Một số kinh nghiệm tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 2 trong phân môn tập làm văn có hiệu quả - Pdf 56

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT THỌ XUÂN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ KINH NGHIỆM TÍCH HỢP GIÁO DỤC KĨ NĂNG
SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 2 TRONG PHÂN MÔN TẬP LÀM
VĂN CÓ HIỆU QUẢ

Người thực hiện: Lê Thị Huyền
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Xuân Thắng
SKKN thuộc lĩnh mực (môn): Tiếng Việt

THANH HOÁ NĂM 2019
1


MỤC LỤC
Trang
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài: ...................................................................................1
1.2. Mục đích nghiên cứu:.............................................................................2
1.3. Đối tượng nghiên cứu: ...........................................................................2
1.4. Phương pháp nghiên cứu: .....................................................................2
1.5. Điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm...................................................2
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KING NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:............................................2
2.1.1. Khái niệm kĩ năng sống: ....................................................................2
2.1.2. Tầm quan trọng của việc giáo dục KNS cho học sinh Tiểu học......3
2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm....4

sinh những vấn đề mà trước đây con người chưa từng gặp, chưa từng trải nghiệm.
Từ đó, con người dễ hành động và ứng phó theo cảm tính nên không tránh khỏi
rủi ro. Vì vậy, giáo dục kĩ năng sống (GDKNS) là điều vô cùng cần thiết để đáp
ứng những thách thức và nắm bắt thời cơ trong thời kì hội nhập quốc tế và công
nghiệp hóa. Chính vì thế, trong những năm gần đây GDKNS cho học sinh đã
được đưa vào các nhà trường bằng các văn bản chỉ đạo, các Chỉ thị, các Nghị
quyết và được coi là một nội dung quan trọng trong việc giáo dục học sinh hướng
tới hình thành những thói quen tốt giúp người học thành công. Nội dung GDKNS
đã được tích hợp trong các môn học và hoạt động giáo dục. Đặc biệt, rèn luyện
KNS cho học sinh được Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định là một trong năm nội
dung cơ bản của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh
tích cực.” Chính vì thế KNS được gắn với bốn trụ cột của giáo dục đó là: Học để
biết; Học làm người; Học để sống với người khác và Học để làm.
Trong thời đại hiện nay, KNS có thể được coi là những nhịp cầu giúp con
người biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen lành mạnh, tích cực.
Người có KNS phù hợp sẽ luôn vững vàng trước những khó khăn, thử thách.
Ngược lại người thiếu KNS thường dễ bị vấp ngã, dễ thất bại trong cuộc sống.
Tập làm văn là phân môn mang tính chất thực hành tổng hợp các kiến thức
từ các phân môn Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu trong chương trình Tiếng
Việt Tiểu học. Học Tập làm văn đối với học sinh lớp Hai là bắt đầu học kĩ năng
tạo lập văn bản nói và văn bản viết, kĩ năng kể, tả đơn giản về những sự vật gần
gũi, gắn bó với đời sống các em và kĩ năng giải quyết các tình huống đơn giản rất
gần gũi trong cuộc sống hằng ngày. Do vậy, chương trình và nội dung dạy học
phân môn Tập làm văn ở Tiểu học nói chung, ở lớp Hai nói riêng chứa đựng
nhiều nội dung liên quan đến KNS và có khả năng tích hợp KNS rất cao.
Trong thực tế, có một bộ phận không nhỏ giáo viên cũng như phụ huynh
học sinh chưa chú ý đến việc rèn KNS cho các em mà còn chú trọng nhiều đến
hình thành kiến thức. Trong khi đó, xã hội ngày càng phát triển dẫn đến những đổi
mới về môi trường sống, hoạt động và học tập của thế hệ trẻ theo cả hai hướng:
tích cực và tiêu cực. Một bộ phận học sinh đã bắt nhịp tốt với yêu cầu phát triển

