MỤC LỤC
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
CÁC BIỆN PHÁP LÀM GIÀU VỐN TỪ CHO
HỌC SINH LỚP 3 QUA PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU
Người thực hiện: Nguyễn Thị Hồng
Chức vụ:
Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Điện Biên 1
SKKN thuộc lĩnh vực: Tiếng Việt
THANH HÓA NĂM 2018
1
MỤC LỤC
Mục
1
1.1
1.2
1.3
1.4
2
2.1
2.2
4………………………………………………….
Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt
động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà
trường.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Trang
2
2
3
3
3
3
3
4
6
6
8
13
15
16
20
1. PHẦN MỞ ĐẦU
2
1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
cao khả năng lựa chọn và sử dụng từ của học sinh.
Vai trò của việc làm giàu vốn từ, từ thực tế học tập của học sinh và từ
những khó khăn về các biện pháp làm giàu vốn từ, tôi nhận thấy cần phải có một
số biện pháp làm giàu vốn từ cho học sinh để giúp giáo viên thuận lợi hơn trong
quá trình làm giàu vốn từ, giúp học sinh nắm từ tốt hơn, sâu sắc hơn, hệ thống
hơn, vận dụng vào giao tiếp hiệu quả và văn hóa hơn. Góp phần nâng cao chất
lượng dạy Luyện từ và câu nói riêng và tác dụng của phân môn Luyện từ và câu
nói chung.
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế và tầm quan trọng của việc làm giàu
vốn từ cho học sinh tôi chọn, nghiên cứu và viết sáng kiến kinh nghiệm “Các
biện pháp làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 3 qua phân môn Luyện từ và
câu”.
1. 2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
3
Nghiên cứu nội dung dạy Luyện từ và câu giúp mở rộng, hệ thống vốn
từ của học sinh lớp 3, cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản, rèn cho
học sinh kỹ năng dùng từ đặt câu một cách tốt nhất. Luyện từ và câu có vai
trò hướng dẫn học sinh trong việc nghe, nói, đọc, viết, phát triển ngôn ngữ và
trí tuệ của các em. Trong Tiếng Việt, phân môn Luyện từ và câu làm giàu vốn
từ cho học sinh và phát triển năng lực dùng từ đặt câu của các em.
1. 3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Các giải pháp làm giàu vốn từ qua phân môn Luyện từ và câu cho học
sinh lớp 3.
1. 4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.4.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu, lí luận.
1.4.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
1.4.3. Phương pháp điều tra, khảo sát, thống kê chất lượng.
1.4.4. Phương pháp luyện tập, thực hành, trò chơi.
Việc rèn luyện kĩ năng sử dụng Tiếng Việt thông qua tất cả các phân môn
Tập đọc, Chính tả, Tập làm văn, Luyện từ và câu. Qua phân môn Luyện từ và
câu học sinh được mở rộng, hệ thống hoá vốn từ, được trang bị kiến thức sơ giản
về từ, câu, kĩ năng dùng từ đặt câu, sử dụng dấu câu. Nhiều học sinh thích vận
dụng từ ngữ hay để nói, viết...Thế nhưng tư duy các em phát triển chưa hoàn
thiện, các em chưa hiểu nghĩa từ, chưa nắm chắc kiến thức ngữ pháp tiếng Việt.
Vì vậy, việc giúp các em hình thành và phát triển kĩ năng sử dụng Tiếng Việt là
rất quan trọng. Các em nắm được nghĩa của từ, dùng từ đặt câu, viết đoạn văn và
vận dụng để học tốt các phân môn Tiếng Việt và các môn học khác, là cơ sở. nền
tảng cho việc học tập các bậc học trên.
Sử dụng từ, câu tiếng việt giúp học sinh phát triển trí tưởng tượng, năng
lực tư duy: Thông qua các bài Tập đọc, Kể chuyện, Tập làm văn, Luyện từ và
câu...học sinh được rèn luyện và phát triển trí tưởng tượng ngay từ các bài thơ,
bài văn...Các em hiểu tác dụng của cách dùng từ, đặt câu, sử dụng dấu câu để
nói, viết đúng, viết hay. Từ đó, các em có thể trau dồi kĩ năng vận dụng từ ngữ
đưa vào ngữ cảnh phù hợp, sinh động, có thói quen dùng từ đúng, nói viết thành
câu, có ý thức sử dụng tiếng Việt văn hoá trong giao tiếp và thích học Tiếng
Việt.
