SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NÔNG CỐNG
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TẠO BIỂU TƯỢNG VỀ NHÂN VẬT LỊCH SỬ TRONG
CHƯƠNG TRÌNH LỊCH SỬ LỚP 8
ĐỂ GIÁO DỤC TƯ TƯỞNG, TÌNH CẢM CHO HỌC SINH.
Người thực hiện: Phan Thị Kiều Linh
Chức vụ: Giáo viên.
Đơn vị công tác: Trường THCS Hoàng Gang
SKKN môn: Lịch Sử
I.
PHẦN MỞ ĐẦU
NÔNG CỐNG, NĂM 2018
1
I. MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
Mục tiêu của bộ môn Lịch sử ở trường trung học là nhằm góp phần vào việc đào
tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện. Trong quá trình hội nhập, môn Lịch sử,
đặc biệt là lịch sử dân tộc rất cần được coi trọng để giúp thế hệ trẻ hình thành nhân
cách, bản lĩnh con người và giữ gìn bản sắc dân tộc. Nhưng thực trạng việc dạy và
học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay đặt ra vấn đề cần suy nghĩ. Số lượng học
sinh say mê yêu thích môn Lịch sử là rất ít. Có nhiều phụ huynh và học sinh coi môn
Lịch sử là môn học “phụ”. Nhận thức của các em về lịch sử là sai lệch, các em không
nhớ hoặc nhớ không chính xác thời gian, đặc điểm, tính chất của các sự kiện và hiện
Vậy khắc họa nhân vật lịch sử là gì? Theo cách hiểu của những nhà nghiên cứu
lịch sử thì khắc họa biểu tượng nhân vật lịch sử là “Biểu tượng về những hình ảnh
nhân vật lịch sử, nó vừa mang sắc thái riêng của nhân vật vừa chứa đựng bản chất
của giai cấp, tập đoàn xã hội mà nhân vật đó đại diện được phản ánh trong đầu học
sinh với những nét chung nhất, điển hình nhất”
Là giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Lịch sử tôi rất trăn trở về vấn đề này. Vì
vậy, tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài : “ Tạo biểu tượng về nhân vật Lịch sử trong
chương trình lịch sử lớp 8 để giáo dục tư tưởng tình cảm cho học sinh ” nhằm góp
phần thêm về việc n©ng cao chất lượng giáo dục môn Lịch sử trong nhà trường
phổ thông, tìm ra hướng đi và vị trí xứng đáng dành cho môn Sử ở các trường phổ
thông hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu
Phát huy tính tích cực, chủ động, óc quan sát và tạo hứng thú học tập Lịch sử cho
học sinh thông qua việc khắc họa sâu sắc biểu tượng nhân vật Lịch sử
Thông qua việc tìm hiểu tình hình học tập môn Lịch sử hiện nay giáo viên có thể
đưa ra một số giải pháp nhằm tạo hứng thú cho học sinh trong khi học tập Lịch sử.
Đề ra phương pháp tối ưu trong việc tạo biểu tượng nhân vật Lịch sử khi học
phần Lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về việc tạo biểu tượng các nhân vật Lịch sử Việt Nam
thời kì từ năm 1858 đến năm 1918 cho học sinh lớp 8
b. Phạm vi nghiên cứu
+ Không gian: Việc nghiên cứu thực nghiệm được triển khai tại lớp 8 của trường
THCS Hoàng Giang
+ Nội dung: Có nhiều cách để tạo biểu tượng nhân vật lịch sử như:
♦ Sử dụng các tác phẩm văn học, thơ ca.
♦ Kể những câu chuyện về các nhân vật.
♦ Sử dụng kênh hình có trong SGK của lớp 8
4. Phương pháp nghiên cứu
Lịch sử là bộ môn hấp dẫn song cũng rất khó. Giáo viên ngoài kiến thức sâu
rộng, nhiệt tình sư phạm cần phải huy động, lựa chọn cũng như xử lý về mặt phương
pháp nhằm mang lại hiệu quả cao nhất của giờ học. Tạo biểu tượng nhân vật trong
dạy học các khoá trình lịch sử là một biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả
bài học, góp phần thực hiện việc áp dụng quan điểm mới vào bộ môn.
