A. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở khoa học của sáng kiến kinh nghiệm cần nghiên cứu:
a) Cơ sở lí luận:
Trong cuộc sống hàng ngày, Tiếng Việt là phương tiện giao tiếp của người
Việt. Do đó, mỗi người Việt Nam cần sử dụng tiếng mẹ đẻ của mình. Việc nói
đúng Tiếng Việt của mỗi người học được bắt đầu từ đâu? Có thể cho rằng, khi trẻ
cất tiếng nói đầu tiên đã được cha mẹ, người thân hướng dẫn cách nói. Nhưng việc
hướng dẫn trẻ nói Tiếng Việt đúng, chuẩn, có phương pháp, có hệ thống thì khi trẻ
bước vào học Tiểu học. Khi đến trường và các em gia nhập vào một phạm vi giao
tiếp mới có tổ chức: xã hội- lớp học (giáo tiếp với thầy cô giáo, với bạn bè). Các
em không thể nói “ứ ừ” hay lí nhí gật đầu như nói với bố mẹ. Hơn thế nữa, các em
còn hiểu rằng có những lời nói là hay, là đẹp và có những lời nói là không hay,
không đẹp.
Để trả lời câu hỏi của cô giáo “Con học bài chưa?”, các em không thể được
phép nói “học rồi”. Các em phải hiểu và biết thực hiện nói thành câu và thể hiện
sự lễ phép “Thưa cô, con học bài rồi ạ!” . Hoặc trong giao tiếp với mọi người xung
quanh, các em biết rằng khi mắc lỗi (hay phạm khuyết điểm) thì cần phải biết đáp
lại những lời cảm ơn, xin lỗi của người khác đối với mình. Để học sinh tiểu học,
nhất là học sinh đầu cấp tiểu học thực hiện được điều này là nhờ môn tiếng Việt
nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng. Vì thế, dạy tiếng Việt trong trường
Tiểu học có một tầm quan trọng rất lớn.
b) Cơ sở thực tiễn:Phân môn Tập làm văn vận dụng các hiểu biết và kĩ
năng về tiếng Việt do các phân môn khác (tập đọc, kể chuyện, luyện từ câu ) rèn
luyện hoặc cung cấp. Tập làm văn có nhiệm vụ rèn luyện kĩ năng nói và
viết cho học sinh. Tập làm văn đồng thời góp phần cùng các môn học khác rèn
luyện tư duy phát triển ngôn ngữ cho học sinh. Tập làm văn thực hiện hóa mục
tiêu quan trọng nhất của việc dạy và học tiếng Việt là dạy học sinh sử dụng tiếng
Việt trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, học sinh biết vận dụng tiếng Việt vào
giao tiếp. Người ta chia các bài văn thành hai dạng: Tập làm văn miệng và tập
làm văn nói. Tập làm văn miệng rèn khả năng trình bày một bài nói theo yêu cầu
đề bài. Tập làm văn nói phát triển cho học sinh kĩ năng lựa chọn từ ngữ, kiểu câu
- Tìm hiểu các dạng lời nói và việc ứng dụng vào việc rèn kĩ năng nói cho
học sinh lớp 2.
- Nắm chắc mục tiêu, chương trình luyện nói ở lớp 2.
2
- Quy trình dạy Tập làm văn dạng: nghi thức lời nói và các biện pháp chủ
yếu khi dạy dạng bài này.
- Nắm vững đặc điểm nội dung của từng bài để lựa chọn thêm tình huống
và bổ sung thêm cho đủ 3 tương quan giao tiếp cơ bản.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện đề tài tôi đã sử dụng các phương pháp cơ bản như sau:
- Phương pháp quan sát, khảo sát: Tôi đã khảo sát các tài liệu về rèn kĩ năng
nói trong phân môn Tập làm văn, về sách giáo khoa, sách giáo viên, trọng tâm là
các bài Tập làm văn dạng: Nghi thức lời nói.
Dự giờ khảo sát các kĩ năng nói của học sinh.
