B GIO DC V O TO
TRNG I HC S PHM H NI
NGUYN TH TUYT TRINH
sử dụng kiến thức liên môn
để giáo dục truyền thống yêu nớc cho học sinh
trong dạy học lịch sử việt nam (1945 - 1954)
trung học phổ thông - chơng trình chuẩn
Chuyờn ngnh: LL&PPDH Lch s
Mó s: 60.14.01.11
LUN VN THC S KHOA HC GIO DC
H Ni, 2014
Luận văn được hoàn thành tại:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học: TS.Nguyễn Thị Thế Bình
Phản biện 1: ………………………………………………………
Phản biện 2: ……………………………………………………
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ tại
Khoa Hóa học trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội.
Vào lúc: giờ ngày tháng năm
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Thư viện của Đại Học Sư Phạm Hà Nội
BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
CNXH : Chủ nghĩa xã hội
DHLS : Dạy học lịch sử
GV : Giáo viên
HS : Học sinh
KTLM : Kiến thức liên môn
LSVN : Lịch sử Việt Nam
NXB : Nhà xuất bản
SGK : Sách giáo khoa
môn Lịch sử ngoài việc trang bị cho HS những kiến thức lịch sử còn có sở trường và ưu
thế trong việc giáo dục truyền thống yêu nước cho HS. Bản thân những trang sử vàng chói
lọi của dân tộc đã là những bài học sinh động đối với các em, nhiệm vụ của người GV là
làm cho những bài học ấy trở nên gần gũi, dễ hiểu, tạo được hứng thú học tập với HS.
Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, một bộ phận HS đang có tâm lí coi thường môn
Sử, coi nó là môn phụ, môn học thuộc. Một trong những nguyên nhân khiến HS sợ học
Lịch sử là do nhiều sự kiện, nhiều số liệu, khối lượng kiến thức lớn mà thời lượng ít dẫn
đến tình trạng HS bị quá tải, GV phải dạy một cách nhồi nhét. Vì vậy, giảm tải chương
trình trở thành giải pháp tình thế, tuy nhiên đây không phải biện pháp ưu việt vì khi cắt
giảm nội dung sẽ không đảm bảo tính hệ thống, liên tục của lịch sử.
Để khắc phục tình trạng này, một giải pháp hiệu quả chính là sử dụng KTLM trong
DHLS. Sử dụng nguyên tắc này tránh được sự trùng lặp dễ gây nhàm chán, đồng thời giúp
các em vận dụng được kiến thức của các môn học khác nhằm tiếp thu kiến thức lịch sử và
tạo hứng thú trong học tập.
1
Hơn nữa, việc thực hiện mục tiêu giáo dục nói chung và việc giáo dục truyền thống
yêu nước nói riêng không chỉ là nhiệm vụ của môn Lịch sử, mà đòi hỏi sự kết hợp của tất
cả các môn học trong chương trình. Ví như môn Địa lý cung cấp những kiến thức về điều
kiện tự nhiên, về cương vực lãnh thổ… từ đó HS có ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ lãnh
thổ Tổ quốc, có động lực phát triển kinh tế làm cho nước ta ngày càng giầu đẹp. Môn Ngữ
văn làm cho các em hiểu những giá trị tinh thần, nét đẹp văn hóa dân tộc, có tác dụng lớn
trong việc bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, bồi dưỡng lòng yêu nước. Môn Giáo dục công
dân bồi dưỡng cho HS niềm tin vào sự phát triển hợp quy luật của xã hội loài người, tin
tưởng vào con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn… Điều này được Đảng nhấn mạnh
trong văn kiện Đại hội lần thứ VIII: “Tăng cường giáo dục công dân, giáo dục tư tưởng
đạo đức, lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Coi trọng hơn nữa
các môn về khoa học xã hội và nhân văn, nhất là Tiếng Việt, Lịch sử dân tộc, Địa lý, Văn
hóa Việt Nam”.[41;30]
Xuất phát từ sự cần thiết phải giáo dục truyền thống yêu nước cho HS, và tính tất yếu
của việc sử dụng KTLM trong DHLS chúng tôi lựa chọn vấn đề “Sử dụng KTLM để giáo
Nhà giáo dục học N.U.Savin nêu rõ: “Nền học vấn phổ thông phản ánh đầy đủ và
chính xác nhất tri thức khoa học và thực tiễn của nhân loại và nó thực sự là toàn diện. Ở
đó đã kết hợp một cách hữu cơ các tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy con người đã đạt
được sự hài hòa giữa học vấn về nhân văn và về tự nhiên ”(Giáo dục học – NXB Giáo
dục 1983) [52;87]. Bản thân chương trình học tập phổ thông đã có sự kết hợp hài hòa
những tri thức thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Nhiệm vụ của người GV là khai thác và sử
dụng nguồn tri thức ấy cho hiệu quả.