- Phương pháp dạy thực nghiệm.
1.5. Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm
Đã có rất nhiều người nghiên cứu và viết về đề tài này nhưng chủ yếu quan
tâm đến các hoạt động ngoài giờ lên lớp và các môn học khác mà ít quan tâm
đưa vào lồng ghép KNS trong môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm
văn nói riêng.
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.1.1. Khái niệm về kĩ năng sống
KNS là gì? Có nhiều quan niệm khác nhau về KNS:
- Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), KNS là khả năng để có hành vi
thích ứng và tích cực, giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước nhu cầu và
thách thức của cuộc sống hàng ngày.
- Theo Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEP), KNS là cách tiếp cận
giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới. Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân
bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kĩ năng.
- Theo Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO),
KNS gắn với 4 trụ cột của giáo dục, đó là: Học để biết - Học làm người - Học
để sống với người khác – Học để làm.
2


Tuy có sự khác biệt giữa các quan niệm về KNS nhưng có thể nói bản
chất của KNS là kĩ năng tự quản lí bản thân và các kĩ năng xã hội cần thiết để cá
nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả. Nói cách khác, KNS
là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với
những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình
huống của cuộc sống.(Mã Mô đun TH 39 – Tài liệu BDTX giáo viên Tiểu học)
Ví dụ: Ở nhà một mình các em có khả năng đối phó với kẻ xấu, tự bảo vệ
mình,….

Như vậy, việc trang bị các KNS cho học sinh Tiểu học giúp trẻ rèn luyện kĩ năng
tư duy, cách xử lý trong tình huống để trẻ tự phát triển về nhận thức cũng như
nhân cách của bản thân sau này.
- GD KNS nhằm thực hiện yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông. Mục tiêu
giáo dục đã chuyển từ chủ yếu là trang bị kiến thức cho học sinh sang trang bị
3


những năng lực cần thiết cho các em đặc biệt là năng lực hành động, năng lực
thực tiễn.
Chương trình và nội dung dạy học phân môn Tập làm văn chứa đựng
nhiều nội dung liên quan đến KNS. Thông qua các hoạt động học tập, học sinh
được phát huy trải nghiệm, rèn kĩ năng hợp tác, bày tỏ ý kiến cá nhân, đóng
vai… Đây chính là cơ hội rèn luyện, thực hành nhiều KNS cần thiết.
2.2. Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.2.1. Đối với học sinh
Học sinh phổ thông nói chung và học sinh Tiểu học nói riêng hiện nay còn
rất nhiều hạn chế về KNS. Trong quá trình giáo dục, địa phương nơi tôi công tác
thường mới chú trọng đến dạy kiến thức mà chưa chú trọng đến dạy KNS cho học
sinh. Vì vậy việc thích ứng với xã hội, với cuộc sống xung quanh là vấn đề khó
khăn với các em. Qua điều tra, khảo sát cho thấy một số tình trạng sau:
- Tình trạng học sinh nói tục, chửi bậy.
Rất nhiều học sinh trong trường tôi, trong lớp tôi chủ nhiệm sẵn sàng
văng tục chửi bậy khi mà gặp điều gì đó không vừa ý. Giữa hai bạn trong lớp có
thể đang chơi với nhau vẫn xảy ra mẫu thuẫn, tranh luận rồi dẫn đến cãi vã nhau
tức thì.
- Tình trạng học sinh nói chuyện chưa lịch sự, chưa lễ phép, phát biểu xây
dựng bài chưa thành câu.
Ví dụ: Khi gặp một ai đó, các em chào “Bác.” thay cho câu chào đầy đủ
“Cháu chào bác ạ.”; Hoặc khi được giáo viên hỏi “Em hãy cho biết theo lời cha,

