phòng giáo dục & đào tạo thành phố hà tĩnh
trờng tiểu học thạch hng
*********************************
Nộp 2010-2011 rồi
sáng kiến kinh nghiệm
Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy kiểu
bài
" Nghe kể lại một câu chuyện" ở lớp 3
Trong phõn mụn :Tập Làm Văn
1
I- Cơ sở lý luận
Mục tiêu của môn Tiếng Việt ở tiểu học là hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ
năng : nghe , nói , đọc , viết để học tập và giao tiếp trong và ngoài nhà trờng . Thông qua
việc dạy học Tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao tác t duy cho học sinh , đồng thời
cung cấp cho học sinh những kiến thức ban đầu nh : Đọc thành thạo một văn bản ngắn ,
bớc đầu biết đọc diễn cảm , viết đúng chính tả , viết rõ ràng , nghe nói một cách tự
nhiên . Cung cấp cho học snh những hiểu biết về xã hội , tự nhiên và con ngời . Từ đó bồi
dỡng cho học sinh tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng của
Tiếng Việt.
Cũng nh các môn học khác , môn Tiếng Việt cũng đợc đổi mới toàn diện về cấu trúc
chơng trình , nội dung . Sự đổi mới của môn học Tiếng Việt lớp 3 thể hiện rõ rệt ở tất cả
các phân môn , đặc biệt là phân môn Tập làm văn .So với chơng trình cải cách , phân
môn tập làm văn đổi mới hoàn toàn về cấu trúc nội dung , thể hiện rõ nhất ở các dạng bài
tập làm văn .
Nội dung dạy học Tập làm văn lớp 3 chủ yếu rèn luyện cho học sinh ba kỹ năng cơ bản
Nhng trong thực tế giảng dạy, hiệu quả của bài tập nghe , kể lại một câu chuyện vui thờng có từ hai bài tập trở lên.
* Ví dụ: Tiết tập làm văn của tuần gồm hai bài:
Bài 1 : Nghe và kể lại câu chuyện : Tôi có đọc đâu.
Bài 2 : Viết về quê hơng em.
Nên việc dành thời gian cho việc nghe kể nhiều , giáo viên thờng xem nhẹ , phần phân
bài tập này mà chỉ dạy lớt qua hoặc dành thời gian không thích hợp mà chỉ chú trọng vào
bài tập còn lại của tiết học.
Chính vì loại bài tập này thờng xem nhẹ , dành thời gian không thích hợp nên giáo viên
cha chú trọng tìm ra các phơng án kể và hớng dẫn học sinh kể một cách sinh động nên
việc thực hiện bài tập này thờng diễn ra một cách chiếu lệ , kém hiệu quả , cha đáp ứng
đợc yêu cầu về kiến thức kỹ năng của bài tập và nhu cầu tìm tòi sáng tạo của học sinh .
Chính vì lẽ đó tôi mạnh dạn trình bày " Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả
khi dạy kiểu bài Nghe - kể lại một câu chuyện vui ở lớp 3" Trong phân môn Tập làm
văn.
Phần II : Nội dung
I/ Nội dung chơng trình môn Tiếng Việt lớp 3
Chơng trình Tập làm văn lớp 3 đợc cấu trúc theo chơng trình đồng tâm , tiết Tập làm
văn đợc bố trí sắp xếp ở các tiết học cuối tuần sau khi học xong các tiết Tiếng Việt trong
tuần . Kiến thức tiết Tập làm văn là ứng dụng kiến thức Tiếng Việt đã học trong tuần ,
trong chủ điểm .
Phân môn Tập làm văn lớp 3 gồm 31 tiết và 4 tiết kiểm tra bao gồm các kiểu bài tập :
1. Bài tập nghe : Nghe và kể lại một mẩu chuyện ngắn ; nghe và nói lại một mẩu tin .
2. Bài tập nói gồm :
- Tổ chức điều khiển cuộc họp , phát biểu trong cuộc họp .
- Kể hoặc tả miệng về ngời thân trong gia đình , trờng , lớp , quê hơng , lễ hội , hoạt
động thể thao , văn nghệ
3. Bài tập viết
- Điền vào giấy tờ in sẵn .
