Sử dụng tranh ảnh để giáo dục truyền thống lao động cho học sinh trong dạy học Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954-1975, lớp 12 THPT, chương trình chuẩn - Pdf 33

1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục thế hệ trẻ bao giờ cũng là mối quan tâm đặc biệt to lớn của
mỗi dân tộc, mỗi giai cấp của mọi thời đại. Từ xưa, cha ông ta cũng rất chú
trọng đến công tác giáo dục này.
Công cuộc đổi mới đất nước hiện nay đòi hỏi giáo dục phổ thông phải
đào tạo những con người phát triển toàn diện, phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Mục tiêu giáo dục nước ta đã được cụ thể hóa
trong điều II Luật giáo dục sửa đổi năm 2010: “ Đào tạo con người Việt
Nam phát triển toàn diện , có đạo đức, có tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và
nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội,
hình thành và bồi dưỡng nhân cách năng lực của công dân đáp ứng yêu cầu
của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc”[Luật giáo dục-20]. Thực hiện
mục tiêu đó, ngành giáo dục phải hết sức quan tâm chú ý để không ngừng
nâng cao chất lượng giáo dục nhằm đào tạo một đội ngũ tri thức đông đảo,
đáp ứng được những yêu cầu đòi hỏi của xã hội. Với chức năng, nhiệm vụ
và đặc trưng của mình, bộ môn Lịch sử ở trường THPT đã có đóng góp cụ
thể vào việc thực hiện nhiệm vụ chung của ngành giáo dục.
Chúng ta đang sống trong thời đại mới – thời đại văn minh khoa học,
nhất là sự phát triển vượt bậc của ngành công nghệ thông tin; nó làm cho
cuộc sống con người ngày càng được nâng cao. Nhưng giáo trị đạo đức lại
đang bị xói mòn bởi chủ nghĩa thực dụng, duy vật chất, kéo theo đó là cả
một hệ lụy. Hơn nữa, giới trẻ ngày nay lại đang chạy theo lối sống hưởng
thụ, lối sống mà theo họ là hợp thời, là sành điệu. Đây là một vấn đề đang
thách thức các nhà giáo dục cũng như những người có trách nhiệm. Để khắc
phục tình trạng trên, yếu tố giáo dục của nhà trường đóng một vai trò quan


2


3

lại quá khứ. Và đặc biệt, ông nhấn mạnh vai trò của tranh ảnh trong việc
giáo dục thái độ tư tưởng cho học sinh.
Cuốn: “ Phát huy tính tích cực trong học tập của học sinh như thế
nào” của I.F. Khalamop,NXB Giáo dục, 1978 cũng đã chỉ ra vai trò quan
trọng của đồ dùng trực quan trong giờ học lịch sử.
Năm 1984, NXB Giáo dục- Hà Nội đã xuất bản cuốn: “ Giáo dục
người công dân” của nhà Giáo dục học A.S. Makarenkô đã nói đến vai trò
của công tác giáo dục trong việc gìn giữ và phát huy truyền thống dân tộc:
“Giáo dục truyền thống, giữ gìn truyền thống là nhiệm vụ quan trọng của
công tác giáo dục” [1-412].
2.2. Tài liệu trong nước
Thứ nhất: Tài liệu của Đảng, Nhà nước về vấn đề giáo dục truyền
thống cho thế hệ trẻ
Các tác phẩm:“Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VII”(Đảng cộng sản Việt Nam, NXB Sự thật,1991); “Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ VIII” ( NXB Chính trị, Quốc gia, Hà Nội, 1996);
“Báo cáo chính trị của BCH Trung ương Đảng khóa VIII tại Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ IX” (Báo Nhân dân, số ra ngày 21-4-2001); “Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X” (Đảng Cộng sản Việt Nam, NXB
Chính trị, Quốc gia, Hà Nội, 2006)… Nội dung cơ bản của các tài liệu này
đề cập đến vấn đề giáo dục thế hệ trẻ. Xác định mục tiêu giáo dục và đào tạo
nhằm giáo dục phẩm chất, lối sống cho thế hệ học sinh, sinh viên để trở
thành những người lao động có trí thức, năng lực, có đạo đức, tinh thần yêu
nước…
Đây là những nguồn tài liệu quan trọng, có tính chất định hướng cho
tác giả khai thác và vận dụng vào nghiên cứu đề tài.
Thứ hai: Các công trình có liên quan đến đồ dùng trực quan và việc

luyện kỹ năng nghiệp vụ sư phạm”, NXB Đại học Quốc Gia, trường Đại học
Sư phạm Hà Nội, 1995. Cuốn “ Kênh hình trong dạy học lịch sử ở trường
trung học phổ thông” , NXB Đại học quốc gia Hà Nội , 2000. Gần đây nhất


