Các biện pháp làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 3 qua phân môn luyện từ và câu1 - Pdf 57

MỤC LỤC
Mục

Nội dung

Trang

Mục lục

1
2

1

Mở đầu

1.1
1.2
1.3
1.4

Lý do chọn đề tài
Mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu

2
3
3
3



Kiến nghị

19

1. Mở đầu
1.1. Lý do chọn đề tài.
Xuất phát từ yêu cầu đổi mới của đất nước, trong những năm qua Đảng, Nhà
nước ta đã đặc biệt quan tâm đến phát triển giáo dục. Một trong những nhiệm vụ cơ
bản của giáo dục đào tạo hiện nay là: hình thành và phát triển nhân cách cho học
1


sinh một cách toàn diện theo mục tiêu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công
nghiệp hóa -hiện đại hóa đất nước.
Mục tiêu quan trọng của chương trình Tiếng Việt tiểu học là dạy cho học sinh
một công cụ để giao tiếp và học tập. Nhưng để sử dụng Tiếng việt như một công cụ
giao tiếp và học tập thì trước hết học sinh phải nắm được vốn từ Tiếng việt. Từ là
đơn vị cơ bản của hệ thống ngôn ngữ, nếu không làm chủ được vốn từ của một
ngôn ngữ thì không thể sử dụng được ngôn ngữ đó để học tập cũng như trong giao
tiếp. [1] Ngoài ra vốn từ ngữ của một người càng giàu bao nhiêu thì khả năng diễn
đạt của người đó càng chính xác và tinh tế bấy nhiêu. Vì vậy, làm giàu vốn từ cho
học sinh là việc làm quan trọng và cần thiết.
Thật vậy, trong quá trình dạy học việc rèn luyện tư duy thích hợp được chú
trọng ở tất cả các môn học. Môn Tiếng việt ở bậc Tiểu học xác định là môn học
công cụ bởi mục tiêu quan trọng của nó. Phân môn Luyện từ và câu lớp 3 có nhiệm
vụ cung cấp cho học sinh vốn từ. Học sinh được lĩnh hội kiến thức thông qua một
hệ thống bài tập. Như vậy sách giáo khoa tạo điều kiện để giáo viên và học sinh
thực hiện phương pháp tích cực hóa hoạt động của người học, trong đó giáo viên
đóng vai trò là người tổ chức hoạt động của học sinh, mỗi học sinh đều được hoạt

giao tiếp hiệu quả và văn hóa hơn. Góp phần nâng cao chất lượng dạy Luyện từ và
câu nói riêng và tác dụng của phân môn Luyện từ và câu nói chung.
Trên đây là những lý do để tôi chọn, nghiên cứu và viết sáng kiến kinh
nghiệm “Các biện pháp làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 3 qua phân môn Luyện
từ và câu”.
1.2. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu nội dung dạy Luyện từ và câu giúp mở rộng, hệ thống vốn từ
của học sinh lớp 3, cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản, rèn cho học
sinh kỹ năng dùng từ đặt câu một cách tốt nhất. Luyện từ và câu có vai trò
hướng dẫn học sinh trong việc nghe, nói, đọc, viết, phát triển ngôn ngữ và trí
tuệ của các em. Trong Tiếng Việt, phân môn Luyện từ và câu làm giàu vốn từ
cho học sinh và phát triển năng lực dùng từ đặt câu của các em.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là: Dạy kiểu bài “Làm giàu vốn từ” qua phân môn
Luyện từ và câu cho học sinh lớp 3A Trường Tiểu học Hà Lĩnh.
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
1.4.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu, lí luận:
Phân tích tổng hợp tài liệu, hệ thống hóa, khái quát hóa một số vấn đề lí luận
có liên quan đến dạy - học phân môn Luyện từ và câu lớp 3.
1.4.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Thông qua các bài dạy, tiết kiểm tra, chữa bài để tìm hiểu những sai sót của
học sinh. Thường xuyên dự giờ đồng nghiệp, rút kinh nghiệm sau mỗi giờ dự để có
những biện pháp dạy học làm giàu vốn từ nhằm giúp học sinh nắm từ tốt hơn, sâu
sắc hơn, hệ thống hơn, vận dụng vào giao tiếp hiệu quả và văn hóa hơn. Góp phần
nâng cao chất lượng dạy Luyện từ và câu.
1.4.3 Phương pháp điều tra, khảo sát, thống kê chất lượng.
1.4.4 Phương pháp luyện tập, thực hành, trò chơi.