Giúp học sinh ý thức và thói quen sử dụng Tiếng Việt, văn hóa trong giao
tiếp để trẻ tích luỹ những hiểu biết cần thiết về Tiếng Việt: Quá trình học "Luyện
từ và câu" giúp các em biết sử dụng từ ngữ phù hợp trong giao tiếp hàng ngày
với bạn bè, bố mẹ và mọi người xung quanh. Bồi dưỡng cho các em biết thưởng
thức cái đẹp, biết thể hiện những buồn, vui, yêu, ghét của con người. Từ đó, học
sinh biết phân biệt đẹp, xấu, thiện, ác để hoàn thiện nhân cách cho bản thân.
Theo quan điểm của giáo dục học, tự học là quá trình tự mình hoạt động
lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kỹ năng thực hành không có sự hướng
dẫn trực tiếp của cơ sở giáo dục. Tự học có thể bằng cách đọc tài liệu, sách giáo
khoa, nghe đài, đọc báo, xem truyền hình, thăm bảo tàng, triển lãm… Tự học
- Giáo viên ít sử dụng các phương pháp dạy học tích cực trong quá trình
dạy học làm giàu vốn từ, đặc biệt là trong nhiệm vụ mở rộng vốn từ cho học
sinh. Trong bài dạy, giáo viên chủ yếu sử dụng phương pháp cá nhân làm việc
độc lập, phương pháp vấn đáp để dạy các bài tập mở rộng vốn từ, giáo viên ít
vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào trong giờ học, không tạo được
điều kiện để học sinh có thể hoạt động nhiều hơn với từ, lặp đi lặp lại các thao
tác với từ để có thể nhớ từ một cách bền vững.
2. 2. 2. Thực trạng học của học sinh:
- Vốn từ của học sinh còn nghèo nàn, số lượng từ ngữ học sinh nắm được
trong giờ học chưa cao và không bền vững. Khi huy động vốn từ theo chủ đề,
mỗi học sinh chỉ huy động được khoảng 1-2 từ, nhiều nhất là 4-5 từ. Thậm chí
có học sinh không huy động được một từ ngữ nào.
- Hơn nữa, khả năng giao tiếp của học sinh còn yếu, học sinh diễn đạt
chưa rõ ràng, mạch lạc.
- Nhiều học sinh tìm từ bị lạc chủ đề.
Ví dụ: Em hãy tìm các từ ngữ chỉ trẻ em. Có học sinh đã tìm các từ như:
bạn bè, sinh viên, đoàn kết….
Ví dụ: Em hãy tìm các từ ngữ chỉ người trong cộng đồng. Có học sinh đã
tìm các từ như: bệnh viện, bưu điện, nhi đồng….
Ví dụ: Em hãy tìm các sự vật thường thấy ở nông thôn. Có học sinh đã
tìm các từ như: tốt bụng, hiền lành, thật thà,…
- Vốn từ của học sinh còn nghèo nàn nên dẫn đến việc viết câu, đoạn văn
của học sinh chưa sinh động, chưa hay….
Ví dụ: Hôm qua mẹ cho em về quê chơi, em thấy làng quê có rất nhiều
cây cối rất đẹp, nhưng em thích nhất là những chú trâu đang gặm cỏ. Chị ra
đồng hái rau.
- Nhiều học sinh chưa tích cực trong giờ học mở rộng vốn từ.
Từ thực trạng trên tôi thấy nếu không có biện pháp mở rộng vốn từ cho
học sinh thì vốn từ của học sinh không phong phú, việc dùng từ đặt câu không
đa dạng, thiếu hình ảnh dẫn đến chất lượng dạy học Tiếng Việt sẽ không cao.
- Giáo viên chia các nhóm học sinh.