- Phương pháp phân tích:
Phân tích chương trình – sách giáo khoa phân môn Tập làm văn lớp 2 mới
và cũ.
Phân tích thực trạng dạy Tập làm văn dạng bài: Nghi thức lời nói ở lớp 2.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu:
So sánh, đối chiếu chương trình – sách giáo khoa phân môn Tập làm văn
mới- cũ và kết quả khảo sát trước và sau vận dụng kinh nghiệm
- Phương pháp thực nghiệm:
6. Thời gian thực nghiệm:
Từ tháng 9/2010 đến tháng 3/2011.
3
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Chương I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LÀM CƠ SỞ
CHO VIỆC RÈN KĨ NĂNG NÓI CHO HỌC SINH LỚP 2 TRONG PHÂN
khó mà sửa đổi lại hay diễn đạt bằng lời lẽ của mình. Nhiều khi các em đến trường
còn nhút nhát, ngại nói trước lớp. Không những vậy mà người giáo viên còn chưa
nghiên cứu kĩ bài, chưa đào sâu kiến thức, gợi mở bằng câu hỏi chẻ nhỏ hay các
phương pháp dạy học, tổ chức buổi học có cải tiến. Năm học 2009-2010, tôi đã
dạy lớp 2A và 2B( với trình độ học sinh tương đương nhau) theo sách giáo viên
bài: Đáp lời xin lỗi (Tiếng Việt lớp 2 – Tập II – trang 40). Ở mục tiêu thứ (1) của
bài tức là dạy phần Nghi thức lời nói “Biết đáp lại lời xin lỗi trong giao tiếp đơn
giản” thì thấy được học sinh được luyện nói theo một chiều, có nhiều cách nói lời
xin lỗi, lời đáp nhưng tỉ lệ lời nói khác nhau, nói hay ít vì không có câu hỏi gợi
mở. Học sinh còn khó hiểu tại sao khi muốn đi trước, muốn nhờ người khác điều
gì ta phải nói lời “xin lỗi” trước khi nhờ. Không những thế, dạy theo nội dung như
vậy bài tập tình huống mới chỉ chú ý đến một tương quan giao tiếp ngang vai (bạn
với bạn), không có tình huống với vai trên và vai dưới. Qua việc dạy tôi thấy kết
quả như sau:
Lớp Sĩ số
Số HS chưa biết
cách nói
Số HS nói theo
hướng đúng mẫu
Số HS nói có lời
nói hay
SL % SL % SL %
2A 30 3 10 19 63 8 27
2B 32 4 12,5 21 66 7 21,5
Kiểm tra thái độ các em thì tôi thấy các em cũng rất thích học môn học này
và học cũng rất sôi nổi, nhưng vận dụng được luyện nói, nói hai chiều, nói hay,
nói biểu hiện giọng điệu, ánh mắt thì chưa có. Giáo viên chưa phát huy được điều
đó cho các em.
5
Vậy, với học sinh lớp 2, để đạt được mục đích rèn luyện kĩ năng nói cho các
em, người giáo viên phải chú trọng đến việc phát triển khả năng tham gia hội
thoại. Ở loại bài làm văn miệng các bài văn dạng Nghi thức lời nói, giáo viên cần
cho các em rèn luyện lời đối thoại, phát triển ở học sinh lời nói miệng có văn hóa,
đúng mục đích.
2. Mục tiêu của việc luyện nói cho học sinh lớp 2:
Trên cơ sở mục tiêu chung của môn tiếng Việt, người giáo viên cần nắm
vững và xác định được mục tiêu của việc luyện nói cho học sinh lớp 2.
Rèn kỹ năng nói cho học sinh được đặt lên hàng đầu trong việc dạy Tập làm
văn. Vì học sinh nắm được các nghi thức lời nói tối thiểu như: chào hỏi, tự giới
thiệu, cảm ơn, xin lỗi, nhờ cậy, yêu cầu, khẳng định, phủ định, tán thành, từ chối,
chia vui, chia buồn …để biết vận dụng, sử dụng vào các tình huống giao tiếp nơi
công cộng, gia đình, trong trường học. Nghe hiểu được ý kiến của bạn để có thể
nêu ý kiến bổ sung, nhận xét bằng lời nói của mình. Luyện nói còn bồi dưỡng tình
yêu tiếng Việt, có ý thức nói đúng tiếng Việt, nói rõ ràng, mạch lạc.
