1. PHẦN MỞ ĐẦU:
1.1. Lí do chọn đề tài:
Cuộc sống xung quanh ta có biết bao điều kì diệu vẫn diễn ra từng ngày,
từng giờ: Tiếng chim hót, tiếng gió thổi, tiếng mưa rơi, tiếng lòng xôn xao thổn
thức, sự vươn mình trỗi dậy của những mầm cây,... Nhưng không phải học sinh
nào cũng có đủ năng lực, sự nhạy cảm, sự tinh tế để có thể cảm nhận được,
tưởng tượng được và đặc biệt là lưu giữ lại, làm sống lại những khoảnh khắc,
những dáng nét, những quá trình đó, để không chỉ cho riêng mình mà còn giúp
những người khác có thể hình dung được những đặc điểm tính chất nổi bật của
các sự vật, sự việc, con người, phong cảnh, làm cho các đối tượng đó như đang
hiện ra trước mắt mình, trước người đọc, người nghe. Có rất nhiều thể loại làm
văn giúp các em có thể phát triển được kĩ năng này nhưng nổi bật nhất vẫn là thể
loại văn miêu tả.
Trong chương trình giáo dục ở Tiểu học, các em được học phân môn Tập
làm văn bắt đầu từ lớp 2. Điều này rất phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của lứa
tuổi các em. Ở độ tuổi này, các em thích quan sát, tò mò ham hiểu biết, thích
những cái mới lạ,... Vì thế phân môn này sẽ góp phần thúc đẩy các em tới thế
giới xung quanh mình, khơi gợi cho các em lòng yêu thiên nhiên, con người, yêu
thích cái đẹp, đặc biệt phát huy khả năng ngôn ngữ cho các em. Bồi dưỡng tình
yêu Tiếng Việt và chính điều này đã hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng,
giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã
hội chủ nghĩa. Cũng từ đó, hình thành cho học sinh những năng lực cảm xúc, óc
thẩm mĩ, sáng tạo, phát triển trí thông minh, sự nhạy cảm của tâm hồn trẻ.
Những cảm xúc thẩm mĩ ấy, thể hiện được lí tưởng thẩm mĩ cao đẹp của thời
đại; đồng thời hướng các em tới những giá trị Chân - Thiện – Mĩ, bồi dưỡng tâm
hồn và nhân cách cho thế hệ trẻ.
Cũng từ yêu cầu đặt ra trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học
nhằm nâng cao hiệu quả dạy - học. Từ đó phát huy được tính tích cực, chủ động
sáng tạo của mỗi học sinh. Đây cũng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của
Giáo dục - Đào tạo nhằm hình thành và phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho
xu thế hội nhập toàn cầu hóa hiện nay của đất nước.
học Thiệu Tâm.
- Đưa ra một số biện pháp chỉ đạo dạy học nhằm dẫn dắt học sinh khi học
phân môn Tập làm văn, thể loại văn miêu tả (tả người) ở học sinh lớp 5 trường
Tiểu học Thiệu Tâm năm học 2016 - 2017.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
Một số biện pháp chỉ đạo dạy học nhằm bồi dưỡng cách dùng từ cho học
sinh lớp 5 trong phân môn Tập làm văn - thể loại văn miêu tả (tả người) ở
trường Tiểu học Thiệu Tâm.
2
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện tốt đề tài này tôi đã áp dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp thực nghiệm.
3
2. Nội dung:
2.1. Cơ sở lí luận:
Như chúng ta đã biết, vận dụng ngôn ngữ để giao tiếp nghĩa là để trao đổi
ý nghĩ và tình cảm của nhau, hiểu biết và cảm thông lẫn nhau. Không có giao
tiếp, con người không thể sống thành cộng đồng, thành xã hội. Tức là không thể
sống thành người. Khi giao tiếp lời nói cần phải có nội dung và hình thức, có khi
ngắn gọn trong một hai câu, có khi kéo dài, mở rộng thành nhiều câu. Giao tiếp
giữa người với người trong xã hội có thiên hình vạn trạng, cho nên lời nói của
con người với con người cũng có muôn màu nghìn vẻ. Lời nói vốn là âm thanh
2.2.1. Khảo sát chất lượng.
Với thực tế giảng dạy và là một người quản lí ở trường Tiểu học, tôi thấy
việc dùng từ khi làm bài văn miêu tả (tả người) của học sinh còn nhiều hạn chế.