Tùy theo đặc điểm của bài tập, giáo viên có thể chia nhóm cho học sinh
thảo luận theo những cách khác nhau như: Chia nhóm theo vị trí chỗ ngồi, chia
nhóm theo hình thức ngẫu nhiên, chia nhóm theo trình độ nhận thức và mức độ
nắm vốn từ của học sinh…Mỗi học sinh được chia nhóm đều có ưu, nhược điểm
nhất định, khi lựa chọn giáo viên phải linh hoạt, thường xuyên thay đổi hình
thức để tránh nhàm chán cho học sinh.
- Giao nhiệm vụ thảo luận cho học sinh.
Nhiệm vụ thảo luận nhóm được cụ thể hóa trong phiếu bài tập (hoặc phiếu
giao việc) cho cả nhóm.
Ví dụ 1: Khi hướng dẫn học sinh thực hiện bài 1, mở rộng vốn từ: Thiếu
nhi (TV3- Tập 1- trang 16), ta có thể sử dụng phiếu học tập sau:
PHIẾU THẢO LUẬN
Thảo luận nhóm 4, tìm các từ:
a. Chỉ trẻ em:
…………………………………………………………………………………
7
b. Chỉ tính nết của trẻ em:
…………………………………………………………………………………
c. Chỉ tình cảm hoặc sự chăm sóc của người lớn đối với trẻ em:
………………………………………………………………………………
Ví dụ 2: Đối với bài tập 1, mở rộng vốn từ: Gia đình, Tuần 4 (TV3-Tập 1 –
Trang 33) ta có thể sử dụng phiếu thảo luận sau:
PHIẾU THẢO LUẬN
Thảo luận nhóm 4, tìm các từ chỉ gộp những người thân trong gia đình:
…………………………………………………………………………………
nhóm khác nhận xét, bổ sung để đi đến kết quả thảo luận cuối cùng của lớp.
- Giáo viên tổng kết, chốt lại kiến thức cần ghi nhớ sau khi thảo luận
nhóm và tuyên dương những nhóm, cá nhân tiêu biểu, nhắc nhở những nhóm,
những cá nhân chưa tích cực để lần sau các em cố gắng hoạt động hiệu quả hơn.
Phương pháp thảo luận nhóm nhằm hình thành năng lực giao tiếp, kỹ
năng hợp tác, khả năng suy nghĩ độc lập. Với phương pháp này, học sinh còn
được học từ bạn và tất cả học sinh đều được tham gia hoạt động giao tiếp. Tôi đã
vận dụng những ưu điểm của phương pháp dạy học này như một biện pháp làm
giàu vốn từ nhằm mục đích nâng cao hiệu quả mở rộng vốn từ và tạo môi trường
giao tiếp cho học sinh luyện tập sử dụng từ.
2.3.2 Sử dụng trò chơi học tập giúp học sinh mở rộng vốn từ một cách
chủ động, tích cực, hiệu quả.
Trò chơi là một hoạt động của con người nhằm mục đích đầu tiên và chủ
yếu là vui chơi, giải trí và thư giãn sau những giờ làm việc căng thẳng. Nhưng
qua trò chơi, người chơi có thể rèn luyện các giác quan, tạo cơ hội giao lưu với
mọi người cùng hợp tác với đồng đội trong nhóm, tổ.
Ở bậc Tiểu học, sử dụng trò chơi trong quá trình học tập làm cho việc tiếp
thu trí thức, rèn luyện kỹ năng, củng cố tri thức bớt đi sự khô khan, có thêm sự
sinh động, hấp dẫn. Từ đó hiệu quả học tập của học sinh tăng lên.
Trong giờ mở rộng vốn từ, học sinh phải thực hiện các nhiệm vụ để làm
giàu vốn từ cho mình. Nếu giáo viên chỉ sử dụng một phương pháp cho cả tiết
học thì hiệu quả giờ học không cao, học sinh thụ động, lười suy nghĩ. Sử dụng
trò chơi học tập là phương pháp dạy học tích cực. Từ đó làm thay đổi không khí
trong lớp học, tạo sự thi đua sôi nổi, hào hứng của các đội chơi và sự cổ vũ nhiệt
tình của các bạn trong lớp. Nhờ có trò chơi học tập, học sinh hứng thú hơn với
việc học từ ngữ trong các bài tập mở rộng vốn từ, làm giảm bớt sự khô khan của
bài học, học sinh tiếp thu từ và nghĩa của từ nhanh, phân loại, quản lý vốn từ
đúng, sử dụng từ chính xác, linh hoạt, hợp lý.
