, giáo viên cần dành thời
gian để luyện đọc củng cố và nâng cao. Trong phần này giáo viên cho học sinh
luyện đọc cá nhân – giáo viên cần chú ý tới các em đọc yếu để em đó được tham
gia đọc – giáo viên cần động viên khích lệ kịp thời. Trong quá trình học sinh đọc
giáo viên quan tâm theo dõi, uốn nắn, sửa sai cho các em. Đối với những bài đọc
có lời đối thoại nên cho các em đọc theo lối phân vai. Đối với bài thơ cần cho
các em đọc nhiều. Một tiết học tập đọc chỉ có 35 – 40 phút vì vậy để đảm bảo
thời gian và chất lượng giờ học, học sinh phải đọc trước văn bản ở nhà. Giáo
viên cần có sự chuẩn bị chu đáo, phải đưa ra các tình huống có thể xảy ra khi
hướng dẫn học sinh đọc cho đúng, cho hay. Muốn vậy giáo viên phải luôn trau
dồi kiến thức, luôn thay đổi phương pháp dạy học cho phù hợp với sự phát triển
của xã hội. Trong giờ học, giáo viên chỉ là người hướng dẫn, tổ chức để học sinh
tự tìm ra kiến thức.
Người thực hiện: Trần Thị Quýt Trường tiểu học Thị Trấn Cửa Việt
- 25 -


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status