5

là cuốn: “ Các con đường biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở
trường phôt thông”, NXB Đại học Sư phạm, 2011. Các công trình này đã
khẳng định vai trò quan trọng của việc sử dụng tranh ảnh trong dạy học lịch
sử, và ý nghĩa của hình ảnh đối với việc hình thành xúc cảm cho học sinh.
Giáo trình “ Phương pháp dạy học lịch sử tập 1” do GS.Phan Ngọc
Liên(chủ biên), Trịnh Đình Tùng- Nguyễn Thị Côi xuất bản năm 2010, đã
nói về giáo dục tinh thần, thái độ lao động đúng đắn cho học sinh qua môn
lịch sử ở trường phổ thông. Trong đó, có đề cập sơ qua đến việc sử dụng
tranh ảnh để giáo dục truyền thống lao động cho học sinh.
Các công trình nêu trên đều đề cập đến nội dung truyền thống dân tộc,
trong đó truyền thống lao động cũng được nhắc đến, nhưng chỉ mang tình
khái quát và lý luận chung, có ý nghĩa định hướng cho đề tài.
Thứ tư: Các tạp chí, luận án luận văn liên quan đến đề tài:
Tạp chí nghiên cứu lịch sử: “Giáo dục truyền thống dân tộc cho thế
hệ trẻ qua môn lịch sử” NCLS số 2 của tác giả Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình
Tùng, Nguyễn Thị Côi; “ Ảnh- nguồn sử liệu cần được khai thác trong
nghiên cứu, giáng dạy và truyền bá lịch sử” NCLS số 1/ 1999 của Dương
Trung Quốc; “ Sử dụng tranh, ảnh giáo khoa trong DHLS ở trường Phổ
thông"” Tạp chí Thiết bị Giáo dục, số 6/2006, của Lê Ngọc Thu…
Các khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành phương pháp dạy học lịch sử:
“ Giáo dục nhân cách cho học sinh thông qua dạy học lịch sử” của Nguyễn
Thị Quỳnh Anh năm 1999; “ Một số biện pháp nhằm giáo dục truyền thống
dân tộc cho học sinh khi dạy học lịch sử” của Nguyễn Thị Hằng 1999…

để giáo dục truyền thống lao động cho học sinh. Qua đó nâng cao chất lượng
dạy học bộ môn.
6. Bố cục
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung
của đề tài được chia thành 2 chương.
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng tranh ảnh để
giáo dục truyền thống lao động cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường
THPT.


7

Chương 2. Một số biện pháp khai thác tranh ảnh để giáo dục truyền
thống lao động cho học sinh khi dạy học lịch sử Việt Nam giai đoạn 19541975, lớp 12, chương trình chuẩn

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG TRANH
ẢNH ĐỂ GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG LAO ĐỘNG CHO HỌC
SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Quan niệm về truyền thống và giáo dục truyền thống lao động
1.1.1.1. Khái niệm truyền thống và truyền thống lao động
Trong mỗi chúng ta, chắc hẳn ai cũng biết về từ “truyền thống”,
nhưng không phải ai cũng thấu hiểu hết nội dung và ý nghĩa của từ này. Vì
vậy, điều đầu tiên ta cần tìm hiểu là về định nghĩa “truyền thống”. Đây là
thuật ngữ xuất phát từ tiếng Latinh lat traditio có nghĩa là lưu truyền, luân
chuyển, mang lại, trao lại. [ 26, 13]. Cuốn Từ điển Tiếng Việt giải thích