2. Thực trạng vấn đề
Ngày nay, các nhà sử học nói chung và các nhà giáo dục lịch sử nói riêng đều
nhận thấy rằng tuy cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật như một “cơn lốc” lay động
nhiều lĩnh vực của đời sống nhưng vị trí, ý nghĩa của bộ môn lịch sử ở trường phổ
thông không những vẫn giữ nguyên mà còn tăng lên trong việc đào tạo thế hệ trẻ cho
phù hợp với yêu cầu của cuộc sống.
Qua thực tế khảo sát ở một số trường, chúng tôi có thế đưa ra kết luận rằng:
Chất lượng chưa cao trong giảng dạy lịch sử hiện nay có nhiều nguyên nhân,
trong đó sự bất cập, lạc hậu về phương pháp dạy học lịch sử là một nguyên nhân chủ
yếu. Những bất cập, lạc hậu ấy thể hiện cụ thể:
Trước hết, phải thừa nhận rằng, học môn Lịch sử khó và không hấp dẫn. Ðã là
lịch sử, nhất thiết phải gắn với sự kiện, nhân vật và hiểu lịch sử nhất định phải nắm
4
vững những sự kiện, nhân vật cơ bản, quan trọng trong suốt quá trình hàng nghìn
năm đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.
Thứ hai, chương trình do Bộ Giáo dục và Ðào tạo quy định là yêu cầu học sinh
phải nắm được hầu như tất cả các nội dung về lịch sử Việt Nam và lịch sử thế giới,
trong khi đó, số tiết quy định quá ít, chỉ một tiết học trong một tuần.
Thứ ba, do yêu cầu của chương trình, nội dung trong sách giáo khoa quá nặng, ôm
đồm, thiếu tính chọn lọc, thậm chí một số nội dung thiếu tính liên kết và lô-gích. Nội
dung trong sách giáo khoa như một "đĩa nén", đầy ắp thông tin mà học sinh không
thể nhớ hết được, dẫn đến tình trạng "học trước quên sau".
Thứ tư, xã hội ta hiện nay chưa coi trọng môn Lịch sử và ngành lịch sử. Môn Lịch
3. Giải pháp và tổ chức thực hiện
3.1 Ý nghĩa của việc tạo biểu tượng các nhân vật lịch sử trong giáo dục học sinh
3.1.1. Việc khắc họa biểu tượng nhân vật lịch sử sẽ tạo ra sự kích thích và gây
hứng thú học tập cho học sinh
Vậy hứng thú học tập học sinh là gì? Theo I.Fkharla Noops ( nhà tâm lí giáo dục)
“Hứng thú đó là nhu cầu nhuốm màu xúc cảm, xúc cảm đi trước gây động cơ và làm
cho hoạt động của con người có tính hấp dẫn.” Một bài giảng lịch sử mà nghèo nàn,
tẻ nhạt thì chắc chắn sẽ làm cho học sinh mệt mỏi, chán học. Chính vì vậy, việc khắc
họa biểu tượng nhân vật lịch sử có tác dụng rất lớn trong việc kích thích hứng thú
học tập của học sinh. Bởi vì trong khi lĩnh hội kiến thức khoa học hoàn thành nhiệm
vụ nhận thức thì đồng thời học sinh cũng phát triển năng lực nhận thức kích thích
phát triển tư duy của mình. Hơn nữa mỗi nhân vật lịch sử đều có cá tính, đặc điểm
riêng nên không tạo sự nhàm chán cho học sinh.
Ví dụ: khi khắc họa về hình ảnh cụ Phan Châu Trinh, có thể cho học sinh hiểu
rằng, với hoạt động đấu tranh cứu nước rất sôi nổi song cụ đã thất bại, rơi vào cảnh “
hoa như sắp tàn, hiềm vì quốc phá gia vong, dù hơi tàn cũng phải gào cho hả dạ,
may ra có tỉnh giấc hôn mê”. Hoặc biểu tượng về cụ Phan Bội Châu, với những hoạt
động yêu nước sôi nổi, kết thúc cuộc đời với cảnh “ thân cá chậu chim lồng”,bị giam
lỏng ở Bến Ngự (Huế).