2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

xử lý linh hoạt và sáng tạo trong quá trình dạy - học. Đây chính là cơ sở vững chắc
để giúp học sinh lĩnh hội kiến thức một cách tốt nhất, các em biết vận dụng thành
công vốn từ trong học tập và giao tiếp. [4]
1.Tiếng Việt cơ bản & Nâng cao lớp 3 tác giả Trần Đức Niềm-Th.S Lê Thị Nguyên
3.Kiến thức tiếng việt và bài văn mẫu lớp 3- TS Lê Anh Xuân

4.Tiếng Việt nâng cao lớp 3- ( Nhiều tác giả)
5.Tập san giáo dục tiểu học số 6, số 7 năm 2016.

4


2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Năm học 2018 - 2019 tôi được nhà trường phân công trực tiếp giảng dạy lớp
3A với tổng số học sinh là 30 em. Trong đó: Nam: 13 em; Nữ: 17 em
Theo kết quả khảo sát đầu năm học, chất lượng học sinh của lớp 3A như sau:
Tìm từ

Sĩ số
lớp

30

Sử dụng từ

Đúng

Chưa

chủ đề


16

53.3%

14

46.7%

Qua quá trình giảng dạy lớp 3, trong các tiết mở rộng vốn từ cũng như tiết
kiểm tra, tôi thấy học sinh còn nhiều hạn chế như:
- Vốn từ của học sinh đang còn ít, theo mỗi chủ đề đưa ra học sinh chỉ tìm
được 1,2 từ nhiều nhất là 3,5 từ. Cá biệt có em không tìm được từ nào theo chủ
điểm yêu cầu.
- Nhiều học sinh tìm từ bị lạc chủ đề.
Ví dụ: Em hãy tìm các từ ngữ chỉ trẻ em. Có học sinh đã tìm các từ như: bạn
bè, sinh viên, đoàn kết….
Ví dụ: Em hãy tìm các từ ngữ chỉ người trong cộng đồng. Có học sinh đã tìm
các từ như: bệnh viện, bưu điện, nhi đồng….
Ví dụ: Em hãy tìm các sự vật thường thấy ở nông thôn. Có học sinh đã tìm
các từ như: tốt bụng, hiền lành, thật thà,…
- Vốn từ của học sinh còn nghèo nàn nên dẫn đến việc viết câu, đoạn văn của
học sinh chưa sinh động, chưa hay….
Ví dụ: Hôm qua mẹ cho em về quê chơi, em thấy làng quê có rất nhiều cây
cối rất đẹp, nhưng em thích nhất là những chú trâu đang gặm cỏ. Chị ra đồng hái
rau.
- Nhiều học sinh chưa tích cực trong giờ học mở rộng vốn từ.
Từ thực trạng trên tôi thấy nếu không có biện pháp mở rộng vốn từ cho học
sinh thì chất lượng dạy học tiếng việt sẽ không cao. Vốn từ của học sinh đang còn
nghèo nàn, nhiều em tìm từ chưa đúng yêu cầu và có em không tìm được từ. Nhưng

sinh không được thao tác nhiều với từ. Vì thế, trong quá trình dạy học tôi đã sử
dụng phương pháp thảo luận nhóm để mở rộng vốn từ và tạo môi trường giao tiếp
cho học sinh luyện tập sử dụng từ.
+ Cách thực hiện:
Để vận dụng phương pháp thảo luận nhóm vào trong bài tập đạt hiệu quả,
giáo viên phải thực hiện các bước sau:
Bước 1: Chuẩn bị bài trước khi lên lớp..
- Giáo viên chuẩn bị kỹ bài dạy, nghiên cứu kỹ nhiệm vụ của bài dạy. Xác
định bài tập sẽ sử dụng phương pháp thảo luận nhóm.
- Giáo viên thiết kế phiếu bài tập để giao việc cho các nhóm học sinh. Khi
thiết kế phiếu bài tập, giáo viên lưu ý xây dựng thêm các bài tập xây dựng nghĩa
của từ đối với những học sinh chưa hiểu nghĩa. Tùy thuộc vào trình độ nhận thức
của lớp mình, giáo viên thiết kế thêm các bài tập bổ sung để cụ thể hóa yêu cầu của