Học sinh đáp: “Không sao đâu.”, “Không có gì đâu.”
Cách đáp này có thể chấp nhận được, không sai gì cả. Tuy nhiên đáp như
vậy chưa thể hiện rõ được sự cảm thông, chia sẻ với bạn.
2.2.2. Đối với Giáo viên
- Hiện nay công tác GDKNS của giáo viên tới học sinh đôi lúc chưa được
thường xuyên, liên tục và chưa được quan tâm đúng mức. Giáo viên mỗi người
hiểu, tiếp cận và thực hiện một cách khác nhau. Một bộ phận giáo viên vẫn coi
nhẹ công tác chủ nhiệm lớp do đó công tác rèn KNS cho các em đem lại hiệu quả
chưa cao.
- Do trình độ và khả năng nhận thức của GV nên hình thức, phương pháp
truyền tải KNS đến các em chưa linh hoạt, chưa phù hợp nên dẫn đến học sinh
chưa có cơ hội, điều kiện để trải nghiệm, thực hành KNS trong các hoạt động.
Đôi khi, có những GV do cố gắng chạy theo chất lượng, dành nhiều thời gian để
dạy kiến thức hơn là rèn KNS. Mặt khác, nhiều giáo viên không được tập huấn
về công tác giáo dục KNS cho học sinh nên chưa có phương pháp giáo dục phù
hợp và thực sự có hiệu quả.
- Chương trình GDKNS chủ yếu đang được tích hợp, lồng ghép trong một
số môn học và một số hoạt động giáo dục khác cho nên chưa có nhiều thời gian
để học sinh vận dụng. Các hoạt động tập thể về GDKNS cơ bản mới đảm bảo
được chiều rộng, đó là cung cấp thông tin, lý thuyết mà chưa đi sâu vào các tình
huống thực tế để các em có cơ hội thực hành, vận dụng vào tình huống cụ thể.
2.2.3. Về phía địa phương và phụ huynh học sinh
Trường Tiểu học tôi đang công tác là một trường miền núi của huyện,
người dân chủ yếu làm nông nghiệp. Số học sinh con em dân tộc thiểu số nhiều,
khoảng cách từ nhà đến trường của nhiều em rất xa (có em cách 9 - 10km) nên
các em còn rất rụt rè trong giao tiếp, thậm chí các em ở nhà thường xuyên giao
tiếp với bố mẹ bằng tiếng Mường nên khi ra trường, lớp các em vẫn có thói
quen nói chuyện, trao đổi với nhau bằng tiếng Mường như ở nhà. Các em chỉ
thay đổi khi được giáo viên, bạn bè nhắc nhở thì mới giao tiếp với nhau bằng
tiếng phổ thông (tiếng Kinh). Qua đó cũng đủ để thấy được KNS của các em còn

Kĩ năng
hợp tác

Kĩ năng tự
nhận thức

Kĩ năng
chia sẻ

SL

TL

SL

TL

SL

TL

SL

TL

6

24%

5


13

52%

10

40%

10

40%

Từ kết quả khảo sát ở trên cho thấy, số học sinh có kĩ năng tốt còn ít và số
học sinh chưa có kĩ năng tốt còn nhiều. Vì vậy tôi đề cao việc giáo dục KNS cho
học sinh trong lớp mình chủ nhiệm. Từ đó từng bước tôi xây dựng kế hoạch, đưa
ra các giải pháp và áp dụng trong quá trình dạy học nói chung, trong phân môn
Tập làm văn nói riêng.
2.3. Các giải pháp giải quyết vấn đề
2.3.1. Tạo sự gần gũi, thân thiện giữa giáo viên và học sinh
- Đầu tiên, sau khi nhận lớp, để tạo sự gần gũi, gắn kết giữa học sinh và
Giáo viên chủ nhiệm, tôi đã tạo điều kiện để học sinh tự giới thiệu về mình trước
cô giáo và tập thể lớp. Khuyến khích các em chia sẻ với giáo viên, với bạn về
những đam mê, sở thích, ước mơ và cả những khó khăn trong học tập, trong cuộc
sống mà các em gặp phải. Đây là hoạt động giúp cô trò chúng tôi hiểu nhau hơn.
- Tôi chủ động đến từng gia đình học sinh, tìm hiểu kĩ hoàn cảnh gia đình
của từng em. Mỗi em có một hoàn cảnh khác nhau: Các em Trịnh Đình Ánh
Dương, Lê Hoàng Phương Nam, Lê Đình Tùng bố mẹ đi làm ăn xa, em phải ở
nhà với ông bà. Em Trần Việt Anh ở nhà với bố mẹ nhưng cả bố và mẹ đều là
người khuyết tật, tự phải bươn trải kiếm sống để lo cho hai anh em. Em Tou Neh


1

2

3

4

Nội dung
chính bài học
Tự giới thiệu

Chào hỏi. Tự
giới thiệu

Sắp xếp câu
trong bài; Lập
danh sách học
sinh
Cảm ơn, xin
lỗi

Các KNS cơ bản được
giáo dục
- Tự nhận thức về bản thân.
- Giao tiếp: cởi mở, tự tin
trong giao tiếp, biết lắng
nghe ý kiến người khác.
- Tự nhận thức về bản thân.