Qua đó, học sinh sẽ hình dung được phong trào yêu nước chống Pháp vào cuối
thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX “dường như trong đêm tối không có đường ra”
3.1.2. Việc khắc họa biểu tượng nhân vật lịch sử góp phần hình thành nhân cách
cho học sinh
Việc khắc họa biểu tượng nhân vật lịch sử cho các em có nhiều ưu thế trong việc
giáo dục tư tưởng tình cảm vì nó không những tác động lên trí tuệ mà còn tác động
vào cả tâm hồn tình cảm của các em.
Thông qua những hành động của các anh hùng những người đấu tranh quên mình
vì chính nghĩa, vì hạnh phúc và hòa bình, điều này tạo ra sự kính phục, lòng tự hào
đối với các vĩ nhân và trong một hoàn cảnh nhất định nó còn thổi bùng ngọn lửa cách
mạng của tuổi trẻ.
có thể trở thành anh hùng, vĩ nhân. Ngược lại nếu cá nhân đó đi ngược lại với quy
luật của lịch sử thì có thể bước đầu có một số kết quả nhất định nhưng cuối cùng
cũng bị lịch sử đào thải và họ có thể trở thành tội đồ.
Tuy nhiên lịch sử cũng không phủ nhận đã có nhiều nhân vật có đóng góp to lớn
tạo nên bước ngoặt trọng đại của mỗi quốc gia, dân tộc, thậm chí có tầm ảnh hưởng
tới cục diện thế giới.
3.2. Yêu cầu đối với việc khắc họa biểu tượng nhân vật lịch sử
Đây là một yêu cầu rất quan trọng khi tìm hiểu về nhân vật lịch sử. Trước tiên tư
liệu chúng ta tiếp cận phải có tính tin cậy cao, đầy đủ và cùng một tính chất, chúng ta
không được“ tô hồng”hay“bôi đen” nhân vật lịch sử. Khi nhận định về nhân vật lịch
sử cần có tính khách quan, công bằng để cho học sinh có cách nhìn đúng đắn.Tài
liệu, sự kiện chính xác yêu cầu người giáo viên phải biết vận dụng những thành tựu
mới nhất của khoa học lịch sử, được nhiều người công nhận.
Tính đầy đủ ở đây là chọn lựa một số sự kiện điển hình nhất vừa sức tiếp thu của
học sinh làm nổi bật được bản chất của nhân vật .
Truyền thống quê hương gia đình dòng họ là quan trọng nhưng không phải là bất
biến, càng không thể phủ nhận ý trí vươn lên của những người từ tầng lớp cần lao.
7
3.3. Các hình thức tạo biểu tượng nhân vật lịch sử.
3.3.1. Sử dụng tiểu sử của nhân vật.
Mỗi bài học lịch sử đều cần phải khắc họa cho học sinh những nhân vật lịch sử cụ
thể, kể cả nhân vật chính diện lẫn nhân vật phản diện, lịch sử là do con người tạo ra.
Vì vậy, không thể có được lịch sử mà thiếu yếu tố con người.
Đối với những bài mà kiến thức cơ bản gắn bó chặt chẽ với một nhân vật lịch sử
thì phải khắc họa cho học sinh những nét tiểu sử quan trọng của nhân vật đó, giúp
học sinh hiểu rõ hơn nội dung của bài.
Ví dụ khi dạy bài “ Cuộc kháng chiến từ năm 1858 đến năm 1873” ở mục II
Hay khi dạy bài 30 “ Phong trào yêu nước chống Pháp từ đầu thế kỉ XX đến
năm1918” khi dạy phần 1 Phong trào Đông du (1905- 1909) thì ta cần nói cho các
em hiểu về Phan Bội Châu như: Ông là một người tiêu biểu cho tầng lớp sĩ phu yêu
nước Việt Nam đầu thế kỉ XX. Phan Bội Châu (1867 – 1940) tên thật là Phan Văn
San, hiệu là Sào Nam, tự là Hải Thụ, sinh ra ở làng Đan Nhiễm, xã Nam Hòa, huyện
Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Năm 17 tuổi ông soạn Bình Tây Thu Bắc. Từ năm 1887 đến năm 1897 lo đọc
sách Tân Thư, tìm kiếm hướng đi mới. Ông đã tiếp nhận và đi theo con đường cách
mạng dân chủ tư sản.