8

9

chiến đấu của dân tộc trong quá trình lịch sử của mình. Truyền thống dân
tộc được hình thành trong một thời gian dài, được gạn lọc, chọn lựa những
gì là tinh hoa nhất”.[13; 13-14].
Từ những khái niệm trên cho thấy truyền thống dân tộc là một yếu tố
rất riêng của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, nó phân biệt dân tộc này với dân tộc
khác. Truyền thống dân tộc ở Việt Nam nói riêng, các quốc gia dân tộc trên
thế giới nói chung được hình thành qua một quá trình lịch sử trải dài từ thời
dựng nước đến nay.Từ khi hình thành, truyền thống dân tộc ngày càng được
gìn giữ và không ngừng phát huy. Chính vì vậy, khi bước vào “ngôi nhà
chung” của thế giới, mỗi dân tộc đều có bản sắc độc đáo của riêng mình.
Điều đó đã tạo nên sự phong phú, độc đáo của các dân tộc trên thế giới.

1.1.1.2. Khái niệm về giáo dục truyền thống và truyền thống lao động.
Theo giáo trình “Giáo dục học” tập 1 của Trần Thị Tuyết Oanh(chủ
biên) do NXB Đại học Sư phạm xuất bản năm 2009, thì khái niệm “Giáo
dục” được hiểu theo hai nghĩa. Theo nghĩa rộng, giáo dục là “quá trình tác
động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và bằng phương
pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục trong các cơ quan
giáo dục , nhằm hình thành nhân cách cho họ”.[24- 22]. Theo nghĩa hẹp,
giáo dục “là quá trình hình thành cho người được giáo dục lí tưởng, động cơ,
tình cảm, niềm tin, những nét tính cách của nhân cách, những hành vi, thói
quen cư xử đúng đắn trong xã hội”[24-22].
Theo từ điển bách khoa Việt Nam, do NXB Từ điển Bách khoa xuất
bản năm 2005, giáo dục có nghĩa tiếng Anh là “Education” vốn có gốc từ
tiếng Latinh “Educare” có nghĩa là “làm bộc lộ ra”.


10


11

mọi khó khăn, thử thách khắc nghiệt của tự nhiên để xây dựng và phát triển
đất nước.
Ngày nay, thế hệ trẻ cần phải được giáo dục truyền thống quý báu đó.
Cần có các biện pháp giúp học sinh nhận thức rõ vai trò, ý nghĩa của lao
động trong sự phát triển xã hội, giúp họ có thái độ đúng đắn và tình yêu đối
với lao động. Lao động là niềm vui, niềm hạnh phúc của tuổi trẻ, lao động
với tinh thần hăng say, sáng tạo. Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề
nghiệp, có kỹ thuật sáng tạo, hăng say chịu thương chịu khó, không ngại
gian khổ làm việc với năng suất cao, chất lượng tốt. Những trí thức trẻ luôn
sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ vì lợi ích chính đáng của bản
thân, gia đình, tập thể và xã hội.
1.1.2. Vai trò, ý nghĩa của tranh ảnh đối với việc giáo dục truyền thống
lao động cho học sinh
1.1.2.1. Khái niệm tranh, ảnh
Tranh ảnh lịch sử là đồ dùng trực quan quan trọng trong quá trình dạy
học, nhưng là loại tư liệu trực quan tạo hình khác nhau, phản ánh hiện thực
lịch sử ở những góc độ khác nhau. Nó có ý nghĩa hết sức to lớn, không chỉ là
nguồn kiến thức có tác dụng giáo dục tư tưởng tính cách mà còn phát triển tư
duy cho học sinh. Đây là nguồn tài liệu lịch sử không thể thiếu trong quá
trình nghiên cứu và giảng dạy lịch sử, phản ánh các sự kiện lịch sử, nhân vật
lịch sử, thành tựu kinh tế, văn hóa, chính trị của lịch sử dân tộc và thế giới.
Ảnh lịch sử là loại đồ dùng trực quan ghi lại sự kiện có thực bằng ống
kính. Loại tài liệu này mang tính chất cơ bản trung thực, chính xác về quá
khứ và được chia thành hai loại: Ảnh gốc và ảnh dựng lại. Ảnh gốc là loại
ảnh mà được những nhà nhiếp ảnh gia chụp trực tiếp trước những sự kiện,
hiện tượng đang diễn ra trước mắt. Bên cạnh ảnh gốc, chúng ta cũng cần chú
ý khai thác những ảnh lịch sử được dựng lại, hoặc được chụp lại không ở

nguyên thủy, học sinh được tiếp cận với tranh, ảnh về công cụ lao động “Rìu
tay đá cũ núi Đọ Thanh Hóa”( Hình 29, trang 71 SGK lớp 10, chương trình
chuẩn). Qua quan sát hình, học sinh sẽ nhận thức được hình dáng của chiếc


