Một số biện pháp rèn chữ viết cho học sinh lớp 4
Tác giả: Trần Thị Hoài Nam
Giáo viên trờng Tiểu học Diễn Kỷ
Tôi đã tiến hành khảo sát kỹ năng viết chính tả của HS lớp 4 ở trờng tôi qua giờ luyện viết,
giờ chính tả và qua các bài thi viết "Văn hay chữ tốt". Sự đánh giá về kỹ năng này của học sinh đợc
dựa trên hai tiêu chí:
1. Tốc độ viết:
Hầu hết HS đều viết đúng tốc độ khoảng 90 chữ/15 phút, nhng vẫn còn một số em tốc độ
viết cha đạt vì nếu đạt đợc tốc độ viết thì những em đó viết không đúng với mẫu chữ quy định.
2. Chất lợng bài viết:
Kết quả thu đợc cho thấy tình trạng mắc lỗi chính tả của HS còn khá phổ biến:
+ Lỗi về cách trình bày: Rất nhiều em trình bày một bài viết không đúng với quy tắc chính tả,
viết hoa tùy tiện,
Ví dụ: HS trình bày một bài viết mà giữa tiêu đề của bài và bài viết với trang giấy không cân
đối, các chữ cái đầu của đầu bài, của một đoạn văn hay một câu văn HS cha có thói quen viết hoa
hoặc cha hiểu đúng về cách trình bày một đoạn văn, trình bày câu văn nằm sau dấu gạch ngang,
+ Lỗi về phụ âm: HS viết sai chính tả thờng xẩy ra với những từ hoặc giống nhau về phát âm
nhng khác nhau về truyền thống chính tả (nh "da" trong "da thịt" và "gia" trong "gia đình") hoặc do
quy định chung về chính tả mà HS nắm không vững nên thờng viết lẫn lộn giữa c/k/q hay giữa
ng/ngh, HS cha phân biệt rõ với trờng hợp nào thì viết "c" trờng hợp nào thì viết "k" hoặc "q" hay
"ng" thì đứng trớc đợc những âm nào và "ngh" thì chỉ dùng khi đi kèm với âm nào.
+ Lỗi về vần: Lỗi về âm đệm và âm đôi HS mắc nhiều hơn.
Ví dụ: hào hùng (hòa hùng), loa qua (loa quoa), sức khỏe (sức khẻo), cuốn đi (quấn đi), cua
bể (quơ bể),
Lỗi về âm cuối chủ yếu mắc phải ở những HS nói ngọng.
Ví dụ: gió bấc => gió bất, nhiệt tình => nhiệc tình, quyển sách => quyển sắt, quả chanh =>
quả chăn,
+ Lỗi về thanh điệu: Loại lỗi này HS miền Trung thờng mắc phải nhiều, song với HS Diễn Kỷ
thì ít mắc hơn vì các em phát âm giữa thanh hỏi, thanh ngã và thanh nặng tơng đối chuẩn.
Đặc biệt với những tiếng khó nh: ngoằn ngoèo, quanh quẩn, nghí ngoáy, giàn giuạ, HS
còn mắc lỗi nhiều. Ngoài ra, còn một số trờng hợp phát âm và viết lẫn lộn nh " ay, ây" (thày, thầy)
vui "Vị thuốc quý" để học sinh có điều kiện luyện viết vần "uốc" hoặc "uốt" vì HS thờng mắc lỗi này.
Ngoài việc chuẩn bị bài theo nội dung bài học của SGK, GV còn phải tìm hiểu tham khảo
thêm một số tài liệu khác để biết thêm về :
+ Nội dung, tác giả, tác phẩm của bài viết.
+ Nội dung của từng đoạn, bài viết hoặc nội dung của đoạn, bài trong bài tập chính tả để
gắn liền vời từng chủ điểm đang học, làm phong phú thêm phần ngữ liệu cho bài chính tả, mở rộng
tầm hiểu biết của trẻ em.
Ví dụ: Kim tự tháp Ai Cập; Cha đẻ của chiếc lốp xe đạp; Họa sỹ Tô Ngọc Vân; Ai đã nghĩ ra
các chữ số: 1, 2, 3, 4, (phần bài viết).
Hoặc "Một ngày và một năm; Đánh dấu mạn thuyền; Chú dế sau lò sởi; Sa mạc đỏ; Thế giới
dới nớc; (phần bài tập).
Việc tìm hiểu kỹ về nội dung bài viết, bài tập không ít giáo viên rất qua loa nên hiệu quả giáo
dục của bài học không cao.
* Tiếp đến là tổ chức các hình thức dạy - học trong giờ chính tả (đây là khâu quan trọng nhất
để giờ dạy có hiệu quả cao)
- Việc đọc bài chính tả của GV (Chính tả nghe- viết) và đọc thầm lại bài chính tả của HS
(Chính tả nhớ- viết) rất quan trọng nhằm tạo điều kiện cho HS chú ý đến những hiện tợng cần viết
đúng.