Từ năm 1897 đến năm 1908 chủ trương xây dựng nền quân chủ lập hiến. Viết tác
phẩm “Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư” năm 1903, lập Duy Tân hội năm 1904. Tổ chức
phong trào Đông Du. Từ năm 1909 đến năm 1912 hướng đến nền dân chủ cộng hòa.
Từ năm 1913 đến năm 1925 khủng hoảng và tiếp tục tìm kiếm hướng đi mới. Ông
bị bắt và ngồi tù ở Quảng Đông từ năm1913 đến năm1917. Sau đó tìm hiểu về cách
mạng tháng 10 Nga.
Ngày 30/6/1925 ông bị mật thám bắt tại Hàng Châu và dẫn giải về Hà Nội xử án
chung thân khổ sai. Nhưng trước sức ép của nhiều tầng lớp nhân dân Việt Nam, bản
án được đổi lại thành án quản thúc tại gia.
Từ năm 1926 ông bị đưa về sống ở Bến Ngự - Huế cho đến khi mất vào ngày
29/12/1940.
Tuy nhiên, có trường hợp không cần thiết trình bày toàn bộ tiểu sử của nhân vật
mà chỉ cần nêu đặc trưng, tính cách của nhân vật đó.
Ví dụ như khi dạy bài 26 “ Phong trào kháng chiến chống Pháp trong những
năm cuối thế kỉ XIX” khi dạy mục 2 phong trào Cần Vương bùng nổ, chỉ cần nói sơ
qua về vua Hàm Nghi là được. Ta chỉ cần nói tuy ông lên làm vua khi tuổi còn nhỏ
nhưng tinh thần chống giặc của ông rất mạnh. Vì không chịu sự khống chế của Pháp
nên ông đã ra ngoài thảo chiếu Cần Vương.
3.3.2. Sử dụng tranh ảnh.
Trong dạy môn lịch sử tranh, ảnh có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong việc khôi
thất nặng nề.
Giặc Pháp tìm mọi cách bao vây để đè bẹp cuộc khởi nghĩa. Cuối năm 1895,
chúng huy động tới 3000 lính khố xanh đến bao vây khu căn cứ. Giữa lúc nghĩa quân
đang gặp vô vàn khó khăn thì Phan Đình Phùng bị bệnh nặng và mất trên căn cứ.
Thông qua bức chân dung của Phan Đình Phùng sẽ giúp cho các em hình thành tư
tưởng kính trọng đối với các vị anh hung dân tộc. Đồng thời còn giúp các em hình
dung ra hình ảnh của một chí sĩ yêu nước, một con người với nhiều tài cũng như các
đức tính tốt đẹp.
Hoặc khi dạy bài “ Khởi nghĩa Yên Thế” (1884 – 1913) giáo viên sử dụng chân
dung Hoàng Hoa Thám. Qua việc phân tích bức tranh sẽ làm nổi bật lên những nét
tính cách trong con người ông. Không chỉ có thế mà tôi còn giúp cho các em khắc
họa được chân dung của Hoàng Hoa Thám trong lòng không chỉ về ngoại hình, cách
ăn mặc, tính tình mà cả những nhận định của người Pháp dành cho ông về tài năng
chiến trận.
Nhìn trong ảnh, chúng ta thấy đây là một con người vạm vỡ, tóc ngắn, mắt một
mí. Quan sát ảnh ta có thể thấy ông là người sống kín đáo, giản dị, thuần phác và
khó cởi mở hết lòng với ai nhưng trong đó vẫn toát lên một sự can đảm với lòng kiên
trì. Nhân dân coi ông như một nhân vật thần kì. Ngay cả kẻ thù cũng ca ngợi rằng:
“Đề Thám rất can đảm, ưa hành động, bản năng chiến trận của ông thật là kì diệu”,
10
và phải thừa nhận: “Ông ta có những tài năng lớn của một chiến binh, sẽ là hèn hạ
nếu không công nhận điều đó”.