Xác định rõ được mục tiêu của vấn đề tôi đã tiến hành khảo sát học sinh khối 5
với đề bài như sau: Em hãy tả hình dáng, tính tình cô giáo (thầy giáo) đã dạy em
trong những năm học trước mà em nhớ nhất.
Sau khi chấm bài của học sinh lớp 5 kết quả thu được như sau:
Khối lớp
5
Số học sinh
khảo sát
69
Thời điểm
khảo sát
Kết quả
Mức đạt được
Hoàn thành tốt
30/11/2016
Hoàn thành
Chưa hoàn thành
SL
0
55
14
thực ví dụ: “Cặp lông mày giống như nửa đường tròn” hay “Mai có vóc dáng
mảnh khảnh, khẳng khiu như que củi mà lại nặng 101 ki lô gam, có bắp tay, bắp
chân mập ú” hoặc “Bạn có mái tóc được ví như những hòn than”,... làm cho câu
văn mất đi cái đúng, cái thực, cái hay, cái sắc nét của nó.
Thực tế việc dạy Tập làm văn nói chung, đặc biệt là văn miêu tả nói riêng,
rất cần sự hỗ trợ của phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu,...
Nhưng ở phân môn Tập đọc, học sinh được học rất ít các bài tập đọc miêu
tả người riêng biệt, dẫn đến học sinh ít được cảm thụ văn học qua thể loại này.
Cũng như phân môn Luyện từ và câu, suốt cả quá trình học, học sinh học thể loại
văn miêu tả người từ tuần 12 đến tuần 21 nhưng các em chưa được học về mở
rộng vốn từ có liên quan. Mãi đến tuần 30,31,33,34 học sinh mới được học về mở
rộng vốn từ về: Nam- nữ, trẻ em, quyền và bổn phận. Do vậy rất khó khăn cho
giáo viên cũng như việc làm văn của học sinh ở thể loại văn miêu tả người.
Với việc khảo sát bước đầu và qua thực tiễn giảng dạy, chỉ đạo tôi nhận
thấy: Vốn sống, vốn hiểu biết của học sinh chưa phong phú. Nhiều lúc các em
tìm hiểu, nhận xét bằng cảm tính, nghĩ gì thì viết vậy, chưa có sự chọn lọc về
ngôn ngữ. Vì vậy giáo viên cần hướng dẫn, tổ chức cho các em biết quan sát,
nhận xét thực tế về đối tượng mà các em miêu tả. Có rất nhiều em hiểu về bản
chất của sự vật, sự việc các em định tả, song vốn từ ngữ của các em còn quá
nghèo nàn nên chưa biết chọn lọc, sử dụng như thế nào để sát với thực tế, để gợi
tả và truyền tải được cảm xúc. Chính điều đó dẫn đến bài làm khô khan, câu, ý
lủng củng, nên chất lượng bài làm đạt hiệu quả chưa cao.
Từ việc theo dõi kết quả kiểm tra, đánh giá đã tìm ra nguyên nhân. Tôi đã
vận dụng một số biện pháp để chỉ đạo nâng cao chất lượng trong giảng dạy
nhằm thúc đẩy sự phát huy khả năng của học sinh trong việc tự chiếm lĩnh tri
thức, chủ động sáng tạo trong học tập.
2.3. Một số biện pháp chỉ đạo dạy học nhằm bồi dưỡng cách dùng từ cho học
sinh lớp 5 trong phân môn Tập làm văn - thể loại văn miêu tả (tả người):
2.3.1. Chỉ đạo giáo viên thực hiện công tác tự học, tự bồi dưỡng:
6
hoặc tìm những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ về nội dung, chủ đề đó như:
+ Về tình thầy trò: Không thầy đố mày làm nên, một chữ cũng là thầy,
nửa chữ cũng là thầy,...
+ Về người thân: Anh em như thể tay chân
Rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần.
7
Hay: Môi hở răng lạnh, Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ,....
+ Về tình bạn: Bạn con chấy cắn đôi, học thầy không tày học bạn,...
...
Từ đó hướng dẫn cho các em thi tìm nhanh từ gần nghĩa thuộc mảng kiến
thức, ví dụ như: Tìm từ gần nghĩa với từ “xinh đẹp”. Lúc này học sinh rất có
hứng thú tìm và các em đã tìm được: Xinh tươi, xinh xắn, xinh xinh...
