1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế đặt ra cho các nước trên thế giới
những đòi hỏi cấp bách. Để vượt qua những thử thách và tận dụng thời cơ phát
triển đất nước, Việt Nam cần phải có những biện pháp, chủ trương đúng đắn,
đặc biệt quan tâm đến vấn đề giáo dục, bởi sản phẩm chính của giáo dục là con
người mà con người là nhân tố quyết định mọi sự thành công hay thất bại của
những chính sách đó. Hiểu được vai trò quan trọng này của giáo dục, Đảng và
Nhà nước ta từ sớm luôn chú trọng tới giáo dục, coi giáo dục là “quốc sách
hàng đầu, nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, chuẩn
bị cho thế hệ trẻ những hành trang cần thiết, xứng đáng là thế hệ trẻ của thế kỉ
XXI.
Lịch sử là môn có nhiều ưu điểm so với các môn học khác trong việc giáo
dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức cho học sinh. Tuy nhiên, hiện nay thực trạng
đáng buồn là vòng xoay của kinh tế thị trường làm cho xã hội quay lưng với
môn học lịch sử, coi lịch sử là môn phụ, môn bổ trợ cho các môn học khác nhất
là khoa học tự nhiên và ngoại ngữ. Trong khi đó, mặc dù có nhiều biện pháp đổi
mới phương pháp giảng dạy nhưng phần lớn giáo viên dạy lịch sử vẫn sử dụng
phương pháp dạy học truyền thống, khô cứng, thiếu linh hoạt trong việc gây
hứng thú bộ môn cho học sinh. Đồng thời giáo viên còn thiếu linh hoạt trong
việc vận dụng các môn học bổ trợ khác cho môn dạy của mình, nguyên tắc liên
môn được xây dựng trong môn học lịch sử từ lâu xong việc vận dụng nó còn
nhiều hạn chế. Theo nhiều khảo sát dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay,
hầu hết các giáo viên đều chỉ bó hẹp trong phạm vi kiến thức lịch sử, việc vận
dụng nguyên tắc liên môn còn nhiều hạn chế, trong đó có sử dụng tài liệu văn
học, đặc biệt là sử dụng thơ.
Tố Hữu là nhà thơ cách mạng tiểu biểu của Việt Nam, các tác phẩm của
ông gắn liền với chính trị, với thời đại và tình hình cách mạng. Vận dụng thơ Tố
Hữu vào dạy học lịch sử góp phần không nhỏ vào nâng cao hiệu quả môn học,
nhất là ý nghĩa trong việc gây hứng thú học tập môn lịch sử cho học sinh vốn
Việt)”, NXB GD Hà Nội, năm 1973, nghiên cứu nhiều vấn đề về giờ học lịch sử,
trong đó có nội dung nghiên cứu phương pháp tổ chức kiến thức lịch sử trong
giờ học, tổ chức nội dung cơ bản và tham khảo như thế nào trong một tiết học.
3
Qua công trình này, đề tài của chúng tôi biết lựa chọn kiến thức hợp lí khi dạy
học cho học sinh.
L. X. Xlovaytrich, “Từ hứng thú đến tài năng”, NXB Phụ Nữ, năm 1975.
Qua cuốn sách này, tác giả cho chúng ta thấy tài năng được khơi nguồn từ hứng
thú, có tạo được hứng thú thì mới giúp trẻ phát huy được tài năng của mình.
Bên cạnh đó, các công trình lí luận trong nước cũng góp phần hoàn thiện
thêm đề tài của chúng tôi:
Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị, “Phương pháp dạy học lịch sử tập 1
(1976), tập 2 (1980)”, NXB Giáo dục, Hà Nội. Công trình nghiên cứu về đặc
điểm nhận thức của học sinh, đặc trưng môn học, các phương pháp dạy học và
vận dụng phương pháp vào dạy học lịch sử.
Phan Ngọc Liên (chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi, “Một số
phương pháp dạy học lịch sử (tập 1, 2)”, NXB ĐHQG Hà Nội, năm 2002. Công
trình đã trình bày về đặc điểm nhận thức của học sinh, đặc trưng môn học, các
hình thức dạy học lịch sử, vận dụng liên môn vào dạy học lịch sử. Từ đó làm cơ
sở cho việc tìm hiểu và vận dụng vào đề tài của tôi.