6


bài tập (đối với học sinh yếu, kém, trung bình) tạo điều kiện cho tất cả học sinh đều
được hoạt động hết khả năng của mình.
- Chuẩn bị các phương tiện dạy học như: phiếu bài tập, bảng để học sinh ghi
kết quả theo thảo luận nhóm…
Bước 2: Sử dụng phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học.
- Giáo viên chia các nhóm học sinh.
Tùy theo đặc điểm của bài tập, giáo viên có thể chia nhóm cho học sinh thảo
luận theo những cách khác nhau như: Chia nhóm theo vị trí chỗ ngồi, chia nhóm
theo hình thức ngẫu nhiên, chia nhóm theo trình độ nhận thức và mức độ nắm vốn
từ của học sinh…Mỗi học sinh được chia nhóm đều có ưu, nhược điểm nhất định,
khi lựa chọn giáo viên phải linh hoạt, thường xuyên thay đổi hình thức để tránh
nhàm chán học sinh.
- Giao nhiệm vụ thảo luận cho học sinh.

PHIẾU HỌC TẬP
Thảo luận nhóm 4, tìm các từ:
a. Tìm từ thường thấy ở nông thôn:………………………………………….
b. Tìm từ thường thấy ở thành thị:…………………………………………...
c. Chỉ các công việc thường thấy ở nông thôn:………………………………
d. Chỉ các công việc thường thấy ở thành thị………………………………...
- Học sinh thảo luận nhóm:
Trong bước này, học sinh thực hiện các yêu cầu của phiếu bài tập, giáo viên
quan sát hướng dẫn và giúp đỡ các nhóm khi cần thiết, đảm bảo mọi nhóm đều thảo
luận sôi nổi, hiệu quả.
- Các nhóm báo cáo kết quả:
Trong thời gian các nhóm báo cáo kết quả, giáo viên tạo điều kiện cho các
nhóm khác nhận xét, bổ sung để đi đến kết quả thảo luận cuối cùng của lớp.
- Giáo viên tổng kết, chốt lại kiến thức cần ghi nhớ sau khi thảo luận nhóm
và tuyên dương những nhóm, cá nhân tiêu biểu, nhắc nhở những nhóm, những cá
nhân chưa tích cực để lần sau các em cố gắng hoạt động hiệu quả hơn.
Phương pháp thảo luận nhóm nhằm hình thành năng lực giao tiếp, kỹ năng
hợp tác, khả năng suy nghĩ độc lập. Với phương pháp này, học sinh còn được học
từ bạn và tất cả học sinh đều được tham gia hoạt động giao tiếp. Tôi đã vận dụng
những ưu điểm của phương pháp dạy học này như một biện pháp làm giàu vốn từ
nhằm mục đích nâng cao hiệu quả mở rộng vốn từ và tạo môi trường giao tiếp cho
học sinh luyện tập sử dụng từ.
2.3.2. Giải pháp 2: Phương pháp trò chơi học tập giúp học sinh mở rộng vốn
từ.
Trò chơi là một hoạt động của con người nhằm mục đích đầu tiên và chủ yếu
là vui chơi, giải trí và thư giãn sau những giờ làm việc căng thẳng. Nhưng qua trò

8



Thái độ, hoạt động trong cộng đồng

……………………………………….

………………………………………...

………………………………………

………………………………………...
(Tiếng việt 3, tập 1, trang 65)

4.Tiếng Việt nâng cao lớp 3- ( Nhiều tác giả)

9


Ví dụ 2: Xếp những từ ngữ sau vào hai nhóm: cây đa, gắn bó, dòng sông,
con đò, nhớ thương, yêu quý, mái đình, thương yêu, ngọn núi, phố phường, tự hào.
(Tiếng việt 3, tập 1, trang 89)
Nhiệm vụ của bào tập này làm nổi bật đặc điểm chung của các từ ngữ trong
hệ thống, từ đó làm cơ sở, làm điểm tựa cho hoạt động ghi nhớ, sắp xếp từ thành hệ
thống trong trí nhớ của học sinh. Vì vậy đối với loại bài tập này, tôi thường sử dụng
trò chơi học tập để khắc sâu kiến thức cho học sinh.
Tên trò chơi: THI TIẾP SỨC.
- Giúp học sinh phân loại, quản lý vốn từ, phát huy óc liên tưởng, so sánh.
- Rèn luyện tác phong nhanh nhẹn, luyện trí thông minh và cách ứng xử
nhanh.
+ Chuẩn bị:
- Bảng phụ hoặc kẻ bảng chính của lớp, trong bảng đó ghi đề bài và các tiêu
chí phân loại từ.