- Viết một số giấy tờ theo mẫu .
ý tới trong khi dạy .
Chính vì lẽ đó nên khi hớng dẫn học sinh thực hiện dạy loại bài tập này giáo viên chỉ
dạy đơn giản , có thể nói là qua loa với thời gian ngắn cho xong , còn dành thời gian cho
bài tập còn lại . Thông thờng quy trình dạy bài tập này giáo viên chỉ thực hiện nh sau :
- Giới thiệu câu chuyện .
- Giáo viên kể mẫu ( hoặc đọc trong sách giáo khoa )
- Cho học sinh kể mẫu ( HS khá giỏi )
- Giáo viên nêu ý nghĩa câu chuyện .
Với cách thể hiện nh vậy giờ học Tập làm văn kiểu bài nghe kể một câu chuyện vui trở
nên nhàm chán , đơn điệu , câu chuyện vui trở thành buồn tẻ
2. Về phía học sinh .
Cũng xuất phát từ cách thể hiện nh trên của giáo viên đã dẫn tới hiệu quả tiếp thu ,
lĩnh hội kiến thức của học sinh không cao . Học sinh không nhận thấy cái đáng cời ,
không thấy buồn cời dẫn đến việc kể lại của các em không còn hào hứng , đôi khi là bắt
buộc , gò ép .
Cũng do giáo viên kể chuyện thiếu sáng tạo ( đọc 1 , 2 lần ) Học sinh kể chuyện
cũng gần nh lặp lại máy móc những từ ngữ ở câu chuyện mà giáo viên vừa kể ( hoặc đọc
) , đối với học sinh khá , giỏi ; còn đói vốịhc sinh có nhận thức chậm hơn có thể các em
nắm đợc nội dung câu chuyện xong kể khó thành công , ngôn ngữ lặp đi , lặp lại vấp váp
4
ở nhiều chi tiết . Co nên kỹ năng nói của các em không đợc rèn , ngôn ngữ phát triển
chậm , điều này ảnh hởng rất lớn đến các bài tập luyện nói khác .
III/ Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả khi dạy kiểu bài Tập làm
văn " Nghe - kể lại một câu chuyện vui" lớp 3 .
Qua nghiên cứu tìm hiểu thực trạng ở trờng tôi , đối với một câu chuyện vui khi đọc
lên thấy có thể bật ngay tiếng cời nhng sau khi học xong học sinh lại thấy bình thờng ,
đơn điệu chẳng có gì đáng cời thì việc dạy của giáo viên coi nh chẳng gặt hái điều gì sau
bài tập . Giáo viên cần biết dựa vào điều kiện thuận lợi này mà khai thác , khơi sâu trí tò
mò của các em , nên kết hợp câu hỏi và tranh minh hoạ để giới thiệu .
* Ví dụ : Truyện "Giấu cày" ( SGK- TV3 T1- Tr 128) . Giáo viên cho học sinh đọc
các câu hỏi gợi ý theo thứ tự sau :
5
a. Khi đợc gọi về ăn cơm , bác nông dân nói thế nào ?
b. Vì sao bác bị vợ trách ?
c. Khi thấy mất cày bác làm gì ?
Sau đó cho học sinh qua sát tranh mô tả về bức tranh , giáo viên dựa luôn vào tranh
giới thiệu : " Trên một cánh đồng có hai ngời . một ngời đàn bà đang gọi một ngời đàn
ông , còn một ngời đàn ông đang cất một vật gì đó vào bụi cây , nét mặt anh ta lấm lét vẻ
bí mật . Câu chuyện xảy ra giữa họ nh thế nào ? Các em cùng nghe cô kể câu chuyện "
Giấu cày" ".
* Phơng án 2 : Để cho học sinh đoán tình huống của truyện qua tranh minh hoạ . Hầu
hết các tranh minh hoạ đều tập trung mô tả chi tiết gây cời của truyện . Giáo viên cho
học sinh quan sát tranh , dự đoán hành động của nhân vật trong tranh , từ những dự đoán
của học sinh giáo viên giới thiệu .