13

dìu tay còn rất gần với những mảnh đá tự nhiên và đi đến kết luận: công cụ
lao động còn hết sức thô sơ, đơn giản, trình độ lao động thấp kém, con người
phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên, đời sống rất khổ cực. Nhưng về sau, nhờ
sự cải tiến của công cụ lao động mà năng suất lao động tăng, có của thừa dẫn
tới sự bóc lột, phân chia xã hội thành giai cấp đối kháng. Hay nói cách khác,
lao động chính là yếu tố quyết định sự phát triển của mọi chế độ xã hội.
Khóa trình lịch sử thế giới cổ trung đại với vô số hình ảnh về việc xây
dựng những công trình kiến trúc, văn hóa đồ sộ, cung cấp cho học sinh
những hiểu biết thêm về thành tựu lao động của quần chúng nhân dân. Ví dụ
khi dạy về văn hóa cổ đại phương Đông, giáo viên cho học sinh khai thác
bức ảnh “Một đoạn Vạn lí trường thành” – kiến trúc nổi bật của trung Quốc .
Học sinh sẽ hiểu được để xây dựng được công trình này, hàng triệu người
dân đã phải đi lao động, phu phen tạp dịch, làm việc dưới những điều kiện
thiên nhiên khắc nghiệt. Đến nay, Vạn lí trường thành có tới 2700 lịch sử,
vẫn đứng sừng sững trên đất nước Trung Hoa, thể hiện sức sáng tạo kì diệu
và tinh thần lao động bền bỉ của dân tộc Trung Hoa.
Ở khóa trình lịch sử Việt Nam, có rất nhiều tranh, ảnh miêu tả cảnh
nhân dân lao động sản xuất, khắc phục những điều kiện khắc nghiệt của
thiên nhiên…Những tranh, ảnh này sẽ giúp các em hiểu rõ tài trí và sức sáng
tạo của quần chúng nhân dân trong sự thức đẩy phát triển kinh tế- xã hội qua
các thời đại.
Đặc biệt trong quá trình lịch sử dân tộc từ sau cách mạng tháng Tám
1945, học sinh được tiếp xúc với nhiều tranh ảnh về lao động sản xuất, về

hiểu những sáng chế khoa học.
Bên cạnh đó, giáo dục truyền thống lao động cho học sinh còn có tác
dụng trong việc góp phần bồi dưỡng cho học sinh quan điểm, tinh thần thái
độ đúng đắn với lao động: cần, kiệm, tôn trọng và bảo vệ của công, say mê
khoa học- kĩ thuật, rèn luyện phương pháp lao động hợp lý…


15

Có thể nói, trên cơ sở của việc sử dụng tranh, ảnh để cung cấp tri thức
về lao động cho học sinh, đã chuẩn bị cho học sinh một tinh thần, thái độ
đúng đắn đối với lao động.
- Phát triển:
Ý nghĩa của việc sử dụng tranh, ảnh để giáo dục truyền thống lao
động trong dạy học lịch sử còn thể hiện ở tác dụng của nó đối với việc hình
thành kĩ năng cho học sinh như: khả năng quan sát, tưởng tượng, tư duy, áp
dụng thực tế.
Đối với bất cứ tranh, ảnh nào, học sinh cũng đi từ quan sát đến nhận
xét, phán đoán, phân tích và từ đó hình dung được quá khứ. Qua việc sử
dụng thường xuyên các tranh ảnh lịch sử, giáo viên sẽ rèn luyện cho học
sinh thói quen và khả năng quan sát tranh ảnh một cách khoa học. Nhờ vậy
mà thao tác tư duy được rèn luyện.
Ví dụ: Giáo viên cung cấp cho học sinh bức tranh “Mô tả cảnh sinh
hoạt của người vượn cổ”. Quan sát bức tranh học sinh sẽ thấy ngay 1 góc
cuộc sống của người vượn cổ: họ dùng những cành cây, công cụ bằng đá thô
sơ để hái lượm và săn bắt dã thú kiếm ăn, trú ẩn trong hang động, đã biết
dùng lửa. Những gì học sinh nhìn thấy, kết hợp với việc lắng nghe giáo viên
miêu tả được tổng hợp lại bằng trí tưởng tượng và từ đó tạo ra một bức
tranh toàn cảnh về đời sống của người vượn cổ. Qua đây, học sinh nhận thức
được rằng nhờ có lao động mà con người và xã hội loại người mới được