Luyện nói cho học sinh lớp 2 còn có mục tiêu trau dồi thái độ ứng xử có văn
hóa, tinh thần trách nhiệm trong công việc, bồi dưỡng tình cảm tốt đẹp, lành mạnh
qua nội dung bài học.
3. Đặc điểm, nội dung, chương trình luyện nói ở lớp 2 theo sách giáo
khoa Tiếng Việt mới và điểm khác với sách giáo khoa cải cách (cũ):
Rèn luyện kĩ năng nói giúp học sinh có năng lực dùng tiếng Việt để học tập,
giao tiếp… trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Trong việc rèn kĩ năng
nói thì nói trong hội thoại nghĩa là các nghi thức lời nói được sắp xếp trong
chương trình dạy Tập làm văn được cấu tạo theo hai mạch: dạy làm văn nói và dạy
làm văn viết. Đây là điểm khác cơ bản giữa chương trình theo sách giáo khoa
Tiếng Việt lớp 2 mới và sách giáo khoa cải cách (cũ). Vì theo sách cải cách chia
Tập làm văn thành hai loại: bài văn miệng và bài văn viết. Cả hai loại bài này chủ
yếu là lời độc thoại. Có quan niệm cho rằng bài làm miệng chỉ chuẩn bị cho bài
viết. Cả bài miệng và bài viết đều chú ý thực hiện nhiệm vụ rèn luyện kĩ năng sản
7
8
Các ngữ liệu trong dạy Tập làm văn không lặp lại ngữ liệu trong các giờ Tập
đọc, Kể chuyện trước đó. Ở một số bài có sự lặp lại như tiết “Tự giới thiệu” có
phần được lặp lại của mẫu cấu trúc bài Tập đọc “Tự thuật: nhưng đó là những điều
khi làm tự thuật hay tự giới thiệu không thể thiếu (giới thiệu tên, quê quán). Sự
thay đổi ngữ liệu giúp giờ làm văn tạo không khí sôi nổi trong giờ học.
Việc rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 2 trong phân môn Tập làm văn thực
hiện theo phương pháp giao tiếp thể hiện chủ yếu thông qua hệ thống bài tập và
biện pháp dạy học. Các bài Tập làm văn đưa ra với nhiều hình thức khác nhau: Bài
tập học sinh nhận biết mẫu lời nói, có bài nhằm giúp học sinh thực hành, có bài
rèn luyện nói dạng Nghi thức lời nói mang tính gợi mở để học sinh phát huy tính
sáng tạo nhiều hơn. Các hình thức bài tập khác nhau còn có tác dụng làm cho hoạt
động học tập sinh động, cách này hay cách khác các em được thay đổi hình thức
hoạt động: xem tranh, đọc, nói, viết. Ví dụ trong bài: Đáp lời xin lỗi (Tiếng Việt
2-Tập 2- Trang 40)
Bài tập 1: Đọc lời các nhân vật trong tranh (Các em được xem tranh, đọc và
làm quen với mẫu lời nói).
Bài tập 2: Em đáp lời xin lỗi trong các trường hợp sau như thế nào?
a) Một bạn vội, nói với em trên cầu thang: “Xin lỗi. cho tớ đi trước một
chút.”.
b) Một bạn vô ý đụng vào người em, xin lỗi em “Xin lỗi, tớ vô ý quá”.
c) Một bạn nghịch làm mực bắn vào áo em, bạn xin lỗi em: “Xin lỗi bạn…
mình lỡ tay thôi”.
d) Bạn xin lỗi em vì quên mang sách trả em: “Xin lỗi cậu. Tớ quên mang
sách trả cậu rồi”.