Trong quá trình giảng dạy tôi thường sử dụng trò chơi như sau:
a. Sử dụng phương pháp trò chơi trong học tập đối với các bài tập phân
Từ chỉ tình cảm đối với quê hương
Nhiệm vụ của bài tập ở ví dụ này làm nổi bật đặc điểm chung của các từ
ngữ trong hệ thống, từ đó làm cơ sở, làm điểm tựa cho hoạt động ghi nhớ, sắp
xếp từ thành hệ thống trong trí nhớ của học sinh.
Đối đối với loại bài tập này, tôi thường sử dụng trò chơi học tập để khắc
sâu kiến thức cho học sinh, đó là trò chơi: “Trò chơi tiếp sức”
+ Tác dụng của trò chơi :
- Giúp học sinh phân loại, quản lý vốn từ, phát huy óc liên tưởng, so sánh.
- Rèn luyện tác phong nhanh nhẹn, luyện trí thông minh và cách ứng xử
nhanh.
+ Chuẩn bị:
- Bảng phụ hoặc kẻ bảng chính của lớp, trong bảng đó ghi đề bài và các
tiêu chí phân loại từ.
Ví dụ 3: Xếp các từ vào hai nhóm thích hợp.
Nhóm 1:
Từ chỉ sự vật ở quê hương
Từ chỉ tình cảm đối với quê hương
Nhóm 2:
10
Từ chỉ sự vật ở quê hương
Từ chỉ tình cảm đối với quê hương
- Các băng giấy ghi sẵn các từ cần xếp loại.
Ví dụ: cây đa, gắn bó, dòng sông, con đò, nhớ thương, yêu quý, mái đình,
tưởng nhanh đến từ trong trò chơi đã được chơi.
Khi học sinh chơi xong, giáo viên có thể kết hợp với các bài tập để học
sinh tìm hiểu nghĩa của từ, phân biệt sắc thái nghĩa của các từ cùng hệ thống để
khi học sinh sử dụng từ chính xác và tinh tế hơn.
Trò chơi học tập để học sinh tìm ra tri thức mới đa dạng. Giáo viên có thể
sử dụng thêm các trò chơi khác để phù hợp và thay đổi không khí lớp học làm
cho học sinh hứng thú hơn với việc làm giàu vốn từ của mình.
b. Sử dụng trò chơi học tập để củng cố kiến thức và mở rộng vốn từ.
Khi thực hiện xong các nhiệm vụ của bài học, vào cuối tiết học, giáo viên
sẽ củng cố lại nội dung đã học cho học sinh. Hiện nay, ở trường tiểu học ít chú ý
đến khâu này trong bài dạy, điều này cũng ảnh hưởng đến chất lượng vốn từ của
học sinh.
11
Khi dạy mở rộng vốn từ cho học sinh, muốn từ ngữ vừa được cung cấp
tồn tại sâu sắc, bền vững trong trí nhớ của học sinh, giáo viên phải tìm cách để
học sinh được thao tác nhiều với từ, tạo điều kiện cho học sinh nghe, nói, đọc,
viết nhiều với từ, đặc biệt là từ mới. Để củng cố bài học cho học sinh, tôi sử
dụng trò chơi “Ai đúng, ai nhanh”.
+ Mục đích: Giúp học sinh củng cố lại những từ vừa học trong bài mở
rộng vốn từ.
+ Cách tiến hành:
- Tổ chức trò chơi vào cuối tiết học.
- Một số học sinh đứng tại vị trí của mình, lần lượt nêu các từ đã học
trong bài. Giáo viên và các học sinh khác sẽ là trọng tài, khi học sinh nêu đúng
một từ, cả lớp đồng thanh nói “đúng” và học sinh được nêu tiếp từ khác. Nếu
học sinh nói chưa đúng thì cả lớp nói “sai” và học sinh đó không được chơi nữa,
nhường quyền chơi lại cho các bạn khác trong lớp. Học sinh nào nêu đúng và
liên quan đến chủ điểm vừa học qua phần gợi ý giúp học sinh mở rộng thêm
được vốn từ cho mình. Tôi sử dụng trò chơi: “Ô chữ kì diệu”
+ Mục đích: Củng cố, hệ thống vốn từ cho học sinh sau khi học chủ điểm
“MĂNG NON”
+ Cách tiến hành:
- Giáo viên giới thiệu trò chơi, giới thiệu ô chữ.