N.G.Đairi trong cuốn “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào” (NXB Giáo Dục 1973),
đã viết “để có một giờ học tốt, người giáo viên phải kết hợp được nhiều khâu khác nhau
quan trọng nhất là tham khảo các tài liệu để làm cho nội dung bài giảng phong phú, chính
xác…”[16;23]. Tác giả nêu rõ tầm quan trọng của việc tham khảo nhiều nguồn tài liệu,
nhiều nguồn tri thức làm cho bài giảng sinh động và hấp dẫn. Cũng trong tác phẩm này, tác
giả khẳng định “Giáo dục chứ không phải học thuộc lòng… cần phải hiểu cho đúng vai trò
của phần tài liệu dự định để giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ” [16; 30].
Khi trình bày về sự phát triển của khoa học lịch sử N.A. Erôphêep đã đề cập đến rất
nhiều vấn đề về lịch sử xã hội, về văn hóa, tư tưởng, triết học, về nhiều lĩnh vực chuyên
môn của khoa học lân cận, “họ hàng” với khoa học lịch sử. Trong cuốn “Lịch sử là
gì”(NXB Giáo dục 1981) ông khẳng định: “Không có một bộ môn khoa học nào có thể
phát triển một cách đơn độc”[21;147]. Tác giả nêu rõ mối quan hệ giữa lịch sử với các
khoa học nghiên cứu xã hội khác nhau, như xã hội học, dân tộc học, tâm lí xã hội…rất chặt
3
chẽ. “Sở dĩ các ngành khoa học này xích gần nhau vì chúng cùng nghiên cứu một đối
tượng như nhau” [21;147].
Nhà giáo dục học Shore B.M khi nói về công tác giảng dạy những học sinh giỏi đã đề
xuất: “Hỗ trợ học sinh tiếp cận các tài liệu cần thiết, chẳng hạn các em tiếp xúc với các lớp
và các tài liệu trình độ cao, hợp tác với những giáo viên khác và các chuyên gia trong các
lĩnh vực, làm cầu nối học sinh với các chuyên gia đó”(Journal for the education of the Gifted
– 1996)[69; 138]. Việc cho HS tiếp xúc với những nguồn kiến thức thuộc nhiều lĩnh vực
chính là cách bồi dưỡng kiến thức và kĩ năng cho bộ phận học sinh giỏi.
Theo Mitchell R.D tiêu chí để đánh giá một “giáo viên hiệu quả” là “khả năng để
Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt trong cuốn “Giáo dục học”( NXB Giáo dục 1987)
nêu một cách khái quát nhất và tương đối đầy đủ về vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng
kiến thức liên môn: “Tiềm năng giáo dục thế giới quan cho học sinh đặc biệt được khai
thác trong mối liên hệ giữa các môn học. Các mối liên hệ giữa các môn học, phản ánh
bản chất biện chứng của nhận thức khoa học, giúp xem xét một sự vật hay một hiện
tượng từ nhiều quan điểm khác nhau”.[42;123]. Như vậy, khi GV sử dụng KTLM trong
dạy học, phân tích để HS thấy được mối liên hệ giữa các môn học chính là đang thực
hiện nhiệm vụ giáo dục, bồi dưỡng tư duy biện chứng và rèn luyện khả năng phân tích
cho HS.