sánh và ghi nhớ.
Ví dụ:
Từ chỉ sự vật ở quê hương

Từ chỉ tình cảm đối với quê hương

Cây đa

gắn bó

Dòng sông

nhớ thương

Con đò

yêu quý

Mái đình

thương yêu

Ngọn núi

bùi ngùi

Phố phường

tự hào


chơi lại cho các bạn khác trong lớp. Học sinh nào nêu đúng và nhiều từ sẽ thắng
cuộc…
Sau trò chơi, giáo viên và học sinh sẽ tuyên dương những học sinh nêu đúng
và nhiều từ.
Ưu điểm là loại trò chơi này là tạo điều kiện cho học sinh nói từ. Nói cách
khác, giúp học sinh hoạt động với nhiều từ hơn để ghi nhớ từ hiệu quả hơn.
Những trò chơi này theo dạng rất đơn giản, giáo viên không phải chuẩn bị,
để tổ chức và không gây ồn ào nhưng lại có tác động tích cực đến việc ghi nhớ từ
ngữ của học sinh. Nếu giáo viên tổ chức tốt hai trò chơi thì ngoài tác dụng củng cố
tốt kiến thức của bài học, Trò chơi còn có tác dụng trở lại với bài học mới để ghi
nhớ kiến thức của bài học. Học sinh phải cố gắng để khi chơi tìm được nhiều từ
nhất. Từ đó, hiệu quả của giờ học được nâng cao, số lượng từ và chất lượng từ sau
mỗi bài học sẽ được chuyển biến rõ rệt.
c. Sử dụng phương pháp trò chơi ô chữ để củng cố và mở rộng thêm vốn từ.
Trò chơi học tập phần lớn được xem là một thủ thuật, biện pháp củng cố kiến
thức mà học sinh vừa học. Đồng thời giúp học sinh tìm hiểu những ô chữ liên quan
đến chủ điểm vừa học qua phần gợi ý giúp học sinh mở rộng thêm được vốn từ cho
mình.
Ví dụ 1:

CHỦ ĐIỂM MĂNG NON

Ô chữ: MĂNG NON
Dựa vào hàng dọc trong ô chữ hãy tìm các từ hàng ngang, mỗi hàng ngang là
là một từ chỉ đức tính tốt của trẻ em.
Gợi ý: Các từ ở hàng ngang số 1,4,6 được ghi trong “5 điều Bác Hồ dạy”.
Nếu học sinh gặp khó khăn khi giải ô chữ, giáo viên có thể gợi ý bằng chữ cái.
1

M

CHỦ ĐIỂM LỄ HỘI [2]

Ô chữ: HỘI VUI
Dựa vào các gợi ý và các chữ cái đã có ở hàng dọc, em hãy tìm tên một số
hội thường được tổ chức trong những lễ hội hoặc những ngày hội lớn.
1. Hội sự có trổ tài những chiếc diều đủ loại.
2. Hội có sự tham gia của các đô vật.
3. Hội được tổ chức trên sông.
4. Hội được tổ chức ở Tây Nguyên.
5. Hội có sự góp công của các chú ngựa.
6. Hội là dịp để các liền anh, liền chị đua tài.
1

H

2



3

I

4

V
5

6


giờ học trầm, không sôi nổi và chất lượng dạy học vốn từ cũng bị hạn chế do lý do
này.
- Trong quá trình dạy mở rộng vốn từ, tôi đã vận dụng phương pháp thi đua
khen thưởng như sau:
+ Trước khi vào bài học hay trước khi tổ chức một trò chơi học tập, giáo viên
nêu tiêu chí thi đua rõ ràng, cụ thể để tạo tâm thế thi đua cho học sinh.
Ví dụ:
* Thi đua xem bạn nào tìm được nhiều từ mới sẽ được cộng nhiều lời khen
vào sổ liên lạc.
* Thi đua xem nhóm nào thảo luận sôi nổi, hoàn thành bài tập đúng và nhanh
sẽ được công nhiều bông hoa (bài làm tốt) cho cả nhóm.
* Thi đua giữa các tổ về mọi mặt: nề nếp, ý thức, hiệu quả thảo luận….
- Hình thức khen thưởng đưa ra phải mang tính cụ thể, chủ yếu về mặt tinh
thần để khuyến khích học: ghi nhiều lời khen, hay một tràng vỗ tay…
- Trong mỗi tiết dạy, giáo viên cần kịp thời khen những cá nhân tiêu biểu
xuất sắc và những cá nhân có tiến bộ vượt bậc trong tiết học. Từ đó học sinh cả lớp
có thể noi gương để phấn đấu, phấn đấu để được cô giáo khen và phấn đấu để
không bị kém bạn bè.
- Tuy nhiên, trong một tiết học, không phải mọi học sinh đều có tinh thần thi
đua để học tốt, vẫn có một số học sinh không chú ý vào bài học. Vì vậy, bên cạnh
14