7


5

7

8

10

11

13

15

16

17
19
21

Trả lời câu hỏi.
Đặt tên cho
bài. Luyện tập
về mục lục
sách.
Kể ngắn theo

- Giao tiếp: cởi mở, tự tin
Chia buồn, an
trong giao tiếp, biết lắng
ủi.
nghe ý kiến người khác.
- Tự nhận thức về bản thân.
- Xác định giá trị.
- Tự nhận thức về bản thân.
Kể về gia đình
- Tư duy sáng tạo.
- Thể hiện sự cảm thông.
- Thể hiện sự cảm thông.
Chia vui. Kể
- Xác định giá trị.
về anh chị em
- Tự nhận thức về bản thân.
Khen ngợi. Kể - Kiểm soát cảm xúc.
ngắn về con - Quản lí thời gian.
vật. Lập thời - Lắng nghe tích cực.
gian biểu
Ngạc nhiên, - Kiểm soát cảm xúc.
thích thú. Lập - Quản lí thời gian.
thời gian biểu. - Lắng nghe tích cực.
Đáp lời chào, lời - Giao tiếp: Ứng xử văn hóa.
tự giới thiệu.
- Lắng nghe tích cực.
Đáp lời cảm ơn. - Giao tiếp: Ứng xử văn hóa.
(Bài tập 2)
- Tự nhận thức.


- Bài tập tình huống.
Thực hành đáp lại lời
chào theo tình huống.
Thực hành đáp lại lời
cảm ơn theo tình huống.
8


25,
26

Đáp lời xin lỗi.
(Bài tập 2)
Đáp lời đồng ý
(Bài tập 1)

28,
29

Đáp lời chia vui
(Bài tập 1)

22

31
32
33

Đáp lời khen
ngợi (Bài tập1)

ủi theo tình huống.

Như vậy, nhìn vào nội dung tích hợp GDKNS trong phân môn Tập làm văn
lớp Hai, ta thấy có rất nhiều kĩ năng được giáo dục cho học sinh qua các bài tập.
Ví dụ: Bài tập 2 trang 39 (Sách Tiếng Việt 2, Tập 2): Em, đáp lại lời
xin lỗi trong các trường hợp sau như thế nào?
a, Một bạn vội, nói với em trên cầu thang: “Xin lỗi. Cho tớ đi trước một
chút.”
b, Một bạn vô ý đụng người vào em, vội nói: “Xin lỗi. Tớ vô ý quá.”
c, Một bạn nghịch, làm mực bắn vào áo em, xin lỗi em: “Xin lỗi bạn.
Mình lỡ tay thôi.”
d, Bạn xin lỗi em vì quên mang sách trả em: “Xin lỗi cậu. Tớ quên mang
sách trả cậu rồi.”
Với nội dung bài tập này tôi sẽ hướng dẫn trên lớp như sau:

Hoạt động của GV
- GV cho học sinh đọc đề bài.
- GV gọi H đọc lại các tình huống.

Hoạt động của HS
- 1 HS đọc đề bài bài tập 2.
- 1 HS đọc lại 4 tình huống trong bài
tập.
- GV hỏi: Bài tập yêu cầu chúng ta làm - Đáp lại lời xin lỗi trong các trường
gì?
hợp.
- GV hướng dẫn học sinh: Để có lời - H nghe GV hướng dẫn.
đáp phù hợp với từng trường hợp các
em cần chú ý xác định: Hoàn cảnh giao
tiếp, đối tượng giao tiếp, mục đích giao

vai).
- GV theo dõi, giúp đỡ các nhóm.
- GV tổ chức cho HS trình bày kết quả
thảo luận trước lớp.

- … Là bạn (ngang vai)
- H có thể đáp: Không sao đâu!
Không có gì đâu!
- H nhận xét: Cách đáp của bạn phù
hợp nhưng chưa thể hiện sự cảm thông
với bạn bè.
- HS: Vâng! Bạn cứ tự nhiên.
Bạn vội, bạn cứ đi trước đi.

- 2HS cùng bàn nói cho nhau nghe
những lời đáp phù hợp.