Đặng Thành Hưng trong cuốn “Dạy học hiện đại - lí luận, biện pháp, kĩ thuật” (NXB
Đại học Quốc gia, Hà Nội 2002), cho rằng: “Trong khoa học giáo dục còn có những bộ
môn, chuyên ngành, liên môn lấy những liên hệ qua lại làm đối tượng”.[24;15]. Tác giả đã
đề cập đến một khả năng khác của vấn đề sử dụng KTLM trong dạy học. Một chuyên
ngành nghiên cứu sâu sắc hơn, cụ thể hơn về những mối liên hệ qua lại giữa các ngành
khoa học sẽ là đóng góp lớn cho giáo dục học hiện nay.
Tác giả Đoàn Huy Oánh trong tác phẩm “Tâm lý sư phạm” ( NXB Đại học Quốc Gia
Tp Hồ Chí Minh, 2005) đã nêu “Bên cạnh chương trình Giáo dục công dân riêng biệt, các
môn học về văn học, lịch sử cũng là những bài học quý giá giảng dạy về luân lí, đạo đức,
nhân cách” [ 49; 247]. Cũng trong tác phẩm này, tác giả khẳng định “ngày này, các nhà
tâm lý giáo dục nhận định rằng, giáo viên cần có khả năng hiểu biết nhiều phương diện
kiến thức”[49; 248]. Như vậy theo đánh giá của một nhà tâm lí học, KTLM có vai trò lớn
trong giáo dục HS. Đồng thời, để thực hiện nhiệm vụ giáo dục, GV phải am hiểu nhiều lĩnh
vực để ứng dụng vào bài giảng, làm cho giờ học trở nên sinh động, hấp dẫn HS.
Giáo trình “Giáo dục học” – Trần Thị Tuyết Oanh ( Tập 1 NXB Đại học Sư phạm,
2006), đã nêu: Một trong số những phẩm chất nhân cách con người Việt Nam cần giữ gìn
và phát huy là lòng yêu nước. Theo tác giả tình cảm này có nguồn gốc sâu xa, bắt nguồn từ
5
trong tâm thức của mỗi người Việt Nam. Lòng yêu nước trở thành một trong những tiêu
chí đánh giá phẩm chất, nhân cách con người Việt Nam.
- Giáo trình lịch sử
dân tộc ta trong đó nhấn mạnh truyền thống yêu nước chống ngoại xâm qua các thời kì lịch
sử.
Trong cuốn “Đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông” của hội giáo
dục lịch sử trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội do GS. Phan Ngọc Liên chủ biên có các bài
viết về việc sử dụng tài liệu Hồ Chí Minh, sử dụng tài liệu văn kiện Đảng… đây cũng là
một khía cạnh của vấn đề sử dụng KTLM trong DHLS. Ngoài ra, cũng trong tác phẩm này,
các tác giả đã viết một chuyên đề về giáo dục HS qua DHLS. Trong đó, nhiều bài viết của
các tác giả như Thái Văn Long, Trần Vĩnh Tường… đã khai thác những nội dung của
truyền thống yêu nước có thể giáo dục HS. Theo đó, yêu nước là yêu CNXH, kính yêu lãnh
tụ…
Tác phẩm “Hồ Chí Minh với sử học” của GS. Phan Ngọc Liên cũng đã phân tích
hiệu quả to lớn của việc sử dụng các tác phẩm của chủ tịch Hồ Chí Minh trong DHLS.
Nói về vai trò của các loại tài liệu trong bài giảng lịch sử, tác giả Trần Viết Thụ trong
cuốn “Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn lịch sử” (NXB Đại học Sư phạm Hà Nội,
2009) khẳng định: “Nguồn tài liệu mà giáo viên đưa vào bài giảng phong phú đa dạng
không chỉ làm sâu sắc nội dung sách giáo khoa, mà còn mở rộng hiểu biết của học sinh về
kiến thức văn hóa nói chung như khảo cổ học, triết học, văn học, nghệ thuật, địa lí…”[12;
111]. Điều này chứng tỏ, nếu GV khai thác tốt nguồn KTLM không chỉ khắc sâu nội dung
lịch sử mà còn bổ sung cho HS kiến thức về những lĩnh vực khác, các em thấy được mối
liên hệ giữa các nguồn kiến thức.