Khi làm bài tập này, các em làm quen với 4 tình huống thường xảy ra trong
cuộc sống hàng ngày. Học sinh cần xác định được mục đích giao tiếp, đối tượng,
nội dung giao tiếp trên cơ sở đó các em được thực hiện yêu cầu bài tập qua 3
bước:
+ Suy nghĩ dự đoán ý cần diễn đạt.
nói, người nghe, vai giao tiếp, hoàn cảnh, nội dung, mục đích giao tiếp, chọn ngôn
từ và thực hành nói. Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh luyện tập bằng các bài
tập tình huống với nhiều hình thức như: hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm, sắm
vai, trò chơi… Giáo viên tổ chức cho học sinh trao đổi, thảo luận để nhận xét,
10
đánh giá kết quả thực hành, luyện tập, hướng dẫn học sinh thực hành kỹ năng vào
thực tiễn giao tiếp lời nói. Ví dụ ở bài tập 2 trong bài “Đáp lời xin lỗi” các em cần
đáp lời xin lỗi trong 4 tình huống khác nhau. Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh
đóng vai từng cặp 2 em (1 em nói lời xin lỗi- 1 em đáp lại), học sinh có thể sáng
tạo cách nói lời xin lỗi của mình (không nhất thiết phải đúng theo lời trong sách
giáo khoa) và nhiều em đáp lại theo nhiều cách khác nhau ở mỗi tình huống. Ví dụ
tình huống (c) ở bài tập 2 nêu trên có thay nhau hai học sinh nói lời xin lỗi và đáp
lời xin lỗi. Các em có nhiều cách nói lời xin lỗi:
+ Xin lỗi bạn. Mình lỡ tay thôi.
+ Ôi! Xin lỗi nhé! Tớ làm bẩn áo cậu rồi!
+ Tớ làm bẩn áo cậu rồi! Đừng trách tớ nhé!
Các em có thể đáp lại các cách như sau:
+ Thôi đã trót rồi mà!
+ Có gì đâu. Lần sau cậu cẩn thận hơn nhé!
+ Ừ! Không sao đâu! Sẽ giặt được mà.
Có thể cho các em đổi vai để học sinh đảm nhận vai giao tiếp khác. Hoặc có
thể cho học sinh thảo luận theo nhóm, thi giữa các nhóm để tìm câu trả lời hay
nhất. Như vậy có thể nói phân môn Tập làm văn theo sách tiếng Việt lớp 2 mới có
nhiều ưu thế để thực hiện nhiệm vụ rèn kỹ năng nói đồng thời còn phát triển ngôn
ngữ cho học sinh. Bên cạnh đó ta cũng phải nắm được đa số bài tập luyện kỹ năng
nói cho học sinh mới đề cập đến quan hệ ngang vai (quan hệ giữa bạn với bạn),
chính vì vậy mà nội dung chưa phong phú, học sinh không được luyện nói với các
tình huống ở quan hệ khác. Không những vậy mà còn có một số bài không xác
định đựoc vai hay khó xác định vai khi hội thoại. Ví dụ như tình huống trong bài:
“Khẳng định, phủ định” (Sách tiếng Việt 2- Tập I trang 54) sách giáo khoa yêu
a) Kiểm tra bài cũ: Yêu cầu học sinh làm lại bài tập ở tiết trước, bài tập về
nhà hoặc nhắc lại những nội dung cần ghi nhớ về kiến thức, kĩ năng ở bài trước.
Ví dụ: Dạy bài: “đáp lời xin lỗi”, kiểm tra bai cũ bài “Đáp lời cảm ơn”:
- Gọi 2 học sinh: 1 em: Nói lời cảm ơn.
1 em: Đáp lời cảm ơn của bạn.
(Hai em đổi vai)
- Khi nào ta cần nói lời cảm ơn với người khác?
12
b) Dạy bài mới:
- Giới thiệu bài: Theo gợi ý trong sách giáo viên và sự sáng tạo của giáo
viên.
- Hướng dẫn làm bài: Giáo viên thựchiện lần lượt từng bài tập trong sách
giáo khoa nhằm đạt được mục đích, yêu cầu của tiết học đề ra:
+ Học sinh đọc đề bài.