- H đại diện nhóm trình bày trước lớp
+ Trường hợp b:
Không sao đâu!
Không sao đâu! Bạn đừng ngại.
Không việc gì đâu bạn.
+ Trường hợp c:
Không việc gì cả. Không ai muốn thế
đâu bạn.
Không sao đâu! Về mẹ tớ tẩy là sạch
vết bẩn thôi mà. Có ai muốn thế đâu.
+ Trường hợp d:
Ngày mai cậu trả tớ cũng được. Mình
chưa cần đâu.

triển theo. Để từ đó các em có cách ứng xử phù hợp với những tình huống tương
tự xảy ra trong cuộc sống hằng ngày (có thể là bạn bè cùng tuổi, người lớn tuổi,
em nhỏ) thì các em luôn có cách xử lí lịch sự, nhã nhặn. Có thể nói không chỉ có
một kĩ năng được giáo dục trong bài tập mà có sự kết hợp nhiều kĩ năng với
nhau như kĩ năng giao tiếp, kĩ năng chia sẻ,…..
Cụ thể, học sinh lớp tôi đã mạnh dạn nêu ý kiến riêng của mình, đã biết
xử lí phù hợp trong một số tình huống mà tôi đã chứng kiến, nhìn thấy hoặc
nghe trao đổi.
Ví dụ:
- Trong buổi dự Đại hội Liên đội của trường tổ chức, các em đã mạnh
dạn giơ tay tham gia phát biểu ý kiến tham luận trong Đại hội.
- Kết thúc học kì một trong năm học 2018 – 2019, tôi tổ chức cho học sinh
bình bầu danh hiệu học sinh đạt thành tích để được Khen thưởng học kì 1, nhiều
em đã mạnh dạn nêu những điểm mạnh, điểm yếu của bạn mình và đã nêu rất
to,
rõ ràng.
- Hoặc qua trao đổi với phụ huynh, tôi được biết có những em sau buổi
học về đến gia đình đã nói với bố mẹ là: “Mẹ ơi, mẹ lên xin co cho con làm lớp
trưởng đi. Dạo này cô khen con học tốt và giúp đỡ bạn trong học tập rất tiến bộ
mẹ ạ.” Quả thật, khi nắm bắt thông tin từ phía phụ huynh về chính con em của
họ tôi thấy kĩ năng giao tiếp của các em thật sự đã có tiến bộ nhiều. Mặc dù
không biết mình có thể làm tốt được không nhưng em học sinh đó cũng đã tự tin
và dám khẳng định mình trước mọi người.
Kĩ năng tự nhận thức cũng được tích hợp nhiều trong các bài tập của
phân môn Tập làm văn. Qua các bài tập, không chỉ giúp các em biết nói lời đáp
thông thường mà còn giúp các em phải tự nhận thức được lời đáp của mình đã
11


thể hiện là người ứng xử có văn hóa hay chưa, tự nhận thức được việc làm cách

nếu được người khác hướng dẫn theo cách làm khác. Các sinh hoạt đời thường
cũng vậy, “Cô con bảo thế”, “Cô con làm thế” là những câu nói mà ta hay nghe
trẻ trả lời lại với các bậc phụ huynh. Từ những việc làm rất nhỏ của giáo viên
đều được các em soi vào để bắt chước.
Ví dụ: Trước một tình huống đơn giản: Một học sinh trong lớp chẳng may
bút hết mực hỏi mượn các bạn không được. Cô giáo cho em đó một cái bút hoặc
chỉ là cho em mượn cái bút. Các bạn học sinh trong lớp nhìn thấy sẽ học theo
sẵn sàng cho bạn mượn bút nếu tình huống này lặp lại.
Tôi đã nhìn thấy các em mời bạn ăn chung hộp xôi, ăn chung mẩu bánh
mì khi bạn chưa kịp ăn sáng. Thậm chí, tôi còn được nghe phụ huynh nói lại là
có những em bắt chước đúng giọng của cô, cách chỉ bảng và nhớ lại cách dạy, cả
các câu hỏi cô hỏi ở lớp để tổ chức “Trò chơi lớp học” ở nhà với một nhóm bạn.
12