Nội dung giáo dục truyền thống cũng được đề cập đến trong tác phẩm: “Giáo dục
truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ ngày nay” (NXB Đại học sư phạm Hà Nội 2009)
của tác giả Nghiêm Đình Vỳ, trong đó tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giáo
dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ ngày nay.
Trong cuốn “Phương pháp luận sử học” (NXB Đại học Sư phạm Hà Nội, 2011), GS
Phan Ngọc Liên đã phân tích những điểm chung và những điểm khác nhau giữa khoa học
lịch sử và khoa học tự nhiên. Trong đó, tác giả nêu lên điểm chung đó là đối tượng nghiên
cứu đều là thực tại xã hội và những quy luật chung.
- Các tạp chí khoa học chuyên ngành
7
dạy học. Các tác giả đã chỉ ra vai trò, ý nghĩa của việc kết hợp kiến thức của nhiều ngành
khoa học trong học tập một bộ môn nhất định. Việc làm đó góp phần phát huy tính tích cực,
8
chủ động của HS trong học tập. Đồng thời, các tác phẩm khẳng định, vận dụng linh hoạt
nhiều nguồn kiến thức là khả năng cần có ở một GV. Những nguồn tài liệu trên nhấn mạnh
sự cần thiết của nhiệm vụ giáo dục nói chung và giáo dục truyền thống yêu nước nói riêng,
phản ánh một số khía cạnh của truyền thống yêu nước.
Tuy nhiên, chưa có tác phẩm nào đề cập tới những biện pháp cụ thể để khai thác, sử
dụng KTLM và sử dụng KTLM để giáo dục truyền thống yêu nước. Kế thừa thành quả của các
công trình trước đó, luận văn đi sâu nghiên cứu những biện pháp cụ thể để sử dụng KTLM
nhằm giáo dục truyền thống yêu nước.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu là: quá trình sử dụng KTLM trong DHLS để giáo dục truyền
thống yêu nước cho HS
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài đi sâu nghiên cứu các biện pháp sử dụng KTLM để
giáo dục truyền thống yêu nước cho HS. Chủ yếu nghiên cứu nội dung phần LSVN giai
đoạn 1945 – 1954 và tập trung khai thác các kiến thức: văn học, địa lý, giáo dục công dân,
âm nhạc để giáo dục truyền thống yêu nước cho HS.
- Phạm vi điều tra thực tiễn chúng tôi tiến hành ở một số tỉnh phía Bắc, và tiến hành
thực nghiệm sư phạm một bài lịch sử nội khóa.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: Trên cơ sở tìm hiểu lí luận và thực tiễn của việc sử dụng KTLM trong
DHLS, luận văn đề ra các biện pháp sử dụng KTLM để giáo dục truyền thống yêu nước
cho HS.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Xác định cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng KTLM trong DHLS
+ Xác định nội dung cơ bản cần giáo dục truyền thống yêu nước cho HS.
+ Điều tra thực tiễn rút ra kết luận.
+ Đề xuất các biện pháp vận dụng KTLM để giáo dục truyền thống yêu nước cho
HS.
- Phản ánh được thực trạng giáo dục truyền thống yêu nước ở trường THPT hiện nay.
- Đề xuất một số biện pháp sư phạm để sử dụng KTLM nhằm giáo dục truyền thống
yêu nước cho HS trong DHLS LSVN giai đoạn 1945 – 1954 ở trường THPT, nhằm nâng
cao hiệu quả bài học lịch sử.
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn cấu trúc thành hai
10
chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng KTLM để giáo dục truyền
thống yêu nước cho HS trong DHLS ở trường THPT
Chương 2: Một số biện pháp sử dụng KTLM để giáo dục truyền thống yêu nước cho
HS trong DHLS Việt Nam (1945-1954) lớp 12
11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG
KIẾN THỨC LIÊN MÔN ĐỂ GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG YÊU
NƯỚC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Một số quan niệm
- Kiến thức và KTLM
Kiến thức
Trong đời sống cũng như trong khoa học, chúng ta thường xuyên nhắc đến thuật ngữ
kiến thức, chính vì mức độ phổ biến của thuật ngữ này nên cũng có nhiều quan niệm khác
nhau về kiến thức.