- Trò chơi với 2, 3 đội (tuỳ vào việc bố trí chỗ ngồi của từng lớp), mỗi đội
có thể là 1 tổ học sinh hay 1 dãy bàn.
- Sau khi xuất hiện gợi ý cho mỗi từ hàng ngang, các đội sẽ giơ tay dành
quyền trả lời.
- Trả lời đúng mỗi từ hàng ngang sẽ được thưởng 3 ngôi sao may mắn
(hoặc 3 bông hoa chăm học…)
- Đội nào dành được nhiều ngôi sao nhất đội đó sẽ chiến thắng.
+ Nội dung ô chữ như sau:
Dựa vào hàng dọc trong ô chữ hãy tìm các từ hàng ngang, mỗi hàng ngang là
là một từ chỉ đức tính tốt của trẻ em.
Gợi ý:
- Từ hàng ngang số 1: Gồm 8 chữ cái, một đức tính tốt của trẻ em được ghi
trong “5 điều Bác Hồ dạy”.
- Từ hàng ngang số 2: Gồm 7 chữ cái, từ cùng nghĩa với “cần cù”
- Từ hàng ngang số 3: Gồm 9 chữ cái, từ trái nghĩa với “lười nhác”
- Từ hàng ngang số 4: Gồm 7 chữ cái, một đức tính được ghi trong “5 điều
Bác Hồ dạy”
- Từ hàng ngang số 5: Gồm 5 chữ cái, người ta thường nói: “……bù khả
năng”
- Từ hàng ngang số 6: Gồm 7 chữ cái, có đức tính này mỗi tập thể sẽ tạo
nên sức mạnh.
- Từ hàng ngang số 7: Gồm 10 chữ cái, đức tính tốt, dễ bảo, biết nghe lời
4. Hội được tổ chức ở Tây Nguyên.
5. Hội có sự góp công của các chú ngựa.
6. Hội là dịp để các liền anh, liền chị đua tài.
1
2
3
4
5
6
H
Ộ
I
V
U
I
Đáp án: Các hội được nhắc đến trong ô chữ lần lượt là: thả diều, hội vật,
bơi trải, đua voi, đua ngựa, hội lim.
Ưu điểm là loại trò chơi này là tạo điều kiện cho học sinh nói từ. Nói cách
khác, giúp học sinh hoạt động với nhiều từ hơn để ghi nhớ từ hiệu quả hơn nhằm
phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh.
Trò chơi rất hấp dẫn đối với học sinh. Tuy nhiên, giáo viên không nên lạm
dụng trò chơi học tập, biến cả tiết học thành tiết chơi gây nhàm chán đối với học
sinh. Giáo viên cần chuẩn bị chu đáo, chặt chẽ về điều kiện vật chất và cách thức
thể lệ chơi. Trong lúc chơi, giáo viên cần hướng dẫn, động viên học sinh hoàn
thành tốt bài tập tạo sự hưng phấn, thích thú trong tiết học. Tổ chức trò chơi
trong giờ mở rộng vốn từ chịu sự chi phối của nhiều yếu tố: thời gian ngắn, nội
dung kiến thức thay đổi theo từng bài học…Vì vậy, tổ chức trò chơi phải linh
hoạt, khéo léo, không làm ảnh hưởng đến thời gian và đảm bảo chất lượng dạy
Khi học chủ điểm “Thành thị - Nông thôn”, sau khi mở rộng vốn từ theo
chủ điểm, học sinh cần vận dụng các từ đã học vào đặt câu nói về thành thị nơi
mình đang sống. Đồng thời tìm thêm nhiều từ mới nói về sự vật, công việc ở
thành thị cũng như nông thôn mà trên lớp giáo viên chưa đặt ra. Sau đó tập đặt
câu hỏi với các từ đó.
Khi làm bài: Đọc kỹ đề bài, làm bài ra vở nháp, sửa chữa cho chính xác
rồi mới viết bài vào vở. Nếu gặp phải những từ chưa hiểu rõ nghĩa học sinh phải
tự tra từ điển hoặc hỏi người lớn để hiểu nghĩa.