Điều này chứng tỏ tôi đã hình thành được cho các em kĩ năng thông cảm,
chia sẻ, kĩ năng ra quyết định khi giải quyết vấn đề. Vì vậy, hơn ai hết người
Giáo viên phải là tấm gương chuẩn mực để học sinh noi theo.
* Những tấm gương mà các em được biết qua sách báo, nghe kể lại cũng
góp phần GDKNS cho các em rất tốt. Tuy nhiên theo tôi, tấm gương gần gũi
nhất, trực quan nhất chính là bạn bè trong lớp. Trong lớp tôi có những học sinh
biết giúp đỡ bạn trong học tập, trung thực, thật thà, có kĩ năng giao tiếp tốt, thể
hiện sự tự tin, tư duy sáng tạo… Đó chính là những tấm gương để bạn khác học
theo.
Cụ thể: Đầu năm học tôi đã phát động tới học sinh phong trào “Nói lời
hay, làm việc tốt” nhằm tạo cơ hội cho các em phát huy khả năng của mình.
Trong các hoạt động dạy học cũng như những lúc cô trò giải lao tôi thường nhắc
nhở học sinh phải thực hiện tốt “Năm điều Bác Hồ dạy”, phải biết quan tâm,
chia sẻ và giúp đỡ khi bạn gặp khó khăn, phải thật thà, trung thực. Chính vì thế,
học sinh lớp tôi luôn “gọi bạn – xưng tôi”, tạo ra cách ứng xử văn hóa, gần gũi

Ví dụ: Bài tập 1 trang 114 (Sách TV2, tập 2): Nói lời đáp của em
trong trường hợp sau: Em vứt một hòn đá nằm giữa đường sang bên đường để
người qua đường khỏi bị vấp; một cụ già nhìn thấy, khen em.”
Với tình huống trong bài tập này, tôi thấy giống câu chuyện Qua suối. Tôi
tiến hành hướng dẫn học sinh như sau:
Hoạt động của GV
- GV gọi HS đọc đề bài.
- GV gọi H đọc lại tình huống.
- GV hỏi:
+ Bài tập yêu cầu chúng ta làm gì?
- GV nhắc HS: Bài tập yêu cầu đáp lại
lời khen ngợi.
- GV kể cho HS nghe câu chuyện “Qua
suối” kết hợp chỉ trên tranh.
- GV hỏi:
+ Có chuyện gì xảy ra với anh chiến
sĩ?
+ Khi biết hòn đá bị kênh, Bác bảo anh
chiến sĩ làm gì?

Hoạt động của HS
- 1 HS đọc
- 1 H đọc lại tình huống.
- HS trả lời
- Nói lời đáp
- HS nghe, nhớ.
- HS nghe, kết hợp quan sát tranh GV
chỉ.
- HS trả lời
- Một chiến sĩ trượt chân bị ngã.

ngã.
14


+ Việc làm đó thể hiện điều gì?

- Thể hiện sự quan tâm của mình đến
người khác.
+ Việc làm của bạn có giống anh chiến - Có
sĩ trong câu chuyện “Qua suối” không?
- GV giáo dục HS: Vậy qua tình huống - HS nghe, ghi nhớ.
này ta đã học tập được phong cách của
Bác Hồ đó là dù mình đã vượt qua khó
khăn nhưng hãy biết quan tâm đến
những người xung quanh.
- GV đưa ra một tình huống tương tự: - HS nghe, nêu cách xử lý
“Khi đi trên đường làng, em dẫm phải Nhặt gai ném vào bụi cây rậm; nhặt cái
cái gai, em sẽ làm gì với cái gai đó?” . gai bỏ vào túi bóng và khi nào gặp hố
Yêu cầu H nêu cách xử lý.
rác thì bỏ vào hố,…
- GV chốt lại: Các cách xử lý đều
hợp lí.
Được cô giáo kể cho nghe những mẩu chuyện về Bác Hồ, các học sinh
của tôi thêm kính yêu Bác. Từ lòng kính yêu đó mà việc học tập, noi theo tấm
gương Bác Hồ đã trở nên rất tự nhiên trong ý thức của các em. Học sinh của tôi
đã tự nhận thức được vấn đề, biết quan tâm, chia sẻ với bạn, với người xung
quanh nhiều hơn.
Trên thực tế, tôi đã nhìn thấy học sinh của tôi học tập và làm theo tấm
gương của Người từ những việc làm nhỏ nhất, thiết thực nhất trong cuộc sống
hằng ngày để thể hiện sự quan tâm đến mọi người.