Việc luyện viết những từ ngữ dễ viết sai - đây là việc làm không kém phần quan trọng nhằm
giúp các em tránh đợc những lỗi hay mắc phải khi viết bài. ở phần này tôi đã sử dụng nhiều biện
pháp (thi đua, đố nhau, tiếp sức vào nháp, vào bảng con và bảng lớp học,). Sau mỗi lần HS
luyện viết từ ngữ dễ viết sai các em có thể tự đánh giá đợc bài mình, đánh giá đợc bài của bạn và
kịp sửa chữa cho bản thân.
- Việc nhắc nhở HS t thế ngồi viết, cách trình bày bài chính tả không phải giờ nào cũng là
việc làm của GV mà cũng có nhiều giờ tôi để các em tự nhắc trớc lớp, có nh thế HS sẽ nhớ đợc lâu
hơn. Với mỗi bài viết tôi đều ra biểu điểm để HS tự đánh giá và tự điều chỉnh bản thân theo các yêu
cầu sau: điểm chữ viết (6 điểm), điểm trình trình bày (2 điểm), điểm t thế thao tác viết (2 điểm).
- Phần luyện viết: Đây là phần quan trọng nhất, bài viết của HS ít mắc lỗi chính tả, đúng tốc
độ viết là nhờ sự phát âm (khi đọc - viết); tốc độ và kỹ thuật đọc từng câu hay từng cụm từ của GV
cho HS viết và phần luyện viết tiếng khó của HS.
các em, các nhóm thi làm bài nhanh trên bảng phụ hoặc giấy khổ to.
Cũng với nội dung bài tập chơng trình SGK tôi có thể chuyển thành các dạng khác nh: bài
tập trắc nghiệm, bài tập trò chơi thực hành để gây cho HS sự hứng thú hơn và tất cả các em đều
làm việc đều đợc trình bày, đợc đọc lên thành tiếng kết quả bài làm của mình của nhóm mình trớc
lớp để GV và các bạn kiểm tra, đánh giá.
Tôi đã tổ chức nhiều hoạt động lôi cuốn sự tham gia của nhiều học sinh nh thi đua giữa các
nhóm, cá nhân, tổ chức trò chơi và thờng xuyên thay đổi cách tổ chức hoạt động để kích thích sự
hứng thú hoạt động của HS. Với dạng bài tập rèn kỹ năng nói chung và bài tập chính tả nói riêng,
tôi cho nhiều HS tham gia hoạt động nếu có nhiều HS lặp lại kết quả đúng càng tốt, làm nh thế HS
càng có ấn tợng sâu hơn về cách viết đúng.
Thờng thì "Trò chơi bài tập thực hành" hoặc "Bài tập trắc nghiệm" chính tả tôi thờng đa ra
cuối giờ học (có thể vào lúc hớng dẫn làm bài tập hoặc khi củng cố bài chính tả).
Ví dụ: Cuối giờ học chính tả của tuần 25, bài tập trong SGK chủ yếu là viết đúng vần ên và
ênh . Tôi đã ra hình thức bài tập dới dạng trò chơi (tất nhiên GV phải chuẩn bị sẵn đề bài trên bảng
phụ). Mỗi nhóm thi tìm từ theo yêu cầu và thi đặt câu có từ tìm đợc.
Đề bài: Tìm những từ viết với các tiếng rên- rền,- rênh - rềnh, dên- dền, dênh- dềnh; đặt câu
với từ em vừa tìm đợc.
- HS nối tiếp nhau nêu từ, câu mình tìm đợc để thi đua giữa các nhóm. Từ đó các em nhận
rõ hơn cách viết một số từ có vần ên và ênh.
* Hoặc sau phần hớng dẫn HS chữa bài tập của tuần 27. Tôi đa ra hình thức bài tập dới
dạng trắc nghiệm để kiểm tra lại kiến thức của HS (GV chuẩn bị sẵn trên bảng phụ).
Những từ nào viết sai ?
a. trắng sóa b. say rợu c. sặc mùi
d. sơi cơm e. súi dục g. xánh vai
h. mua sắm i. xua đuổi k. bát xành
Các em thi đua với nhau phát hiện từ sai và nêu cách sửa lại từ đó giúp các em biết lựa
chọn cách sửa sai phù hợp ghi vào sổ tay chính tả để nhớ đợc lâu hơn. Trong chơng trình TV4 phần
chính tả âm, vần có tới 13 kiểu bài tập. Trong đó có 7 kiểu bài tập HS đã làm quen từ các lớp dới
nên dễ dàng hơn. Còn 6 kiểu bài tập lần đầu tiên các em đợc làm quen nên GV có thể đầu t thời
gian hơn, hớng dẫn tỷ mỉ hơn với 6 kiểu bài tập này:
các lỗi và cách sửa từng lỗi vào sổ tay chính tả.