Trong khi học bài, làm bài, học sinh phải tập thói quen cẩn thận, chắc
chắn, thực hiện đến nơi đến chốn các nhiệm vụ được giao mà bố trí thời gian tự
học hợp lý. Trong buổi tự học, cần giành thời gian để vừa ôn bài vừa học, làm
các bài tập, chuẩn bị cho bài ngày hôm sau.
* Tập cho học sinh thói quen dựa vào sức mình là chính.
Trong bất kỳ hình thức hoạt động nào, dù hoạt động độc lập hay thảo luận
nhóm, học sinh cũng đều phải có ý thức dựa vào bản thân mình là chính. Học
sinh phải tích cực suy nghĩ để tìm từ theo chủ đề, tìm ra dấu hiệu chung của các
từ để thực hiện nhiệm vụ phân loại và quản lý vốn từ…. Giáo viên chấn chỉnh
ngay những học sinh có thói quen ỉ lại, dựa dẫm vào các bạn khác trong lớp,
không tích cực học tập, suy nghĩ, thụ động đón nhận tri thức có sẵn.
* Đa dạng hóa các hình thức làm giàu vốn từ.
Hoạt động tự học làm giàu vốn từ của học sinh được tiến hành dưới nhiều
hình thức khác nhau như tự học cá nhân, tự học theo nhóm, tự học trên lớp, tự
học ở nhà…. Đối với đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 3, khả năng ý thức của
các em đã dần dần được hình thành cho nên trong quá trình giảng dạy, tôi đã áp
dụng tất cả các hình thức tự học nêu trên. Ngoài ra tôi còn hướng dẫn cho từng
cặp học sinh tự học theo hình thức nhóm đôi. Xây dựng “Đôi bạn cùng tiến” thi
đua giúp đỡ nhau học tập trên lớp và ở nhà. Nhờ hình thức này, học sinh trao đổi
15
Thi đua gắn với khen thưởng là một động lực không thể thiếu được trong
quá trình dạy học và đánh giá học sinh. Thi đua, khen thưởng rất phù hợp với
đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học. Các em cố gắng phấn đấu vì động cơ
rất đơn giản: Cố gắng để được nhận xét là bài làm tốt, cố gắng để được cô giáo
khen, cố gắng để làm vui lòng ông bà, cha mẹ…Trong giờ mở rộng vốn từ, nhờ
không khí thi đua, học sinh sôi nổi hơn, hăng say hơn, khen thưởng giờ mở rộng
vốn từ là sự công nhận kết quả mà học sinh đạt được (học sinh tìm ra từ mới,
phát hiện ra nghĩa mới câu, từ, đặt được câu hỏi, đoạn văn hay…). Nếu được
khen đúng lúc, học sinh sẽ cảm thấy tự tin và phấn đấu hơn.
- Trong quá trình dạy mở rộng vốn từ, tôi đã vận dụng phương pháp thi
đua khen thưởng như sau:
+ Trước khi vào bài học hay trước khi tổ chức một trò chơi học tập, giáo
viên nêu tiêu chí thi đua rõ ràng, cụ thể để tạo tâm thế thi đua cho học sinh.
Ví dụ:
16
* Thi đua xem bạn nào tìm được nhiều từ mới sẽ được cộng nhiều lời
khen vào sổ liên lạc điện tử
* Thi đua xem nhóm nào thảo luận sôi nổi, hoàn thành bài tập đúng và
nhanh sẽ được cộng nhiều bông hoa (bài làm tốt) cho cả nhóm.
* Thi đua giữa các tổ về mọi mặt: nề nếp, ý thức, hiệu quả thảo luận….
- Hình thức khen thưởng đưa ra phải mang tính cụ thể, chủ yếu về mặt
tinh thần để khuyến khích học: ghi nhiều lời khen, ghi nhiều sao thành tích, hoa
thi đua hay một tràng vỗ tay…
- Trong mỗi tiết dạy, giáo viên cần đánh giá kịp thời bằng cách khen
những cá nhân tiêu biểu xuất sắc và những cá nhân có tiến bộ vượt bậc trong tiết
học. Từ đó học sinh cả lớp có thể noi gương để phấn đấu, phấn đấu để được cô
giáo khen và phấn đấu để không bị kém bạn bè.