liên tục của công cụ lao động mà năng suất lao động tăng, có của thừa, dẫn
tới sự bóc lột, phân chia xã hội thành giai cấp đối kháng, đưa đến sự ra đời
của Nhà nước.
Khóa trình lịch sử Việt Nam cung cấp cho học sinh những tri thức về
truyền thống lao động của dân tộc ta trong các thời kì dựng nước và giữ
nước. Học sinh sẽ thấy được vai trò của lao động, là yếu tố thức đẩy sự phát
triển kinh tế- xã hội qua các thời đại.
Hai là: Giáo dục học sinh nhận thức thành quả lao động là động lực để
thúc đẩy sự phát triển của xã hội loài người.


17

Các khóa trình lịch sử thế giới và dân tộc sẽ cung cấp cho học sinh
những thành tựu mà con người đã đạt được qua quá trình lao động. Tiêu
biểu: khóa trình lịch sử thế giới cổ trung đại, cung cấp cho học sinh những
hiểu biết về thành tựu lao động của quần chúng nhân dân trong việc xây
dựng các công trình kiến trúc, văn hóa đồ sộ. Ở khóa trình lịch sử thế giới
cận-hiện đại học sinh nhận thức được ý nghĩa của các cuộc cách mạng công
nghiệp, cách mạng khoa học –kĩ thuật đối với sự phát triển xã hội.
Đặc biệt, trong khóa trình lịch sử Việt Nam từ sau Cách mạng tháng
Tám, học sinh được tiếp xúc với nhiều tài liệu sự kiện về lao động sản xuất,
về những phát minh sáng chế của nhân dân ta trong kháng chiến chống thực
dân Pháp và đế quốc Mĩ.
Ba là: Giáo dục học sinh lòng tự hào,lòng khâm phục đối với nhân dân
lao động- chủ nhân tạo nên thành quả lao động.
Từ khi xã hội loài người xuất hiện đến nay, nhân dân lao động- chủ
nhân tạo nên thành quả lao động là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã
hội. Các khóa trình lịch sử ở trường phổ thông cung cấp cho học sinh những
tài liệu sự kiện cụ thể chứng minh rằng, quần chúng nhân dân đóng vai trò to

Đây là những tác phẩm nghệ thuật thể hiện rõ tư tưởng tình cảm của
nghệ sĩ nhưng vì lấy đề tài lịch sử nên phản ánh sự kiện hay một phần sự
kiện lịch sử.
Ví dụ: khi dạy phần đời sống của xã hội nguyên thủy giáo viên sử
dụng tranh nghệ thuật “ Cảnh kiếm sống của người nguyên thủy”( phụ lục).
Đây là bức tranh toàn cảnh về cuộc sống của người nguyên thủy, nó phản
ánh một cuộc sống lao động và đấu tranh đầy gian lao vất vả song cũng đầy
ý nghĩa. Qua đây , giúp học sinh nhận thức được rằng nhờ có lao động mà
con người và xã hội loài người mới được hình thành. Và những thành quả
của quá trình lao động ấy là động lực để thúc đẩy sự phát triển của xã hội
loài người. Từ nhận thức đó, học sinh có ý thức yêu lao động, hăng say trong
lao động để hướng tới mục tiêu là phát triển bản thân toàn diện, góp phần
đưa đất nước đi lên. Hoặc để cung cấp cho học sinh những thành tựu lao
động của quần chúng nhân dân thời cổ- trung đại, giáo viên có thể khai thác
các hình ảnh về những công trình kiến trúc, văn hóa đồ sộ: Tranh vườn treo