M: lỗi nhầm lẫn s/x
Viết sai (xắp lên xe) / Viết đúng (sắp lên xe)
(TV4 Tập 1 Tr 56)
Với 6 kiểu bài tập mới trên HS lần đầu làm quen nên tôi đã tổ chức dới nhiều hình thức hấp
dẫn nh: thi tìm nhanh, tìm từ ngữ theo kiểu truyền điện, đồng thời khi chữa bài tôi dừng lại lâu hơn
để cung cấp thêm cho cho HS các M khác để các em có thêm "Vốn" cho những bài viết khác.
Để HS viết chuẩn chữ viết và làm đúng các bài tập chính tả trớc hết GV cần phải viết chuẩn
về mẫu chữ viết hiện hành ngay cả Thứ, ngày; Mục bài ở trên bảng và ngay cả việc chấm, chữa
bài trong vở cho học sinh. GV phải có vở luyện viết (dới dạng các bài chính tả) đợc trình bày khoa
học, chữ đúng mẫu, có cả kiểu chữ viết đứng và kiểu chữ viết nghiêng (của năm học trớc) gắn vào
góc học tập cùng với bài của HS để các em đợc học tập (đặc biệt là cách trình bày trong vở). Tránh
tình trạng chữ của GV viết sai mẫu, HS khó đọc bởi lứa tuổi các em dễ bắt chớc mà khi đã sai
thành lối mòn thì khó sửa. Vì thế, theo tôi việc lựa chọn đội ngũ GV lớp 1 rất quan trọng ít nhất cũng
phải là ngời viết đúng mẫu chữ, thông thạo về quy tắc chính tả và là ngời cẩn thận, tỉ mỉ, tận tâm
với học sinh.
Ngoài ra, GV phải tham khảo các tài liệu : Từ điển chính tả Tiếng Việt; Quy tắc viết chính tả
Tiếng Việt; Bài tập trắc nghiệm; Bài tập trò chơi thực hành Tiếng Viết; Hỏi đáp về dạy Tiếng Việt lớp
4. để có thể giải đáp những thắc mắc cho học sinh trong quá trình học tập. Các em nghe hoặc
đọc những văn bản Tiếng Việt khác (ngoài SGK) thấy có những điều lạ.
Ví dụ: Khi các em đọc trên văn bản "Vay vốn" nhng ngời Nam Bộ lại đọc là "Day dốn" hoặc
tại sao viết : dập dờn hay rập rờn, sum suê hay xum xuê, nhơ bẩn hay dơ bẩn đều đúng ?
Hoặc sự cha thống nhất giữa cách viết hoa tên riêng, viết các từ ngữ phiên âm tiếng nớc
ngoài nh: Đắc Lắc, Đắc lác hay Đắc Lắk; Mô-da; Ka-li
GV phải dựa vào tài liệu đáng tin cậy nh: Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học hay
Quy định tạm thời về viết hoa trong văn bản của Chính phủ và văn phòng Chính phủ để chọn cách
viết cho học sinh phù hợp nhất.
B- Rèn chữ viết trong khi dạy "Luyện chữ" thêm và trong khi
dạy các môn học khác:
qua tôi thấy:
- Tình trạng mắc lỗi trong viết chính tả và viết tất cả các văn bản khác giảm đi một cách
đáng kể. HS không những viết đúng mà còn viết đẹp kể cả hai kiểu chữ: viết đứng, viết nghiêng.
Rất nhiều bài viết không chỉ đạt ở mức độ "Văn hay" mà còn đạt cả về "Chữ tốt". Trên bảng thi đua
của lớp đã có rất nhiều bài thi đạt giải về "Văn hay chữ tốt" do lớp tổ chức. Nhiều em đã đợc nhận
giải "Cây bút vàng" do hội phụ huynh của lớp trao tặng.
- Cách trình bày bài, dùng từ, đặt câu và viết hoa đúng mẫu chữ trong tất cả các môn học
chuẩn xác hơn hẳn. Tình trạng HS không hiểu nghĩa dẫn đến viết sai chính tả không còn nữa, thể
hiện qua bảng thống kê sau:
Số HS dự điều
tra
Số HS thờng
mắc lỗi về âm
đầu
Số HS thờng mắc
lỗi về phần vần
Số HS thờng mắc
lỗi về dấu thanh
Số HS mắc thờng lỗi
về cách trình bày
35 em 1- 2 em 1-2 em 0 em 0 em
Ngoài kết quả đáng kể ở trên, không khí giờ học của phân môn Chính tả sôi nổi hơn: HS biết
nắn nót khi viết bài và hào hứng, cởi mở khi làm bài tập chính tả. HS đã biết nhận ra lỗi sai của
mình, của bạn và tự biết điều chỉnh, đồng thời kiến thức của các em đợc tích lũy thêm qua quyển sổ
tay chính tả của mình.
D- Bài học kinh nghiệm
Để có một bài viết hay ở HS là đã khó nhng để có đợc một bài viết đạt cả văn hay- chữ tốt
đối với HS lại càng khó hơn. Theo tôi, để việc rèn chữ cho HS Tiểu học nói chung và HS lớp 4 nói
riêng đạt hiệu quả cao thì GV cần phải:
1. Viết đúng về mẫu chữ viết hiện hành, có cách phát âm chuẩn và phải nắm chắc kiến