Sau đó giáo viên giúp học sinh tái hiện lại kiến thức cũ mà các em đã học
trước đó, ở các lớp dưới như các tiết Luyện từ và câu: “Mở rộng vốn từ: Lạc
quan - yêu đời, dũng cảm, sức khỏe,...”
Giáo viên có thể đưa ra một hệ thống bài tập có dạng: Tìm những từ ngữ có
khái niệm “đẹp”. Nhằm giúp các em tìm được một số từ ngữ như: mảnh mai, thanh
thanh, thanh lịch, tuấn tú, khôi ngô, kháu khỉnh, điềm đạm, nết na,…
Để hỗ trợ cho học sinh học tốt các yêu cầu tiếp theo về tả người như tả:
Ông, bà, hoặc tả một chú công an đang làm nhiệm vụ,... giáo viên cần giúp học
sinh tìm ra được vốn từ trong mỗi tiết Tập làm văn ứng với từng yêu cầu của
mỗi bài học để học sinh tham khảo.
Ví dụ: Thông qua hình thức trò chơi “Tìm những từ ngữ thường dùng khi
miêu tả về một cụ già?”. Học sinh sẽ rất hứng thú đưa ra một số từ: da đồi mồi,
da nhăn nheo, gầy guộc, xuất hiện những gân xanh nổi lên như những con giun,
tóc bạc như một ông tiên, phúc hậu, móm mém,...
Hay thông qua hoạt động nhóm, giáo viên yêu cầu học sinh: Tìm các từ
miêu tả đặc điểm ngoại hình, nội tâm, trí tuệ của con người?
văn đó, hay chép vào một cuốn sổ tay tích lũy về văn học. Điều này cũng
không đồng nghĩa với dạy cho học sinh sao chép văn bản, mà mục đích là giúp
học sinh học cách dùng từ, cách diễn đạt, sau đó vận dụng để làm bài văn của
mình một cách linh hoạt, phù hợp với nội dung từng yêu cầu cụ thể mà đề bài
yêu cầu.
Ví dụ trong bài: “Bà tôi” (Sách giáo khoa Tiếng việt 5- Tập 1- Trang 122).
Nhiều em đã thuộc lòng cả đoạn như:
+ “Bà tôi ngồi cạnh tôi, chải đầu. Tóc bà đen và dày kì lạ, phủ kín cả hai
vai, xõa xuống ngực, xuống đầu gối. Một tay khẽ nâng mớ tóc lên và ướm trên
tay, bà đưa một cách khó khăn chiếc lược thưa bằng gỗ vào mái tóc dày.”
+ “Giọng bà trầm bổng, ngân nga như tiếng chuông. Nó khắc sâu vào
trong trí nhớ tôi dễ dàng, và như những đóa hoa, cũng dịu dàng, rực rỡ, đầy
nhựa sống. Khi bà mỉm cười, hai con ngươi đen sẫm nở ra, long lanh, dịu hiền
khó tả, đôi mắt ánh lên những tia sáng ấm áp, tươi vui. Mặc dù trên đôi má
ngăm ngăm đã có nhiều nếp nhăn, khuôn mặt của bà tôi hình như vẫn tươi trẻ.”
9
Hay bài: Hạng A Cháng - Sách giáo khoa Tiếng việt 5 - Tập 1- trang 119. Ở bài
này giáo viên cần xác định được cách dùng từ miêu tả để từ đó giúp học sinh
nhận ra được cách dùng từ để miêu tả về:
+ Hình dáng của Hạng A Cháng (Sức khỏe của Hạng A Cháng): Ngực nở
vòng cung, da đỏ như lim, bắp tay bắp chân rắn như trắc gụ, vóc cao, vai rộng,
người đứng thẳng như cái cột đá trời trồng, khi đeo cày trông hùng dũng như
một tràng hiệp sĩ cổ đeo cung ra trận.
+ Hoạt động, tính tình: Lao động chăm chỉ, cần cù, say mê, giỏi, tập trung
cao độ đến mức chăm chắm vào công việc.
Học đến bài: “Hạt gạo làng ta” của tác giả Trần Đăng Khoa (sách giáo
khoa Tiếng việt 5 - Tập 1- Trang 139). Ở khổ thơ thứ 2:
đã hóp, thái dương hơi nhô, tay chân có chỗ bắt đầu xương xẩu, nổi gân xanh,...”