17
Học sinh tích cực trao đổi khi thảo luận nhóm
Lớp học luôn sôi nổi
Trong tiết sinh hoạt tập thể, học sinh trong lớp luôn được luân phiên làm
tổ trưởng mạnh dạn báo cáo trước cô giáo và cả lớp về kết quả học tập rèn luyện
của các thành viên trong tổ mình. Học sinh chủ động tham gia các hoạt động
theo chủ điểm như: thi kể chuyện, thuyết trình, hùng biện về 1 vấn đề đơn giản,
đóng kịch, sắm vai. Trong các buổi sinh hoạt ngoại khoá, hoạt động trải nghiệm
học sinh đã chủ động trao đổi, tự khám phá, thông qua những câu chuyện, bài
hát, vở kịch… minh hoạ cho từng chủ điểm.
18
Học sinh lớp 3C Trường Tiểu học Điện Biên 1 tự tin, chủ động khi tham gia
hoạt động trải nghiệm tại quê Bác
19
Học sinh lớp 3C Trường Tiểu học Điện Biên 1 tham gia làm hoa và tự
tin thuyết trình sản phẩm hoa giấy của mình trong buổi sinh hoạt ngoại
khóa chủ điểm: Vui đón xuân.
20
- Ba là: Vận dụng hợp lý các hình thức thi đua, khen thưởng nhằm khuyến
khích học sinh mạnh dạn, chủ động, sáng tạo trong giờ học.
Bản thân tôi cũng nhận thấy việc làm giàu vốn từ cho học sinh lớp 3 sẽ
giúp các em có kỹ năng sử dụng từ để giao tiếp. Ngoài ra các em lựa chọn trong
vốn từ của mình những từ ngữ gợi tả, gợi cảm để viết những câu văn, đoạn văn
sinh động, giàu hình ảnh.
Với giáo viên, đa số đã đồng tình và cùng vận dụng những giải pháp mà
tôi trao đổi, chia sẻ không những thế nhiều giáo viên còn vận dụng vào dạy học
ở các khối lớp khác, môn khác.
Với sáng kiến này chúng tôi mong góp một phần nhỏ bé vào kinh nghiệm
giảng dạy phân môn Luyện từ và câu trong môn Tiếng Việt lớp 3.
3. 2. Kiến nghị:
* Với giáo viên: Mỗi giáo viên chúng ta cần vận dụng phối hợp các
phương pháp dạy học tích cực để nâng cao hiệu quả dạy học làm giàu vốn từ cho
học sinh như: thảo luận nhóm, trò chơi học tập và biện pháp thi đua khen
thưởng.
Cần chú ý tự trau dồi vốn từ cho bản thân mình. Đọc, nghiên cứu tài liệu
để có những hiểu biết sâu sắc về các nhiệm vụ làm giàu vốn từ cho học sinh ở
tiểu học.
Chú ý hình thành và bồi dưỡng ý thức tự làm giàu vốn từ cho học sinh. Sử
dụng nhiều biện pháp làm giàu vốn từ sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học
vốn từ nói riêng và dạy học Tiếng Việt nói chung.
Để nâng cao hiệu quả các giờ học Luyện từ và câu lớp 3 đặc biệt là với
các dạng bài “Làm giàu vốn từ”, giáo viên cần có trách nhiệm cao trong công tác
giảng dạy, nắm vững nội dung chương trình môn Tiếng Việt lớp 3, Chuẩn bị kỹ
bài dạy và xác định đúng trọng tâm của bài, vận dụng linh hoạt, khéo léo các
phương pháp và hình thức dạy học tích cực, động viên khen thưởng kịp thời để
gây hứng thú học tập cho học sinh, tìm ra những biện pháp thích hợp, tác động
đến từng đối tượng học sinh để các em phát huy năng lực của bản thân mình.
Qua đó các em sẽ tự hình thành cách học tập khoa học và một thái độ học tập
dục.
5. Trần Đức Niềm, Lê Thị Quyên (2006), Em học giỏi- Luyện từ và câu lớp
3, NXB Giáo dục.
24