* Ví dụ : Trong truyện " Giấu cày" . Giáo viên cho học sinh dự đoán xem hành động
của ngời đàn ông trong tranh là gì ?
Sau khi học sinh đa ra các dự đoán của mình , giáo viên dựa vào đó để giới thiệu
truyện .
Điều lu ý ở đây dù giáo viên chọn phơng án giới thiệu nào đi nữa nhất thiết phải có
tranh minh hoạ treo trên bảng lớp . Giáo viên cần chú ý đến giọng nói , kết hợp cử chỉ ,
điệu bộ khi giới thiệu truyện .
- Kể chuyện của giáo viên : Việc kể chuyện của giáo viên là yếu tố quyết định sự
thành công việc dạy của giáo viên .
Tiếp nhận các loại văn bản , đặc biệt là văn bản nghệ thuật thờng tuân theo quy luật
tiếp nhận chung . Song mỗi loại văn bản tơng ứng với thể loại văn học khác nhau lại có
thuần nêu lại những chi tiết câu chuyện , cố gắng nhắc lại đợc những lời cô giáo vừa kể
thì càng tốt . cho nên bớc này gây cho học sinh sự nhàm chán buồn tẻ , hoặc căng thẳng
không cần thiết .
Việc giúp học sinh kể lại chuyện một cách tự nhiên , sinh động thể hiện cái tài và khả
năng s phạm của mỗi giáo viên . Với từng truyện phụ thuộc vào nội dung và chi tiết gây
cời mà giáo viên có hình thức tổ chức cho học sinh kể lại chuyện cho phù hợp , tạo sự
hứng khởi cho học sinh .
* Phơng án 1 : Kể bằng lời một nhân vật trong truyện .
Kể bằng lời của nhân vật trong truyện rèn cho học sinh kỹ năng kể chuyện theo lời
một nhân vật trong câu chuyện , trau giồi cách diễn đạt giàu trí tởng tợng của học sinh
qua việc thay đổi ngôi kể . Kể bằng lời của nhân vật còn luyện cho học sinh trí nhớ và
khả năng dùng từ ngữ chính xác , diễn đạt sáng ý và làm nổi bật ý nghĩa câu chuyện .
Trong một câu chuyện có bao nhiêu nhân vật , giáo viên nên cho học sinh kể theo lời
từng ấy nhân vật .Để chuẩn bị cho học sinh kể theo lời nhân vật , giáo viên nên chuẩn bị
một số phụ trang nh tấm bìa hoặc mũ ghi tên nhân vật . Khi học sinh nào lên kể theo lời
nhân vật nào thì cho học sinh đó đội mũ hoặc đeo trớc ngực tấm bìa có ghi tên nhân vật
đó . Hình thức tổ chức kể : giáo viên tổ chức cho học sinh thi kể , mỗi học sinh kể bằng
lời một nhân vật trong truyện .
* Ví dụ : Trong truyện " Tôi có đọc đâu !" ( TV3 - tập 1 tr.92 )
Giáo viên cho học sinh thi kể theo hai lời của hai nhân vật : Ngời viết th và ngời ngồi
bên cạnh . Điều đáng chú ý khi hớng dẫn học sinh kể theo lời nhân vật ngời ngồi bên
cạnh ở tình huống gây cời ngời ngồi bên cạnh kêu lên : " Không đúng ! Tôi có đọc trộm
th của anh đâu !" em đó phải thể hiện ở giọng kèm theo nét mặt của ngời bị bắt quả tang
đọc trộm th : ngờ nghệch , thật thà . Hay khi học sinh kể bằng lời nhân vật ngời viết th
giọng kể vui , dí dỏm . Hai câu ngời viết th viết thêm vào th kể với giọng bực dọc .
* Phơng án 2 : Đóng kịch
Có thể nói những câu chuyện vui trong phân môn Tập làm văn lớp 3đều có thể dựng
thành kịch , bởi tình tiết câu chuyện đơn giản , nội dung ngắn , những câu chuyện kể đều
dễ dàng chuyển thành lời thoại . Việc chuẩn bị cho đóng kịch những câu chuyện này
không quá cầu kỳ , chỉ cần những phụ trợ rất đơn giản nh chiếc khăn đội đầu , dây buộc
có cao hơn nhà ngời ta không nào !