Hoàng Hoa Thám người làng Dị Chế, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Ông sinh
khoảng năm 1846 trong gia đình nhà nho nghèo họ Trương. Khi phong trào kháng
chiến của nhân dân Yên Thế bùng nổ, ông đã tham gia nghĩa quân của Lương Văn
Nắm. Khi Đề Thám chết được nghĩa quân mến phục và tin tưởng, ông đứng ra lãnh
đạo phong trào. Dựa vào núi rừng hiểm trở, vận dụng linh hoạt chiến thuật du kích,
chỉ với trên dưới 100 nghĩa quân chiến đấu tung hoành với thực dân Pháp. Trong suốt
LÂM CHUNG THỜI TÁC
Nhung trường phụng mệnh thập canh đông
Võ lượt do nhiên vị tấn công
Cùng hộ ngao thiên nan trạch nhạn
Phỉ đồ biến địa thượng đồn phong
Cửu trùng xa giá quan sơn ngoại.
Tứ hải nhân dân thủy hỏa trung
Trách vọng dũ lang ưu dũ trọng
Tướng môn thâm tự quý anh hùng.
Dịch nghĩa
THƠ LÀM PHÚT LÂM CHUNG
Mười năm vâng chiếu cầm quân
Quân cơ võ lượt đâu phần tấu công?
Dân như nhạn đói kêu sương
Quân thù như kiến như ông tụ về.
Vua còn lội suối trèo khe
Dân làng chốn chốn đầy khê lửa nồng.
Ngày đêm canh cánh bên lòng
Tướng môn luống thẹn, anh hùng thuở xưa.
Bài thơ “Lâm Chung Thời Tác”, đã cho thấy tấm lòng luôn hướng về đất nước
của ông, không bao giờ tắt. Dù đã gây cho địch nhiều tổn thất nhưng ông không hề
kiêu ngạo. Dù hơi sắp tàn nhưng lòng yêu nước thương dân vẫn không hề suy giảm.
Bài thơ tuy ngắn nhưng đã nói lên được tâm tư của một người có tấm lòng yêu nước
nhưng lại không đủ sức để bảo vệ yên bình cho đất nước, đem lại cuộc sống ấm no
cho nhân dân.
Đọc bài thơ cho các em nghe để các em hiểu được người xưa không chỉ biết đánh
trận mà còn có tâm hồn thơ ca rất phong phú, họ luôn mượn lời thơ, ý nhạc để nói lên
tâm sự của mình và Phan Đình Phùng cũng không ngoại lệ trước lúc nhắm mắt ông
Mưa nắng càng bền dạ sắt son
Những kẻ vá trời, khi lỡ bước
Gian nan chi việc con con.
CÔN LÔN TỨC CẢNH
Biển dâu biến đổi mấy thu đông
Cụm núi Côn Lôn vẫn đứng trông
Bốn mặt giày vò, oai sóng gió
Một mình che chở, tội non sông
Cỏ hoa đất nảy cây trăm thước
Rồng cá trời riêng biển một vùng
Nước biển non xanh thiêng chẳng nhẽ
Gian nan, xin độ khách anh hùng……
Từ khi Phan Châu Trinh được đưa đến Côn Đảo đã làm cho tinh thần đấu tranh
của anh em ở đây dâng cao hơn. Không chỉ trong tù mà cả bên ngoài cũng có rất
nhiều cuộc biểu tình, bãi công, bãi thị… đòi phải thả Phan Châu Trinh. Dù không
muốn nhưng dưới áp lực của quần chúng nhân dân thì bọn Pháp cũng phải ra lệnh thả
cụ Phan.
13
Thông qua những bài thơ giúp các em hiểu thêm về Phan Chu Trinh. Dựa vào
Pháp để cứu nước nhưng tấm lòng vì dân, vì nước của ông thì không thể nào phủ
nhậnđược. Ở tù nhưng tư tưởng của ông thì vẫn thoáng chứ không hề bị nao lòng hay
gò bó gì về tư tưởng. Những bài thơ trên phần nào đó sẽ giúp cho các em hình thành
tinh thần yêu nước từ lúc còn ngồi trên ghế nhà trường.