Em và Lam quay lại thì thấy bác bảo vệ đã đóng cửa, đi nghỉ. Ngại ngần
một lát em quyết định gọi cửa. Bác bảo vệ mở cửa nói:
- Cháu vào đi!
Em nói với bác:
- Cháu cảm ơn bác! Cháu làm phiền bác quá.
Theo tôi, việc xây dựng thành tiểu phẩm sẽ hấp dẫn học sinh hơn vì học
sinh thích được đóng vai. Hơn nữa, những tiểu phẩm như vậy cũng rất gần gũi
với cuộc sống hàng ngày của các em. Hơn nữa, trong đóng vai sẽ giúp các em
có cơ hội hợp tác với nhau, được thể hiện trước đông người sẽ tự tin hơn, mạnh
dạn hơn.
Một ví dụ khác: Đề bài: Viết đoạn văn ngắn (khoảng 4 – 5 câu) để nói
về một con vật em thích. (Tiết 10 – Tuần 27 – TV2, Tập 2)
Đối với học sinh lớp Hai, yêu cầu viết đoạn văn là rất khó khăn. Các em
không biết phải kể những gì về con vật, không tìm được đặc điểm nổi bật của
con vật. Với những dạng bài tập này, tôi định hướng cho học sinh về thực hành
chăm sóc, vuốt ve, chơi với con vật như con chó, con mèo, gà,…. ( GV lưu ý HS
không trêu chọc con vật để tránh bị cắn, tránh bị cào). Hoặc quan sát thật kĩ qua
nhiều hoạt động như lúc con vật ăn, con vật ngủ (con gà, con lợn, con chim…).
Gần gũi với con vật giúp các em có tình cảm yêu quý con vật thực sự và khi đó
việc viết đoạn văn xuất phát từ tình cảm thật sẽ dễ dàng hơn.
Để tăng cường tính thực hành, vận dụng các KNS cho học sinh tôi phối
kết hợp với Ban chỉ huy Liên đội của nhà trường tổ chức những buổi sinh hoạt
dưới cờ với nhiều hình thức như múa hát, kể chuyện, đọc thơ, sinh hoạt sao nhi
đồng,…tạo điều kiện để các em thể hiện kĩ năng giao tiếp, kĩ năng lắng nghe
tích cực, kĩ năng nhận thức, kĩ năng xác định giá trị.
2.3.5. Phối kết hợp với phụ huynh học sinh trong việc GDKNS tại
gia đình.
Đây cũng là một biện pháp mà tôi cho là hết sức hiệu quả. Việc GDKNS
cho học sinh không chỉ là nhiệm vụ của nhà trường mà đó còn là trách nhiệm
của các bậc phụ huynh. Vì gia đình luôn là nơi giáo dục tốt nhất cho việc hình

Như vậy, cùng một lúc học sinh luôn luôn được hình thành những kĩ năng
cần thiết từ phía cô giáo và từ phía gia đình sẽ nhanh chóng giúp các con hoàn
thiện các KNS. Vì vậy, việc giáo viên tuyên truyền đến phụ huynh cùng chung
tay rèn KNS cho học sinh là hết sức cần thiết.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Với tinh thần trách nhiệm của một người giáo viên, cộng với lòng yêu
nghề, mến trẻ và áp dụng những biện pháp trên cho đến nay tôi thấy học sinh có
tiến bộ rõ rệt. Các em không chỉ tiếp thu bài tốt hơn mà còn biết vận dụng các
kiến thức vào trong thực tiễn cuộc sống sinh hoạt hằng ngày. Cụ thể: Nhiều em
mạnh dạn trong giao tiếp; Tự tin trong học tập, nhiều em hăng hái phát biểu ý
kiến xây dựng bài, nói to, rõ ràng; Tự chủ trong quan hệ xã hội; Thích tham gia
các hoạt động giáo dục và các hoạt động tập thể. Trong các mối quan hệ đó các
em biết nói lời chào hỏi, lời cảm ơn, xin lỗi phù hợp; Biết chia sẻ niềm vui, nỗi
buồn cùng người khác; Biết bày tỏ quan điểm của mình và xử lí tình huống một
cách hợp lí. Không những thế, nhiều em còn biết nhìn nhận và đánh giá đúng về
bản thân, từ đó có những biện pháp tự điểu chỉnh, điều khiển cho phù hợp cũng
như thích ứng được dễ dàng với các quan hệ xã hội.