Theo các nhà sinh lí học, kiến thức là một dạng nhất định của những mối liên hệ tạm
thời, được tạo trên vỏ các bán cầu đại não do ảnh hưởng của những kích thích bên ngoài và
hoạt động tư duy tích cực của chủ thể nhận thức. Như vậy, kiến thức chỉ tồn tại “tạm thời”,
nếu không thường xuyên “nhắc lại” kiến thức sẽ bị xóa mờ và bị thay thế bởi kiến thức
khác trên các vỏ bán cầu đại não.
Các nhà giáo dục học cho rằng : “kiến thức là hệ thống những khái niệm, phạm trù,
Kiến thức liên môn
Kiến thức liên môn là những kiến thức giao thoa giữa các môn học, những kiến thức
ở những môn học khác nhau nhưng cùng đề cập đến một vấn đề. Do đó, trong bất kì môn
học nào cũng có thể sử dụng KTLM vì mọi mặt của đời sống đều có mối quan hệ gắn bó
mật thiết với nhau. Sử dụng KTLM trong dạy học có ba mức độ: ở mức độ thấp, GV nhắc
lại tài liệu, sự kiện, kĩ năng các môn có liên quan, cao hơn đòi hỏi HS nhớ lại và vận dụng
kiến thức đã học của các môn học khác, và cao nhất đòi hỏi HS phải độc lập giải quyết các
bài tập nhận thức bằng vốn kiến thức đã biết.
Như vậy, mức độ sử dụng KTLM càng cao thì nó càng gần với khái niệm “tích hợp”.
Để hiểu rõ hơn về nguyên tắc liên môn cũng như vấn đề sử dụng KTLM trong dạy học nói
chung và trong DHLS nói riêng chúng ta cần có sự phân biệt rõ ràng giữa “liên môn” và
“tích hợp”.
Từ những năm 60 của thế kỉ XX, người ta đã đưa vào giáo dục ý tưởng tích hợp
( inte’gration (tiếng Pháp), integration(tiếng Anh) trong việc xây dựng chương trình dạy
học. Tích hợp là một khái niệm của lí thuyết hệ thống, “ nó chỉ trạng thái liên kết các phần
tử riêng rẽ thành cái toàn thể, cũng như quá trình dẫn đến trạng thái này”[17;308]. Trong
13
khoa học giáo dục, tích hợp thể hiện ở việc liên kết các môn học có mối quan hệ với nhau,
ở từng mức độ cụ thể sẽ cho kết quả là việc ra đời những môn học mới hoặc chỉ dừng lại ở
việc “liên môn”.
Kiến thức liên môn trong DHLS
Chức năng của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông là cung cấp cho HS những tri
thức về sự phát sinh, phát triển của mọi mặt đời sống xã hội loài người. Vì vậy, kiến thức
lịch sử có liên quan chặt chẽ đến kiến thức của các ngành khoa học tự nhiên và khoa học
xã hội. Trong quá trình giảng dạy, GV lịch sử phải tìm ra những khái niệm, những nội
dung từ những môn học khác có thể sử dụng làm nổi bật kiến thức lịch sử HS cần lĩnh hội.
Có như vậy, HS nắm kiến thức lịch sử mới vững chắc và việc giáo dục tư tưởng thông qua
môn học mới đạt hiệu quả cao.
Đối với HS, KTLM giúp các em nhận thức sự phát triển của xã hội một cách liên tục,
thống nhất, hiểu được tính toàn diện của lịch sử. Điều này khắc phục tình trạng rời rạc, tản
Như vậy, hoạt động giáo dục dù nhìn nhận dưới góc độ nào cũng cần có ít nhất hai
chủ thể là người dạy và người học và mục tiêu là trang bị cho người học những phẩm chất,
năng lực cần thiết trên cơ sở những kinh nghiệm của các thế hệ loài người. Hoạt động giáo
dục trong nhà trường là trung tâm của mọi hoạt động giáo dục. Nó diễn ra có quy mô, bài
bản nhất định với mục tiêu không chỉ trang bị kiến thức, rèn luyện kĩ năng mà còn bồi
dưỡng phẩm chất đạo đức cho HS.