Từ đoạn văn trên, để giúp cho học sinh cảm nhận được vẻ đẹp của người
bà; giáo viên cần cho học sinh tìm hiểu những từ ngữ gợi tả về người bà thân
thương (như ở các nét tả về hình dáng) nhưng cũng cho thấy cả vẻ hiền hậu của
bà như: đôi mắt, cặp lông mày, hàm răng, dáng vóc, tóc tai, quần áo, thân hình,
đôi má,... Bằng những từ ngữ gợi tả sinh động, tạo cho người đọc một cảm xúc
thật rung động mãnh liệt về một người bà gần gũi mà thân thương.
Mặt khác học sinh sẽ hiểu thêm về hình ảnh hiền hậu, chất phác của người
phụ nữ Việt Nam nói chung và của người bà nói riêng qua những hình ảnh miêu
tả. Đây cũng là nghệ thuật miêu tả đặc sắc của tác giả.
Để làm nên phần hồn trong các bài văn miêu tả người chính là phần miêu
tả tâm trạng của con người, vì thế người giáo viên cần nhấn mạnh, nhắc nhở các
em chú ý điều này. Muốn thế giáo viên đưa ra hệ thống câu hỏi gợi ý, dẫn dắt
vấn đề cho các em, ví dụ: Em hãy đặt câu miêu tả các trạng thái, tình cảm của
con người như: vui, buồn, thương yêu,… Thông thường học sinh sẽ làm rất đơn
giản như:
+ Em rất vui.
+ Em rất buồn.
+ Em rất thương bạn nhỏ lang thang ngoài đường.
Từ thực trạng đó, giáo viên cần hướng dẫn học sinh biết làm giàu hình
ảnh văn học thông qua cách diễn đạt mượt mà, trôi chảy hơn, chẳng hạn:
+ Sau ba tháng nghỉ hè, vui biết mấy khi em được gặp lại thầy cô, bạn bè
trong ngày khai trường tưng bừng nhộn nhịp.
+ Ngoài sân trường các bạn đang cười nói, chạy nhảy vui vẻ nhưng lòng
em trĩu nặng nỗi buồn vì mẹ em đang bị ốm phải nằm viện.
+ Những cơn gió mùa đông lạnh buốt, nằm trong chăn ấm mà em thấy
thương và tội nghiệp cho những em nhỏ đang lang thang cơ nhỡ ngoài đường.
...
11
ngần, trắng hồng,…” để miêu tả, chứ không thể sử dụng từ: “trắng bạc” để đặt
câu miêu tả làn da cho em bé được.
Hoặc chúng ta đưa ra các từ ngữ sau: băng hà, hy sinh, chết, qua đời,
nghẻo, đi, mất... Và cũng từ đây, nếu học sinh viết về một người thân trong gia
12
đình, chú bộ đội,... thì các em chẳng bao giờ viết: “Cụ ông của em đã nghẻo từ
lâu lắm rồi” mà các em phải biết chọn lọc từ để đặt câu tỏ rõ thái độ, tình cảm
kính trọng, biết ơn, thương tiếc của mình đối với người đã mất, như dùng từ:
“qua đời, mất,...” để thay thế cho từ “nghẻo” trong câu đã nêu ở trên.
2.3.5. Chỉ đạo giáo viên bồi dưỡng ngôn ngữ nói cho học sinh:
Với việc hiểu rõ bản chất, nội dung của vấn đề đặt ra, muốn viết văn đúng,
hay thì trước hết phải nói đúng, nói hay. Việc dạy cho học sinh nói có tầm quan trọng
nhất định giúp học sinh viết văn hay. Do vậy người giáo viên phải dạy cho học sinh
nói năng lưu loát, nói rõ ràng, nói cho “gãy góc”, “nói cho có đầu có cuối”.
Trên thực tế khi dạy học, tình trạng chung của học sinh tiểu học là các em còn
nói (diễn đạt) chưa rõ ràng, chưa chính xác, nhiều giáo viên còn chưa chú ý đến cách
rèn kĩ năng nói cho học sinh. Muốn làm được điều này tôi không ngừng chỉ đạo cho
giáo viên phải luôn tạo điều kiện cho học sinh được rèn luyện kĩ năng này. Con
đường tốt nhất là thông qua các hoạt động học tập của các em như: trình bày trước
lớp, nhóm, trò chơi,... nhất là đối với những học sinh còn chưa mạnh dạn, còn nhút
nhát trong giao tiếp khi đứng trước mọi người, trước tập thể,... khi các em trình bày
nếu từ nào sai, trình bày chưa đúng, giáo viên cần yêu cầu học sinh đó trình bày lại
ngay và sửa lại cho đúng. Ví dụ như trong quá trình tổ chức trò chơi: “Tìm người
phát thanh viên nhỏ tuổi” yêu cầu học sinh hãy thuyết trình một bài văn miêu tả về
“một ông cụ mà em quen biết” hoặc “một em bé đang tập đi mà em biết”,...