Khi đọc các bài thơ trên ta sẽ giúp cho các em nhìn thấy được khí phách của một
nhà cải cách ra sao. Dù đã lâm vào cảnh tù tội nhưng ông vẫn hiên ngang không hề
khiếp sợ, hơn thế nữa đó là một tinh thần quả cảm, lạc quan, tràn đầy hi vọng. Ta
cũng nhấn mạnh cho các em thấy được sức ảnh hưởng của Phan Châu Trinh đối với
mọi người, ở tù thật nhưng mà họ vẫn nghe đến thơ và tư tưởng cải cách của ông, tất
dân Pháp ở Sài Gòn giao trách nhiệm chỉ huy cuộc đánh chiếm thành Hà Nội lần
này:“Tôi yêu cầu phải giao thành theo những điều kiện dưới đây: Ngay ngày hôm
nay tiếp được thư này ông phải ra lệnh cho quân đội của ông rời khỏi thành sau khi
đã hạ khí giới và mở cửa thành. Để cho tôi tin rằng ông thực hiện những điều đó, ông
phải nộp mình cho tôi và cả các ông tuần phủ, bố chánh, án sát, đề đốc, chánh, phó
lãnh binh cũng đều phải nộp mình ở dinh bản chức đúng 8 giờ sáng.”
Bức thư láo xược này làm cho Hoàng Diệu vô cùng căm tức, nhưng ông vẫn
bình tĩnh cho triệu tập ngay các quan văn võ lại để bàn việc giữ thành. Mọi người có
mặt đều thề thà chết, chứ nhất định không đầu hàng. Nhằm tranh thủ thêm thời gian
đẩy mạnh công cuộc chuẩn bị kháng chiến, Hoàng Diệu lập tức cử án sát Tôn Thất
Bá đi gặp Ri-vi-e đề nghị hoãn trả lời một hôm. Nhưng Tôn Thất Bá vừa ra khỏi cửa
thành thì giặc Pháp nổ súng ngay và bộ binh của chúng ở dưới sông Hồng nã hàng
loạt đại bác vào thành.
Ngay từ phát súng đầu tiên của giặc, Hoàng Diệu mặc dù đang ốm vẫn lập tức
cùng tuần phủ Hoàng Hữu Xứng dẫn đầu tướng sĩ xông lên mặt thành bố trí chống
giữ. Ông ra lệnh đóng chặt cửa Đông và cửa Bắc, dồn quân vào cửa phía Nam và cửa
Tây và tuyên bố ai giết được giặc sẽ được thưởng vàng bạc, giết được càng nhiều
phần thưởng càng lớn.
Thừa thế bên trong thành đang rối ren, quân Pháp dồn lực lượng vào đánh phá
cửa thành phía Đông và phía Tây bằng đạn đại bác và thuốc nổ.Phá được cửa thành
rồi, giặc ồ ạt kéo vào như nước chảy. Thấy thành lâm nguy, Bố chánh Phạm Văn
Tuyển, đề đốc Lê Văn Trinh bỏ chạy trước… thế là quân lính rối loạn và tan rã…
Đau lòng nhìn thấy thảm cảnh ấy, Hoàng Diệu quay về dinh, mặc triều phục
chỉnh tề, đi vào hành cung bái vọng và khóc “sức thần đã hết”. Sau đó Hoàng Diệu
đến Võ Miếu thắt cổ tự tử.
Qua câu chuyện kể trên giúp cho các em hiểu thêm về người anh hùng Hoàng
Diệu. Ông đã dùng cả cuộc đời của mình để phụng sự cho đất nước, khi mất thành
ông đã tự vẫn để giữ tấm lòng trung của mình. Từ đó giúp các em học hỏi và rèn
luyện tinh thần yêu nước.
- Đã làm cách mạng thì đâu có sợ chết! Tôi xin đọc một lời di mệnh của một đồng
chí của chúng tôi trước khi bị giặc Pháp bắn để ông nghe: “Yêu nước có tội gì? Chỉ
có tinh thần là chẳng chết! Đánh tây chưa được. Nguyện đem tâm sự gửi đời sau...”
Sau khi hỏi cung được vài ngày thì Long Tế Quang đã cho thả họ ra. Có lẽ chính
những lời đanh thép với một lòng yêu nước, thương dân được Phan Bội Châu nói
một cách hung hồn, mạnh mẽ đã có tác dụng. Ngồi trong tù một thời gian làm cho
sức khỏe ông không được tốt lắm nhưng điều đầu tiên ông nghĩ đến không phải nghĩ
ngơi dưỡng sức mà là phải về xem xét tình hình của anh em ở hội.