19

BaBylon( dựa theo miêu tả của các sử gia) ( phụ lục 4). Đây là loại tranh
nghệ thuật do các nghệ sĩ vẽ, nên khi trước khi sử dụng cần phải tìm hiểu
nguồn gốc, xuất thân của tác giả, tránh việc vận dụng tư tưởng chủ quan của
tác giả để áp đặt cho kiến thức lịch sử. Cũng bởi tranh, ảnh nghệ thuật mang
chủ đề lịch sử mang tính chủ quan, phản ảnh rõ nét tình cảm thái độ của tác
giả, nên nó có thế mạnh trong việc giáo dục cho học sinh lòng yêu lao động,
say mê lao động, tự hào về truyền thống lao động, khâm phục người lao
động, hay lên án những hành động phá hoại thành quả lao động…
Hai là: Tranh châm biếm chính trị
Tranh châm biếm chính trị dùng trong dạy học lịch sử không nhiều,
nhưng lại là nguồn tài liệu tốt, rất có tác dụng trong việc hình tượng hóa các

phát triển hoặc suy sụp của nền kinh tế…
Ví dụ: Bức ảnh “Những thửa ruộng vì miền Nam của nông dân xã
Hòa Lạc, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình” được sử dụng khi dạy về “Miền
Bắc vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, vừa sản xuất và làm nghĩa vụ
hậu phương”. Bức tranh đã thể hiện được sự phát triển của nền kinh tế nông
nghiệp miền Bắc Việt Nam năm 1965. Những bó lúa vàng nặng trĩu trên tay
người nông dân là kết quả của bao tháng ngày vất vả. Qua đó, giáo dục cho
học sinh tinh thần quyết tâm trong lao động sản xuất của nhân dân miền Bắc.
Như vậy, tranh ảnh phản ánh các hiện tượng , sự kiện lịch sử có tác
dụng rất lớn trong việc cụ thể hóa các sự kiện lịch sử điển hình. Với tính xác
thực cao và mang nội dung phản ánh sự kiện, hiện tượng lịch sử nên loại
tranh ảnh này có thế mạnh trong việc giáo dục truyền thống lao động cho
học sinh ở khía cạnh: cung cấp cho học sinh những tri thức cụ thể về lao
động, thành quả lao động là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội…
*Thứ hai. Tranh ảnh chân dung các nhân vật có ảnh hưởng lớn đến
tiến trình lịch sử.
Việc sử dụng chân dung các nhân vật lịch sử có tác dụng tạo biểu
tượng về đặc điểm của các giai cấp, tầng lớp xã hội, của các nhà cách mạng,


21

lãnh tụ các cuộc khởi nghĩa. Khi học lịch sử, học sinh sẽ bị cuốn hút bởi
hình ảnh của các nhân vật lịch sử, và ghi nhớ chân dung các vị anh hùng dân
tộc, các nhà phát minh khoa học…Từ đó hình thành tâm lý noi gương người
xưa , muốn làm nên sự nghiệp lớn lao.
Ví dụ: Khi dạy về thành tựu của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật,
giáo viên cung cấp cho học sinh hình ảnh của Alexander Graham Bell
(người đã phát minh ra điện thoại vào năm 1876), (phụ lục 4). Ông là một
trong những nhà khoa học tàn tật nổi tiếng thế giới. Tuy mắc chứng khó đọcviết và không có khả năng học tập. Nhưng bằng sự say mê và nỗ lực của bản