Ví dụ như trong phần trình bày của em Nguyễn Thị Linh học sinh lớp 5B
miêu tả về một ông cụ như sau:
“Ông Khu là người ở quê quán em, năm nay đã ngoài 80 tuổi rồi. Chiều
cầu đề bài sau:
Tả một người lao động trí óc mà em yêu quý nhất.
Sau khi chấm bài, thu được kết quả như sau:
Khối
lớp
5
Số học sinh
khảo sát
69
Thời điểm
khảo sát
Kết quả
Mức đạt được
Hoàn thành tốt
24/03/2017
Hoàn thành
Chưa hoàn thành
SL
20
49
0
%
28,9
71,1
việc bồi dưỡng dùng từ cho học sinh trong phân môn Tập làm văn nói chung và
cho thể loại văn “miêu tả người” nói riêng vào trong tiết học cụ thể là một trong
những yêu cầu cần thiết. Bởi vì, muốn phát triển năng lực tư duy, trí tưởng
tượng, óc sáng tạo, khả năng diễn đạt mạch lạc, tạo hứng thú học tập, tạo niềm
vui và lòng say mê yêu thích học tập là vô cùng cần thiết. Cũng từ đó rèn cho
học sinh đức tính chăm chỉ, tự tin, năng động, góp phần rèn luyện cho học sinh
những đức tính, phẩm chất và phong cách làm việc của người lao động mới.
Từ một số biện pháp trên giáo viên đã giúp học sinh biết cách dùng từ ngữ
trong phân môn Tập làm văn nói chung và thể loại văn miêu tả (tả người) nói
riêng. Chính từ đó tôi đã rút ra được một số điều sau đây:
+ Trong khi giảng dạy, giáo viên không nên máy móc, cứng nhắc, rập
khuôn theo sách giáo khoa. Bởi vì nếu chỉ dựa vào vốn từ ngữ ở trong sách đưa
ra thì các em khó có thể có nhiều vốn từ để tìm ý, xây dựng được bài làm của
mình, mà giáo viên cần giúp học sinh tìm hiểu thêm về vốn từ thông qua các
hình thức dạy học ở tất cả các môn học, đặc biệt là phân môn Luyện từ và câu,
Tập đọc.
+ Khi giảng dạy người giáo viên phải tìm ra phương pháp giải quyết linh
hoạt phù hợp giữa lí thuyết với thực hành, giữa rèn kĩ năng thuyết trình (nói) và
viết; tạo nên sự nhạy cảm trong tâm hồn mỗi học sinh.
+ Cần giúp học sinh biết cách chọn lọc từ ngữ, những hình ảnh nghệ thuật
để diễn đạt cho phù hợp với từng đối tượng miêu tả.
+ Việc chấm chữa bài của giáo viên là một trong những bước quan trọng
nhất để chuẩn bị cho tiết trả bài. Muốn để học sinh nhận rõ bài làm của mình có
những ưu điểm, nhược điểm gì, qua tiết trả bài hay nhận xét thường xuyên thông
qua từng hoạt động, tiết học; giáo viên phải nêu ra được những ưu điểm và nhược
điểm chung của lớp. Sau đó đến từng bài làm cụ thể của từng học sinh hoặc một số
em điển hình.
+ Việc động viên, khuyến khích, tuyên dương của giáo viên kịp thời đến
học sinh cũng là một động lực thúc đẩy tinh thần học tập hăng say của các em,
làm cho các em ngày càng hứng thú trong học tập, rèn luyện.
viết, không sao chép nội của người khác.
Người thực hiện.
Cao Văn Tiếng
TÀI LIỆU THAM KHẢO.
1/ Sách giáo khoa và sách giáo viên Tiếng việt lớp 5.
17
2/ Bài kiểm tra của học sinh.
3/ Hướng dẫn chuẩn kiến thức kĩ năng môn Tập làm văn ở Tiểu học.
4/ Phương pháp dạy Tập làm văn ở Tiểu học.
18