+ Phân tích nêu yêu cầu bài tập.
+ Thực hành (làm bài tập tình huống: nói hoặc đáp…)
Ví dụ bài: Đáp lời xin lỗi.
Bài tập 1: Đọc lời các nhân vật trong tranh:
+ Học sinh quan sát tranh, phân tích nội dung tranh (hai bạn ngồi cùng bàn,
một bạn làm rơi sách của bạn kia…)
+ Nêu yêu cầu của bài tập: Đọc lời nhân vật trong tranh (học sinh đọc lời
nhân vật).
+ Thực hành: Một học sinh nói lời xin lỗi, một học sinh đáp lời xin lỗi của
bạn, học sinh trong lớp nhận xét. Giáo viên có thể cho điểm những cặp học sinh có
lời nói sáng tạo, lời nói hay.
c) Củng cố, dặn dò.
Chốt lại nội dung kiến thức và kĩ năng đã học.
(Ví dụ: Qua bài, em cần ghi nhớ điểu gi?)
Dặn dò thực hành; nêu yêu cầu những hoạt động tiếp nối (chuẩn bị bài sau).
* Chú ý: Dựa vào nội dung, yêu cầu bài tập cụ thể trong sách giáo khoa và
cơ bản:
Giáo viên sau khi nắm vững nội dung chương trình của các dạng bài nghi
thức lời nói thì cần phải nghiên cứu kĩ đặc điểm nội dung của từng bài để giúp học
sinh rèn luyện kỹ năng nói hay hơn vì dạy nghi thức lời nói là một nội dung hoàn
toàn mới mẻ đối với giáo viên. Trong quá trình giảng dạy giáo viên không những
phải bám sát sách giáo khoa và dựa vào gợi ý sách giáo viên để thực hiện giờ dạy
mà còn phải nghiên cứu, lựa chọn thêm một số tình huống để sát với thực tế và bổ
14
sung cho đủ 3 tương quan giao tiếp (ngang vai, với vai trên, với vai dưới…) giáo
viên phải suy nghĩ, chẻ nhỏ câu hỏi để gợi ý học sinh dễ dàng trả lời, dẫn đến giao
tiếp, luyện nói dễ dàng hơn. Sau mỗi tiết dạy hướng dẫn thực hành nghi thức lời
nói thì giáo viên nên suy nghĩ để có rút ra phần ghi nhớ về cách sử dụng lời nói và
tác dụng của nghi thức lời nói. Câu ghi nhớ có thể là câu thành ngữ, tục ngữ, ca
dao hay có thể là những câu vần, những câu thơ ngắn các em dễ nhớ, dễ thuộc. Ví
dụ bài: “Nói lời cảm ơn”, có thể bổ sung ghi nhớ bằng câu ca dao:
Lời nói chẳng mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.
Hay khi dạy bài “Nói lời xin lỗi” hoặc “Đáp lời xin lỗi” các em phải rút ra
bài học: Khi làm phiền người khác phải nói lời xin lỗi, khi nghe người khác xin lỗi
cần đáp lại với thái độ nhẹ nhàng, thông cảm.
Ngoài ra, với mỗi Nghi thức lời nói giáo viên nên đưa ra các đáp án phong
phú hơn. Một số nghi thức lời nói thông dụng có thể giới thiệu thêm một vài cách
nói phổ biến trong thực tế đời sống. Ví dụ: khi dạy lời chào, có thể có nhiều cách
chào khác nhau:
- Chào nhau lúc gặp mặt khác lời chào chia tay.
- Với những người quen thân khi mới gặp nhau, có thể dùng lời hỏi thay cho
lời chào.
Ví dụ: - Cậu đi đâu đấy?
- Cô đi chợ ạ?
Câu hỏi thay cho lời chào có thể hiểu ở dạng người nghe không cần trả lời
tránh nôn nóng áp đặt cho các em các câu hỏi, câu trả lời theo một khuôn mẫu
nhất định. Cần khuyến khích, động viên tạo không khí thoải mái để các em tự nêu
cách nói của mình, không bắt trước theo bạn. Ở mỗi loại bài tập có thể cho các em
đóng vai cùng cặp với mình, sau đó đổi vai nhau để các em được diễn đạt lời nói
16
trong từng tình huống khác nhau ( người trao lời nói và người đáp lời nói ) một
cách tự nhiên thoải mái, tránh luyện nói một chiều.