Qua câu chuyện này giúp các em hiểu rỏ hơn về Phan Bội Châu. Dù phải ngồi tù
nhưng lòng ông không hề khiếp sợ mà luôn tỏ ra tự tin trước mặt của kẻ thù. Mặc dù
ngồi tù nhưng lòng ông vẫn hướng về việc cứu nước, cứu dân. Đó là nỗi lo không lúc
nào nguôi trong lòng của Phan Bội Châu.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
4.1. Khi chưa áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Trước khi chưa áp dụng sáng kiến kinh nghiệm học sinh chưa hăng say học tập,
chất lượng giáo dục môn học còn thấp đặc biệt là các em nhớ các nhân vật lịch sử
còn ít.
Tình trạng học sinh “học vẹt,” “học tủ” bằng những sự kiện lịch sử khô khan cũng
diễn ra rất phổ biến. Trong đó việc học sinh nhận thức về các nhân vật lịch sử tỏ ra
rất mơ hồ. Ngay cả nhân vật lịch sử có tầm ảnh hưởng vĩ đại như chủ tịch Hồ Chí
16
Minh một số học sinh vẫn còn rất mơ hồ: có học sinh lớp 9 còn cho rằng Nguyễn Ái
Quốc và Hồ Chí Minh là hai người khác nhau. Hay Nguyễn Huệ - Quang Trung là
hai anh em ruột…
Được biểu hiện rõ ở bảng tích kê sau:
Lớp
Tổng số
Điểm dưới 5
Điểm dưới 5
Từ điểm 5 đến dưới 8
Từ điểm 8 đến 10
HS
SL
%
SL
%
SL
%
4
11,4
20
57,1
11
31,5
35
Việc áp dụng chuyên đề này theo chúng tôi là rất phù hợp với đối tượng học sinh
ở độ tuổi THCS và trên địa bàn toàn huyện, điều này sẽ giúp các em tiếp cận tốt nhất,
hiệu quả nhất bài học lịch sử, các em sẽ nắm rõ nhân vật lịch sử kích thích tối đa khả
năng khám phá của các em và từ đó sẽ giúp các em hiểu rõ tiến trình lịch sử của dân
tộc và nhân loại.
Vì vậy việc khắc họa biểu tượng nhân vật lịch sử có vai trò to lớn trong dạy học
lịch sử là còn đường ngắn nhất giúp học sinh không quay lưng lại với môn học có sứ
mệnh cao quý này. Đây chỉ là một khía cạnh trong toàn bộ nội dung bài giảng lịch
sử, góp phần kích thích tạo nên sự tích cực, chủ động sáng tạo trong hoạt động dạyhọc thông qua đó hình thành cho các em thái độ, tư tưởng tình cảm góp phần quan
trọng trong việc hoàn thiện nhân cách. Tôi cũng hi vọng với việc áp dụng đề tài này
học sinh sẽ đạt được kết quả cao trong các kì thi và đặc biệt học sinh sẽ yêu thích
môn học này hơn.
dạn trình bày quan điểm của mình trong việc tạo biểu tượng về nhân vật lịch sử ở
chương trình lịch sử lớp 8 góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay.
Với sáng kiến kinh nghiệm này, tôi hy vọng sẽ góp một phần nhỏ vào việc giúp
giáo viên và học sinh trường THCS Hoàng Giang nói riêng, các đồng nghiệp và học
sinh trường bạn nói chung thực hiện phương pháp này để phát huy tính tích cực của
học sinh đạt hiệu quả hơn.
Về phía bản thân, tôi xin hứa sẽ tiếp tục phát huy những kết quả đạt được của
việc thực hiện sáng kiến kinh nghiệm trên, đồng thời không ngừng rút kinh nghiệm,
khắc phục khó khăn để nâng cao hơn nữa chất lượng dạy học.
18
2. Kiến nghị
Trong những năm gần đây, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức trao giải học
sinh giỏi môn Lịch sử trong các trường trung học phổ thông trên toàn quốc, trong đó
có những em yêu và hiểu lịch sử Việt Nam, viết và nói về lịch sử Việt Nam hay đến
nỗi các thầy giáo, cô giáo rất tự hào và khâm phục. Không những vậy, hiện nay, ở
nước ta có một thực tế là ngoài các cơ quan Nhà nước có chức năng nghiên cứu và
biên soạn lịch sử, các địa phương, dòng họ, người dân yêu lịch sử cũng đều viết sử.
Dưới góc độ xã hội, phải chăng đó là hành động thể hiện lòng yêu quý, kính trọng
lịch sử của người dân Việt Nam.