- Chị vợ ( khi chàng ngốc về ) : Sao , mình đi thăm đồng thấy lúa nhà mình thế nào ?
- Chàng ngốc : Lúa của nhà ta xấu quá ! Ngng hôm nay tôi đã kéo nó lên cao hơn lúa
ở ruộng bên rồi !
- Chị vợ : ối giời ơi ! Ông làm thế thì chết hết lúa rồi còn gì ! ( Rồi hớt hải chạy đi )
IV- Kết quả áp dụng .
Để có kết quả khách quan khi áp dụng biện pháp tôi đã chọn hai lớp cho dạy thực
nghiệm cùng một bài . ở lớp 3A tôi vẫn áp dụng cách dạy thông thờng nh sách giáo viên
hớng dẫn . ở lớp 3B tôi áp dụng dạy theo các biện pháp mà tôi đa ra . Bài dạy : Nghe và
kể lại câu chuyện " Giấu cày" ( Tiếng Việt 3 - Tập 1 trang 128 ). Kết quả thu đ ợc nh
sau :
Lớp
Sĩ số
Giỏi
Khá
8
Trung bình
Yếu
3A
3B
%
10
Phân tích kết quả
Từ kết quả thu đợc trên đây tôi thấy chất lợng học sinh đợc nâng lên rõ rệt và điều đặc
biệt khi áp dụng các biện dạy học trên đây học sinh vô cùng hào hứng chủ động tham gia
hoạt động học .
Để có đợc kết quả nh vậy đòi hỏi giáo viên phải xác định đợc vị trí và tầm quan trọng
của bài dạy , nghiên cứu nắm chắc nội dung kiến thức mà mình cần cung cấp cho học
sinh . Không coi nhẹ bất cứ một hoạt động nào . Giáo viên phải thay đổi các hình thức tổ
chức dạy học một cách linh hoạt cho phù hợp với tâm lý của học sinh , làm cho tiết dạy
luôn luôn mới đối với học sinh . Có nh vậy bài dạy mới nhẹ nhàng , sinh động , đạt hiệu
quả cao nh giáo viên mong muốn .
V - Bài học kinh nghiệm
1. Đối với giáo viên :
- Cần nắm chắc chơng trình , nội dung bài dạy , kiến thức kỹ năng mà mỗi học sinh
cần lĩnh hội .
- Cần nghiên cứu kỹ , sâu bài trớc khi dạy , có sự cân nhắc lờng trớc những tình huống
có thể xảy ra khi dạy .
- Cần tổ chức , tham gia các hội thảo chuyên đề về bài dạy hoặc trao đổi với bạn bè ,
đồng nghiệp .
- Báo cáo với lãnh đạo , chuyên môn của trờng , các cấp nhằm có biện pháp tháo gỡ
khi gặp khó khăn vớng mắc .
- Nắm chắc tâm lý học sinh để có những phơng pháp và hình thức tổ chức dạy học cho
phù hợp .
2. Đối với học sinh :
Để góp phần tạo sự thành công cho bài học đòi hỏi học sinh :
- Tích cực học tập , tham gia thảo luận với bạn .
thu kiến thức và tạo một không khí học tập thoải mái , vui vẻ .
- Cần chuẩn bị tốt phơng tiện trực quan , đồ dùng học tập để tờng minh kiến thức giúp
học sinh dễ dàng tiếp thu kiến thức bài học .
Trên đây là những vấn đề tôi đã nghiên cứu , đúc rút giúp giáo viên áp dụng có hiệu
quả trong quá trình giảng dạy phân môn Tập làm văn lớp 3 kiểu bài nghe - kể lại một
câu chuyện vui . Tuy nhiên , do năng lực có hạn , thời gian nghiên cứu ngắn , tài liệu
tham khảo còn thiếu thốn nên đề tài nghiên cứu của tôi cũng còn có nhiều thiếu sót . Tôi
rất mong đợc sự góp ý từ phía các thầy cô giáo và bạn đọc để đề tài của tôi đợc hoàn
thiện hơn .
Thạch Hng , ngày 20 tháng 05 năm 2011 .
10
11