việc sử dụng biện pháp khen thưởng, giáo viên vẫn phải sử dụng biện pháp nhắc
nhở đối với học sinh không chú ý xây dựng bài. Việc nhắc nhở phải nghiêm khắc
và công minh để các em nhận ra khuyết điểm và quyết tâm sửa chữa để cùng tiến
bộ với các bạn.
Trong giờ mở rộng vốn từ nói riêng và tất cả các giờ học khác nói chung giáo
viên phải luôn tạo được không khí thi đua sôi nổi, hào hứng trong giờ học. Khi học
sinh đạt thành tích, giáo viên cần khen thưởng kịp thời để khuyến khích động viên


15


5.Tập san giáo dục tiểu học số 6, số 7 năm 2016

học của bài trước, làm các bài tập trong sách giáo khoa, chuẩn bị quan sát, tìm từ để
học bài mới,….Giao thêm cho học sinh khá giỏi các nhiệm vụ học tập khó hơn, đòi.
hỏi các em phải có sự cố gắng nhiều hơn.
* Hướng dẫn học sinh cách đọc bài, làm bài và sử dụng thời gian tự học.
Khi học bài: Trước khi học bài, học sinh phải nhớ lại bài giáo viên đã giảng
trên lớp (bài học chủ đề gì? Những từ đã học là từ gì? Nghĩa của từ đó là gì? Sử
dụng từ đó như thế nào?...). Tập trung suy nghĩ để hiểu bài, nhớ lâu từ và nghĩa của
từ trong bài. Tập vận dụng những từ vừa học dưới hình thức: Tìm thêm ví dụ, liên
hệ đối chiếu với các từ trong nhóm và với các từ khác, đặt câu có từ đó, đưa từ vào
trong hoàn cảnh giao tiếp cụ thể trong cuộc sống của mình.
Ví dụ:
Khi học chủ điểm “Thành thị - Nông thôn”, sau khi mở rộng vốn từ theo chủ
điểm, học sinh cần vận dụng các từ đã học vào đặt câu nói về thành thị nơi mình
đang sống. Đồng thời tìm thêm nhiều từ mới nói về sự vật, công việc ở thành thị
cũng như nông thôn mà trên lớp giáo viên chưa đặt ra. Sau đó tập đặt câu hỏi với
các từ đó.
Khi làm bài: Đọc kỹ đề bài, làm bài ra giấy nháp, sửa chữa cho chính xác rồi
mới viết bài vào vở. Nếu gặp phải những từ chưa hiểu rõ nghĩa học sinh phải tự tra
từ điển hoặc hỏi người lớn để hiểu nghĩa.
Trong khi học bài, làm bài, học sinh phải tập thói quen cẩn thận, chắc chắn,
thực hiện đến nơi đến chốn các nhiệm vụ được giao mà bố trí thời gian tự học hợp
lý. Trong buổi tự học, cần giành thời gian để ôn bài vừa học, làm các bài tập, chuẩn
bị cho bài ngày hôm sau.
* Tập cho học sinh thói quen dựa vào sức mình là chính.