17


Sau khi tôi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm vào giảng dạy và tiến hành
khảo sát KNS của học sinh lớp 2B với chủ đề “Kĩ năng của em”. Tổng số học
sinh 25 em.
Kết quả thu được như sau:

Kết quả

Vận dụng tốt


60%

13

52%

16

64%

14

56%

Biết cách vận
7
28%
7
28%
4
16%
8
32%
dụng
Vận dụng
3
12%
5
20%
5



- Cần chú trọng thường xuyên tổ chức hình thức dạy học tích cực trong các tiết
học để học sinh có cơ hội thể hiện được nhiều kĩ năng như: Kĩ năng hợp tác,
chia sẻ; Kĩ năng giao tiếp, Kĩ năng tự nhận thức vấn đề,...
- Giáo viên cần tích cực đổi mới phương pháp dạy học và tổ chức nhiều hoạt
động trong giờ học để tạo hứng thú học tập cho các em. Trong đó chú trọng hơn
các hoạt động luyện tập, thực hành, trải nghiệm.
3.2. Kiến nghị
- Phòng Giáo dục và Đào tạo tăng cường các lớp hội thảo, tập huấn về công
tác tích hợp giáo dục KNS trong các môn học và hoạt động giáo dục để giáo
viên có cơ hội nghiên cứu, học tập và trao đổi kinh nghiệm với nhau. Phòng
Giáo dục cần xây dựng tiêu chí giảng dạy KNS theo từng độ tuổi, từng cấp học
nhất định nhằm nâng cao chất lượng truyền thục kiến thức, tính ứng dụng cho
việc GDKNS. Giúp hình thành nên nhân cách con người hoàn thiện, đáp ứng
nhu cầu thực tiễn của cuộc sống, của xã hội thời kì hội nhập.
- Nhà trường tạo điều kiện đầy đủ về cơ sở vật chất như có đủ số phòng
học cho nhà trường, có đủ đồ dùng dạy học phục vụ cho công tác giảng dạy
của Giáo viên.
- Tạo điều kiện cho học sinh được tham gia nhiều hình thức học tập, giáo
dục để có điều kiện phát triển các KNS.
- Về phía phụ huynh: Trước hết phụ huynh cần hiểu rõ tầm quan trọng của
việc rèn KNS cho con em, tạo một chỗ dựa vững chắc để trẻ chia sẻ, bày tỏ.
Luôn phối kết hợp với nhà trường trong việc giáo dục, rèn luyện cho các em,
cùng theo dõi mọi biểu hiện của trẻ để có sự giáo dục phối hợp.
Trên đây là một số kinh nghiệm tích hợp giáo dục KNS vào trong dạy học
Tập làm văn mà tôi đã áp dụng trong năm học 2018 - 2019 có hiệu quả. Bản
thân tôi mong muốn những biện pháp đưa ra được áp dụng cho toàn khối Hai
nói riêng và trường Tiểu học tôi đang công tác nói chung trong việc tích hợp
giáo dục KNS cho học sinh. Với kinh nghiệm còn ít nên bài viết chắc chắn sẽ có

CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ XẾP
LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI
TỪ C TRỞ LÊN

Họ và tên tác giả:

LÊ THỊ HUYỀN

Ngày sinh:

20/08/1980

Ngày vào ngành:

25/12/2002

Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên, trường Tiểu học Xuân Thắng, Thọ
Xuân, Thanh Hóa
Kết quả
Cấp đánh giá
đánh giá
xếp loại
TT
Tên đề tài SKKN
xếp loại
(Phòng, Sở,
(A, B,
Tỉnh...)
hoặc C)
Một số biện pháp giúp học sinh



dục Kĩ năng sống cho học sinh lớp
2 trong phân môn Tập làm văn có
hiệu quả

GD&ĐT
huyện Thọ
Xuân

22




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status