Lịch sử Việt Nam rất phong phú, hấp dẫn và đáng tự hào, trong khi việc tuyên
truyền lịch sử dân tộc đến nhân dân với nhiều kênh khác nhau (như sách truyện, báo
viết, báo điện tử, đài truyền hình, phim ảnh, tham quan...) còn hạn chế. Không ít
người Việt Nam hiểu lịch sử nước ngoài hơn lịch sử nước nhà. Yêu lịch sử dân tộc
không đồng nhất với việc học giỏi môn Lịch sử. Cơ hội tìm việc làm cho cử nhân
ngành sử rất hiếm hoi, thu nhập và địa vị của giáo viên hay cán bộ nghiên cứu khoa
học lịch sử quá thấp so với xã hội, v.v.
Từ sự phân tích nói trên, để học sinh yêu thích môn Lịch sử, tôi mạnh dạn đưa ra
tiểu tiết. Theo từng lớp, từng cấp tương đương với lứa tuổi của học sinh để soạn giáo
trình, bài giảng cho phù hợp cả về nội dung lẫn ngôn ngữ, tránh tình trạng nội dung
sách giáo khoa phổ thông là rút gọn của chương trình đại học.
- Về việc ra đề thi, cần bám sát nội dung học và phù hợp với trình độ và lứa tuổi
của học sinh. Ðề thi phải rõ ràng, chính xác, tránh tình trạng đề bài có nhiều cách
làm, trong khi đáp án chỉ có một.
Người Việt Nam vốn có truyền thống yêu nước nồng nàn và dĩ nhiên là rất yêu và
quý trọng lịch sử nước nhà. Thế hệ trẻ ngày nay đang tiên phong và tham gia tích cực
các phong trào thanh niên tình nguyện, phong trào hướng về biên giới, hải đảo, tiến
quân mạnh mẽ vào lĩnh vực khoa học kỹ thuật. Với lòng tự hào dân tộc, những chủ
nhân tương lai của đất nước chắc chắn sẽ viết tiếp những trang sử hào hùng của dân
tộc, sẽ bảo vệ vững chắc nền độc lập, thực hiện thành công mục tiêu xây dựng một
nước Việt Nam giàu, mạnh.
Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ của tôi trong quá trình giảng dạy môn lịch
sử. Hiểu biết và kinh nghiệm chắc chắn không tránh khỏi những sai sót, rất mong
được sự góp ý chân thành của các bạn đồng nghiệp.
Con đường phía trước còn rất nhiều khó khăn, thử thách, nhưng tôi tin rằng với sự
tận tụy, lòng yêu nghề, mến trẻ, người giáo viên sẽ luôn tìm tòi những điều lí thú để
đưa thế hệ trẻ trở về quá khứ một cách sống động và hướng đến tương lai là những
con người toàn diện.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn tập thể giáo viên và học sinh trường THCS
Hoàng Giang đã giúp tôi hoàn thành đề tài này!
XÁC NHẬN CỦA NHÀ TRƯỜNG
Nông Cống, ngày 20/03/2018
Tôi xin cam đoan đây là sáng kiến kinh
nghiệm của mình không sao chép nội dung
của người khác .
Người thực hiện
Phan Thị Kiều Linh
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
Tên mục
Trang
Mở đầu
Lí do chọn đề tài
Mục đích nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Nội dung
Cơ sở lí luận
Thực trạng vấn đề
Giải pháp và tổ chức thực hiện
Ý nghĩa của việc tạo biểu tượng nhân vật lịch sử trong giáo dục
học sinh
Yêu cầu đối với việc khắc họa biểu tượng lịch sử
Các hình thức tạo biểu tượng nhân vật lịch sử
Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
1
4
Hành trình cứu nước của Bác
Hồ
Kể Chuyện Lịch Sử Nước Nhà
dành cho học sinh thời kì chống
thực dân Pháp,
Một số chuyên đề phương pháp
dạy học lịch sử
Một số vấn đề về Lịch sử
5
6
7
Phương pháp dạy học lịch sử
Sách giáo khoa Lịch sử lớp 8
Sách giáo viên Lịch sử lớp 8
2
3
Đức Vượng,Nguyễn
Văn Khoan
Ngô Văn Phú
Nxb Sự thật, HN,
1990