CHƯƠNG III: THỰC NGHIỆM
1. Mục đích thực nghiệm:
Trên cơ sở xác định rõ mục đích rèn kĩ năng nói cho học sinh qua các giờ
Tập làm văn dạng bài Nghi thức lời nói, và để đánh giá tính khả thi của các các
biện pháp đã được đề xuất ở chương II, tôi đã mạnh dạn đưa phương pháp dạy
theo nghiên cứu của tôi vào dạy môt lớp 2 để đối chứng với một lớp 2 dạy bình
thường( năm học 2010-2011).
2. Đối tượng thực nghiệm:
Tôi đã tổ chức thực nghiệm ở lớp 2A và 2B trường tiểu học Long Hưng,
huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, đây là hai lớp chất lượng học sinh tương đương
nhau.
Lớp dạy bình thường: Lớp 2A - Sĩ số: 30 em
Lớp dạy thực nghiệm: Lớp 2B - Sĩ số: 31 em
3. Nội dung thực nghiệm:
Bài dạy: Đáp lời xin lỗi.
Sau đây tôi xin trình bày giáo án dạy lớp 2B theo ý tưởng đã nêu ở chương II.
I. Mục tiêu :
Biết đáp lời xin lỗi trong giao tiếp đơn giản.
(Thực hành soạn và dạy phần “Nghi thức lời nói”)
II. Đồ dùng dạy học :
Tranh minh hoạ trong sách giáo khoa phóng to
Phiếu học tập cá nhân.
III. Các hoạt động dạy học :
ơn.
+ Khi người khác cảm ơn
em thì em phải khiêm tốn
đáp lại.
+ Có gì đâu. Cậu cứ đọc đi.
- Em đáp lại với thái độ
khiêm tốn
- Em cần phải đáp lại lời
xin lỗi đó.
- 2 em nhắc lại đầu bài
- Khi em làm đổ mực của
bạn hay khi chạy va vào
một em nhỏ hoặc em quên
việc mẹ dặn.
- Khi em làm phiền người
khác
=> Gọi 2 em học sinh trả
lời, 1 em nhắc lại.
18
a. Đọc lời các
nhân vật trong
tranh:
+ Giáo viên treo tranh phóng to
hỏi:
- Trong tranh có những ai?
- Các bạn ấy đang làm gì?
- Bạn kia đáp lại thế nào ?
+ Gọi môt em lên chỉ tranh và
nhắc lại lời bạn trong tranh.
- Học sinh nhận xét các
bạn vừa trả lời.
- Học sinh lấy phiếu bài
tập, đọc yêu cầu bài tập.
19
b, Đáp lại lời xin
lỗi trong các tình
huống sau:
cầu học sinh đọc và giải quyết
từng tình huống.
a, Một bạn nghịch làm mực bắn
vào áo em, xin lỗi em: “Xin lỗi
bạn. Mình lỡ tay thôi.”
- Nếu bạn xin lỗi em, em sẽ đáp
lại ra sao?
- Nếu em vô ý làm mực bẩn áo
bạn, em sẽ làm gì?
- Em nào có câu nói khác trước
lời xin lỗi của bạn?
- Vết mực trên áo em có thể làm
sạch đựoc không? Em sẽ nói thế
nào để bạn bớt lo ngại?
- Giáo viên mời 2 em A và B
đóng vai 2 bạn trong tình huống
(a) để nói và đáp lời xin lỗi (đổi
vai cho nhau)
b, Trên sân trường, một em nhỏ
lớp Một vô ý chạy va vào người
em, xin lỗi em: “Xin lỗi! Em vô
ý quá!”
xuất ở cơ quan nên bố không đi
được, bố xin lỗi em: “Xin lỗi
con nhé! Hôm nay bố bận quá!”