phương tiện cần thiết cho việc làm giàu vốn từ như từ điển Tiếng việt, bố trí thời
gian tự học cho hợp lý.
Tóm lại, tăng cường tự học, tự làm giàu vốn từ là một trong những con
đường để nâng cao chất lượng thực hiện nhiệm vụ học tập nói chung và làm giàu
vốn từ nói riêng cho từng học sinh. Đồng thời cũng hình thành và phát triển bước
đầu cho học sinh năng lực tự học.
Như vậy, trong quá trình dạy học mở rộng vốn từ tôi đã áp dụng bốn biện
pháp để làm giàu vốn từ cho học sinh. Các biện pháp này có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau. Để tìm được các từ theo chủ điểm, phát huy khả năng giao tiếp và vốn
sống của học sinh, tôi dùng biện pháp thảo luận nhóm. Để học sinh hứng thú hơn
trong việc học, tôi dùng hình thức thi đua, khen thưởng. Để thay đổi hình thức dạy
học, tôi dùng trò chơi trong giờ học. Đồng thời, không phải khi nào giáo viên cũng
tổ chức thảo luận nhóm hoặc trò chơi học tập, sẽ có thời gian giáo viên phải độc lập
làm bài tập cá nhân nên giáo viên luôn phải nhắc nhở học sinh ý thức tự học và
hướng dẫn học sinh phương pháp tự làm giàu vốn từ.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản
thân, đồng nghiệp và nhà trường.

17


- Nhờ áp dụng nhiều biện pháp nên vốn từ của học sinh lớp 3A ngày càng
phong phú và bền vững, học sinh có thể huy động nhanh từ theo chủ đề khi giáo
viên yêu cầu hoặc khi làm bài kiểm tra.
- Học sinh thích làm bài tập hơn, hào hứng với trò chơi học tập, thảo luận
nhóm sôi nổi, tự mình khám phá ra từ mới, nắm nghĩa từ, sử dụng từ. Vận dụng các
biện pháp làm giàu vốn từ đã đề xuất làm cho lớp học sôi nổi hơn nhiều.
Kết quả thi cuối học kỳ I của lớp 3A (sử dụng biện pháp làm giàu vốn từ cho
học sinh) đạt được như sau:
Tìm từ

TL

SL

TL

29

96.7%

1

3.3%

28

93.3%

2

6.7%

[

Thông qua kết quả của bảng thống kê, ta thấy chất lượng học sinh có sự tiến
bộ rõ rệt. Điều đó chứng tỏ tính đúng đắn và hiệu quả của các biện pháp làm giàu
vốn từ cho học sinh mà tôi đã và đang áp dụng.
Để nâng cao hiệu quả các giờ học Luyện từ và câu lớp 3 đặc biệt là với các
dạng bài “Làm giàu vốn từ” với người giáo viên phải có trách nhiệm cao trong
công tác giảng dạy. Người giáo viên phải tìm ra những biện pháp thích hợp, tác

một phần nhỏ bé vào trong kho tàng kinh nghiệm giảng dạy phân môn Luyện từ và
câu trong môn Tiếng việt lớp 3.
3.2. Kiến nghị:
Giáo viên cần vận dụng nhiều phương pháp dạy học tích cực để nâng cao
hiệu quả dạy học làm giàu vốn từ cho học sinh như: thảo luận nhóm, trò chơi học
tập và biện pháp thi đua khen thưởng.
- Giáo viên phải chú ý tự trau dồi vốn từ cho mình. Đọc tài liệu để có những
hiểu biết sâu sắc về các nhiệm vụ làm giàu vốn từ cho học sinh ở tiểu học.
- Giáo viên phải chú ý hình thành và bồi dưỡng ý thức tự làm giàu vốn từ cho
học sinh.
- Sử dụng nhiều biện pháp làm giàu vốn từ sẽ góp phần nâng cao chất lượng
dạy học vốn từ nói riêng và dạy học Tiếng việt nói chung.
Tuy nhiên, sáng kiến này do tôi viết không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi
rất mong nhận được sự góp ý của các cấp lãnh đạo và đồng nghiệp.
ĐÁNH GIÁ NHẬN XÉT

Hà Lĩnh , ngày 15 tháng 3 năm 2019

CỦA HĐKH CẤP TRƯỜNG

Tôi cam đoan đây là SKKN tự bản thân tôi viết,
………………………………………… không hề sao chép nội dung của người khác
…………………………………………
Người viết
…………………………………………
…………………………………………

Đoàn Thị Thu Huyền

19

(A, B,
hoặc C)

Năm học
đánh giá
xếp loại

C

2004-2005

sinh lớp 3 giải toán có lời

Phòng
GD&ĐT

C

2012-2013

văn.
Một số biện pháp giúp học
sinh lớp 4 giải bài toán tóm
tắt bằng đoạn thẳng

Phòng
GD&ĐT

C


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status