Truyền thống
Theo “Bách khoa từ điển Xô Viết” truyền thống là: những yếu tố di tồn
văn hóa, xã hội truyền từ đời này sang đời khác và được lưu giữ trong các xã
hội, giai cấp và nhóm xã hội trong một quá trình lâu dài. Truyền thống thể
hiện trong một chế định xã hội, chuẩn mực của hành vi, các giá trị tư tưởng,
phong tục, tập quán và lối sống. Truyền thống tác động đến mọi xã hội và tất
cả mọi lực lượng trong đời sống xã hội.[17; 1339]. Có thể nói, truyền thống là
những di sản của quá khứ về các mặt của đời sống được kết tinh và lưu truyền
qua các thế hệ, ăn sâu vào tiềm thức của con người và được thể hiện qua
phong cách sống, qua các mối quan hệ xã hội.
“Từ điển Tiếng Việt” giải thích truyền thống là “những thói quen hình
thành lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ, được truyền lại từ thế hệ này sang
thế hệ khác”[50; 443].
15
Theo GS Phan Ngọc Liên, trong “Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông”,
“truyền thống là những yếu tố về sinh hoạt văn hóa, tư tưởng, tình cảm một
địa phương, một đơn vị nào đó, được truyền từ đời này sang đời khác, thế hệ
trước sang thế hệ sau. Truyền thống có phần tích cực, giúp vào sự tồn tại và
phát triển, như truyền thống yêu nước, lao động (truyền thống tốt đẹp), cũng
có phần tiêu cực phải xóa bỏ. Dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản, những
truyền thống yêu quý lao động, yêu nước và cách mạng được kế tục và phát
huy cao độ”[33; 443]. Có những truyền thống tốt đẹp mà mọi thế hệ cần kế
thừa, phát huy nhằm phục vụ cho những mục đích cao quý, cho sự tiến bộ của
xã hội như: truyền thống yêu nước, truyền thống đoàn kết, truyền thống cần
độ của truyền thống yêu nước. Với lòng yêu nước, nhân dân ta có thể dũng
cảm đối mặt với bất kì kẻ thù nào, khi có Đảng dẫn đường mọi con đường
dù gian nan tới đâu sẽ đi tới đích cuối cùng là thành công. Những thắng lợi
mà dân tộc ta đã gặt hái được từ khi Đảng ra đời tới nay là minh chứng sống
động nhất cho điều này. Với tầm quan trọng như vậy nên việc giáo dục truyền
thống nói chung và giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ nói riêng là
mục tiêu không thể thiếu trong dạy học ở trường phổ thông.
Sử dụng KTLM để giáo dục truyền thống yêu nước cho HS
Sử dụng KTLM để giáo dục truyền thống yêu nước cho HS trong DHLS là quán triệt
nguyên tắc liên môn trong dạy học, đồng thời thực hiện nhiệm vụ giáo dục ở trường phổ
thông. Sử dụng KTLM để giáo dục truyền thống yêu nước là việc GV sử dụng kiến thức
của những môn học khác nhau, có nội dung liên quan để làm nổi bật kiến thức lịch sử HS
cần lĩnh hội, thông qua đó giáo dục HS những khía cạnh của truyền thống yêu nước. Điều
này không có nghĩa là vận dụng KTLM trong DHLS một cách chung chung, hay trong bài
học lịch sử chỉ tập trung giáo dục truyền thống yêu nước một cách gượng ép, thiếu tự
nhiên, cũng không phải là sa đà vào những KTLM mà quên mất mục tiêu của bài học. Sử
dụng KTLM phải có chọn lọc nhằm làm nổi bật nội dung lịch sử, thông qua đó giáo dục
truyền thống yêu nước cho HS. Đó là mục tiêu cần đạt đến khi sử dụng biện pháp này.