- Em đáp lại lời bố như thế nào?
=> Trong 3 tình huống a, b, c vì
sao bạn em, em nhỏ và bố phải
xin lỗi em?
* Khi vô ý làm điều không phải
với người khác, ta cần nói lời
xin lỗi. Còn trong tình huống
sau đây, các em hãy suy nghĩ vì
sao bạn xin lỗi em?
d, Một bạn vội nói với em trên
cầu thang: “Xin lỗi, cho tớ đi
trước một chút!”
+ B: Em xin lỗi! Em không
cố ý.”
A: “Em làm đau anh rồi!
Lần sau em phải chạy từ từ
nhé!”
- Học sinh nhận xét.
+ “Không sao đâu ạ. tuần
sau bố cho con đi nhé!”
+ “Thôi bố ạ! Lúc nào có
thời gian bố cho con đi
cũng được.”
- Vì bạn và em nhỏ đã vô ý
làm điều không phải với
em, còn bố xin lỗi vì bố lỡ
hứa nhưng không thực hiện
+ A: “Cậu có thể cho tớ đi
trước một chút không?”
B: “Ừ, cậu đi trước đi”
+ B: “Xin lỗi, cậu cho tớ đi
trước nhé!”
A: “Không sao đâu! Cậu
cứ tự nhiên”.
- Học sinh nhận xét
- Khi đáp lại lời xin lỗi, em
cần nói nhẹ nhàng, nét mặt
vui vẻ và thông cảm với
người xin lỗi.
- Học sinh thảo luận theo
nhóm.
Đại diện nhóm nêu câu
trả lời.
22
4, Dặn dò
đáp lại lời xin lỗi trong 4 tình
huống vừa luyện tập.
- Trong trường hợp nào cần nói
lời xin lỗi người khác?
- Khi người khác xin lỗi, em
phải làm gì?
- Cho học sinh đọc Ghi nhớ:
Khi làm phiền người khác
Em nói lời xin lỗi
Miệng em nở nụ cười
Vui vẻ nói: “Không sao!”
- Học sinh ghi nhớ:
……………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
24
4. Kết quả thực nghiệm:
Qua việc dạy bài: “Đáp lời xin lỗi” và kết quả thực tế ở hai tiết dạy như sau:
LỚP SĨ SỐ
Số học sinh chưa
biết cách nói
Số học sinh nói
theo hướng đúng
mẫu
Số học sinh nói có
lời nói hay
SL % SL % SL %
2A 30 3 10 19 63 8 27
2B 31 2 6,5 9 28 20 65,5
Lớp 2A được dạy theo đúng nội dung sách giáo khoa và gợi ý hướng dẫn
của sách giáo viên, học sinh được luyện nói một chiều (hoặc nói lời xin lỗi hoặc
đáp lại lời xin lỗi), lời nói của các em chủ yếu được vận dụng theo mẫu, học sinh
chưa biết nói lời hay, lời nói khác mẫu. Các bài tập tình huống chỉ đề cập đến một
tương quan giao tiếp (ngang vai), do đó học sinh khó vận dụng trong thực tế với
những quan hệ giao tiếp thuộc vai trên và vai dưới.
Lớp 2B được dạy theo phương pháp cải tiến, nội dung bài có sự điều chỉnh
đủ 3 tương quan giao tiếp, có hệ thống câu hỏi gợi ý, hướng dẫn. Trên cơ sở quan
sát tranh, học sinh đựoc tiếp xúc với lời nói mẫu, dựa vào câu hỏi gợi ý học sinh
biết nói những lời hay, lời đẹp khác mẫu để đáp lại lời xin lỗi. Ở mỗi bài tập tình
huống, học sinh đựơc đóng vai từng cặp và đổi vai để được luyện nói cả hai
chiều. Bên cạnh đó, bài tập tình huống còn giúp các em hiểu: Không chỉ khi làm
điều không phải với người khác ta nói lời xin lỗi, Mà nếu không thực hiện đựoc
lời hứa hay muốn nhờ một điều gì đó cũng cần nói lời xin lỗi.