Loại tranh,ảnh này tuy không phản ánh toàn bộ thành tựu văn hóa của
quá khứ nhưng cũng đủ để cung cấp cho học sinh bức tranh cuộc sống khá
toàn diện. Qua đó giáo dục cho học sinh có sự hiểu biết về thành quả lao
động , từ đó biết trân trọng , giữ gìn, bảo tồn và phát triển thành quả của cha
ông.
1.1.5. Ưu thế của tranh, ảnh đối với việc giáo dục truyền thống lao động
cho học sinh
Giáo dục truyền thống dân tộc nói chung, truyền thống lao động nói
riêng luôn là mối quan tâm đặc biệt to lớn của mỗi dân tộc. Trong quá trình
giảng dạy Lịch sử ở trường phổ thông, việc giáo dục truyền thống lao động
cho học sinh được tiến hành qua nhiều phương pháp khác nhau. Một trong
những phương pháp có ưu thế nhất đó là sử dụng đồ dùng trực quan.
Trong tất cả các nhóm đồ dùng trực quan, thì tranh ảnh lịch sử có ưu
thế hơn hẳn trong việc giáo dục tryền thống lao động cho học sinh.
Thứ nhất., tranh, ảnh là một phần trong đồ dùng trực quan tạo hình,
không những góp phần tạo biểu tượng lịch sử, giúp học sinh nhớ kĩ hiểu sâu
nhưng kiến thức tư tưởng thu nhận được, mà còn có tác dụng trong việc hình
thành những phẩm chất đạo đức cần thiết cho học sinh.
Thứ hai, tranh, ảnh lịch sử dễ sưu tầm và dễ dàng sử dụng hơn các
loại đồ dùng trực quan tạo hình khác.


23

Thứ ba, tranh, ảnh có tính xác thực cao, gần với hiện thực lịch sử hơn
nhiều đồ dùng và phương tiện trực quan khác.
Thứ tư, căn cứ vào tâm lý lứa tuổi, học sinh thích quan sát tranh, ảnh
và bàn luận. Vì vậy, tranh, ảnh có sức thu hút lớn đối với học sinh. Việc sử
dụng tranh, ảnh sẽ tạo cho không khí giờ học sôi nổi, sinh động, đạt hiệu quả
bài học cao.

Trong đó, 100% giáo viên tập trung vào việc giáo dục truyền thống yêu
nước cho học sinh. Bên cạnh đó, các truyền thống khác nhìn chung cũng
được chú trọng: truyền thống đoàn kết (66,6%); truyền thống lao động
(33,3%); truyền thống văn hiến (16,6%).
Về nhận thức đối với việc giáo dục truyền thống lao động cho học
sinh, 100% giáo viên cho rằng là cần thiết. Bởi vì nó giúp học sinh thấy
được vai trò to lớn của lao động, từ đó giáo dục học sinh tinh thần yêu lao
động và thái độ trân trọng, bảo tồn , phát huy những thành quả lao động. Từ
nhận thức đó, 66,6% giáo viên ở trường phổ thông thường xuyên giáo dục
truyền thống lao động cho học sinh. Phương pháp để giáo dục truyền thống
dân tộc nói chung, truyền thống yêu nước nói riêng mà giáo viên sử dụng
chủ yếu là khai thác triệt để nội dung sách giáo khoa, kết hợp với sử dụng đồ
dùng trực quan (50%), kể chuyện (66,6%) và các phương pháp khác( trao
đổi, thảo luận..)
- Về phía học sinh
Khi hỏi học sinh về “truyền thống dân tộc mà các em nhận thức được
trong quá trình học lịch sử” , kết quả là các em căn bản nhận thức được
những truyền thống tiêu biểu: truyền thống yêu nước (100%), truyền thống
đoàn kết (100%), truyền thống lao động (60 %)…
Thực tế điều tra cho thấy, khi dạy về thành tựu của quá trình lao động
thì học sinh đều cảm thấy tự hào về truyền thống lao động và có ý thức giữ
gìn thành quả lao động. Điều đó chứng tỏ việc giáo dục truyền thống lao
động trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông đã có kết quả.
Theo điều tra, 100% học sinh cho rằng việc giáo dục truyền thống lao
động là cần thiết. Trong đó, 62,5% -rất cần thiết, 37,5 %- cần thiết.


25

Như vậy, qua kết quả điều tra ta thấy, thực tế ở trường phổ thông hiện

Trích đoạn Hạn chế và nguyên nhân Vị trí, mục tiêu, nội dung cơ bản của lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954- Một số yêu cầu chung khi sử dụng tranh,ảnh Trong bài nghiên cứu kiến thức mới ở trên lớp Sử dụng tranh ảnh đối với việc tự học ở nhà
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status