Sử dụng KTLM để giáo dục truyền thống yêu nước cho HS có ý nghĩa to lớn trong
17
DHLS, tạo hứng thú cho HS trong quá trình lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng thực
hành, đặc biệt bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, giáo dục truyền thống yêu nước cho HS đạt
hiệu quả cao.
1.1.2. Cơ sở xuất phát của việc sử dụng KTLM để giáo dục truyền
thống yêu nước cho HS trong DHLS ở trường THPT
Mục tiêu, nhiệm vụ của đất nước trong giai đoạn hiện nay
Ngày nay, đất nước ta đang trong giai đoạn hội nhập và phát triển. Hoàn cảnh ấy
đem lại rất nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn. Trên thế giới và trong khu vực
hiện nay, tuy hòa bình, hợp tác, phát triển đang là xu thế chính nhưng vẫn tồn tại những
tranh chấp, xung đột cục bộ về nhiều vấn đề. Trước tình hình đó, Hội nghị lần thứ Tám của
- Về thái độ: Giáo dục cho HS lòng yêu nước, yêu XHCN. Phẩm chất này không chỉ
được thể hiện trong đấu tranh chống ngoại xâm mà còn thể hiện trong quyết tâm xây dựng
và bảo vệ đất nước trong thời bình. Bồi dưỡng tinh thần đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc
tế vì hòa bình và tiến bộ của nhân loại. Ngoài ra, cần củng cố cho HS niềm tin vào sự phát
triển hợp quy luật của xã hội loài người và của dân tộc, từ đó bồi dưỡng cho các em niềm
tin vào con đường mà Đảng và Bác đã chọn.
Để đạt được mục tiêu trên, cần nâng cao chất lượng đội ngũ GV, đầu tư mọi mặt cho
giáo dục và đổi mới phương pháp DHLS. Việc sử dụng KTLM để giáo dục truyền thống
yêu nước cho HS trong DHLS góp phần thực hiện tốt mục tiêu đề ra.
Đặc trưng của bộ môn Lịch sử
Tính quá khứ: Lịch sử là quá trình phát triển hợp quy luật của xã hội loài người từ lúc
con người và xã hội hình thành tới nay. Bởi vậy, người ta không thể trực tiếp quan sát được
lịch sử quá khứ và chỉ nhận thức được chúng một cách gián tiếp thông qua các tài liệu được
lưu lại. Vì vậy, DHLS có những khó khăn nhất định. HS không thể trực tiếp quan sát sự kiện
lịch sử, mà chỉ có thể tri giác các tài liệu lịch sử, thông qua các đồ dùng trực quan để hiểu biết
về các sự kiện lịch sử. Tuy nhiên, đặc trưng này của bộ môn cũng tạo điều kiện để GV rèn
luyện cho HS khả năng tưởng tượng, tái tạo lịch sử trong học tập.
Tính không lặp lại: Sự kiện lịch sử mang tính không lặp lại về thời gian và cả không
gian. Mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử chỉ xảy ra trong thời gian và không gian nhất định.
Điều này đòi hỏi các GV khi trình bày một sự kiện, hiện tượng nào đó phải khắc sâu những
đặc điểm của sự kiện, hiện tượng để HS không bị nhầm lẫn giữa sự kiện này với sự kiện
khác.
19
Tính cụ thể: Lịch sử là khoa học nghiên cứu tiến trình phát triển cụ thể của các
nước, các dân tộc khác nhau và quy luật của nó. Lịch sử mỗi nước, mỗi dân tộc đều có diện
mạo riêng do những điều kiện riêng chi phối. Đặc điểm này quy định việc trình bày các sự
kiện, hiện tượng lịch sử càng cụ thể, sinh động bao nhiêu càng hấp dẫn bấy nhiêu.
Tính hệ thống(tính logic lịch sử): Khoa học lịch sử bao gồm các sự kiện, hiện tượng
về cơ sở kinh tế, đấu tranh xã hội, các lĩnh vực của đời sống Những nội dung này khi
biên soạn SGK mặc dù đã giản lược nhưng những mối liên hệ ngang dọc, chằng chịt giữa