Nguyễn Khánh Toàn, “Nền giáo dục Việt Nam lí luận và thực hành”,
NXB GD Hà Nội, năm 1999. Tác giả nghiên cứu quá trình hình thành và phát
triển của nền giáo dục Việt Nam, những bước phát triển và thực tế giáo dục của
ta như thế nào. Với công trình nghiên cứu này, đề tài của chúng tôi có tham
khảo để tìm hiểu về mục tiêu giáo dục đào tạo và thực trạng giáo dục Việt Nam
hiện nay.
2.2. Các bài nghiên cứu liên quan tới đề tài
* Luận văn, luận án
Luận văn sau đại học chuyên ngành văn học của Phạm Đức Bách “Hình
tượng người cộng sản trong thơ Tố Hữu”, NXB ĐHSP 1982. Công trình nói về
tập cho học sinh, qua đó góp phần bổ sung thêm phần nào vào lí luận và thực
tiễn dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Trên cơ sở tìm hiểu về vai trò của tài liệu văn học trong dạy học lịch sử,
đề tài đi sâu xác định biện pháp sử dụng thơ Tố Hữu nhằm gây hứng thú học tập
cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông.
3.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục đích trên, nhiệm vụ của đề tài là:
5
• Nghiên cứu lí luận dạy học, lí luận hứng thú học tập lịch sử và vai trò
thơ Tố Hữu trong dạy học lịch sử.
• Nghiên cứu thực tiễn sử dụng thơ Tố Hữu nhằm gây hứng thú cho học
sinh ở trường THPT thông qua hoạt động của thầy và trò.
• Nghiên cứu SGK và khai thác nội dung cơ bản của bài 20: “Cuộc
kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc (1953 – 1954)”,
lớp 12 THPT, chương trình chuẩn.
• Đề xuất các biện pháp sử dụng thơ Tố Hữu vào dạy học lịch sử Việt
Nam bài “Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc
(1953 – 1954)” trong dạy học lịch sử một cách hợp lí.
• Tiến hành thực nghiệm sư phạm, so sánh, đánh giá và rút ra kết luận.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Quá trình sử dụng thơ Tố Hữu trong dạy học lịch sử ở trường THPT.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Sử dụng thơ Tố Hữu trong dạy học lịch sử bài 20: “Cuộc kháng chiến
toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc (1953 – 1954)” lớp 12 THPT, chương
trình chuẩn.
- Do trình độ hạn chế và thời gian có hạn nên đề tài chỉ đi sâu các biện
pháp sử dụng thơ Tố Hữu trong giờ nội khóa, cụ thể bài 20: “Cuộc kháng chiến
gồm có 2 chương:
Chương 1 – Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng thơ Tố Hữu nhằm
gây hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THPT.
Chương 2 – Một số biện pháp sử dụng thơ Tố Hữu nhằm gây hứng thú
học tập cho học sinh qua dạy học bài 20 “Cuộc kháng chiến toàn quốc chống
thực dân Pháp kết thúc (1953 – 1954)”
7
NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG THƠ TỐ HỮU
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Một số khái niệm
- Thơ
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Thơ là hình thức sáng tác văn học
phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng
ngôn ngữ hàm xúc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu”[11;tr.309].
Nhà thơ Stephan Malácme khẳng định: “Thơ là một sự tái tạo lí tính của
vũ trụ… là sự biểu hiện ý nghĩa bí ẩn của sinh tồn, nhờ có ngôn ngữ của con
người được cô đọng vào tiết tấu thiết yếu của nó”[17;tr.327].
Xuân Diệu quan niệm:“Nghĩ cho kĩ, thì thơ là nhận “những thông tin”
của sự vật mà phát hiện những phản ánh và sáng tạo kì diệu trong tâm hồn
người… Quy luật lớn của thơ là cảm xúc và suy nghĩ… Suy nghĩ cũng phải đến
mức cao hơn suy nghĩ, tức là suy nghĩ trở thành cảm xúc… Thơ là một sản
phẩm của tâm hồn, trí tuệ con người mà tâm hồn và trí tuệ đó có một tác động
trở lại vào thực tại… Thơ phải xuất phát từ thực tại, từ đời sống nhưng phải đi
qua một tâm hồn, trí tuệ đó phải in dấu vào đó thật sâu sắc, càng cá thể, càng
độc đáo, càng hay, thơ là tiếng gọi đàn, là sự đồng thanh tương ứng, đồng khí
tương cầu của những con người”[27;tr.8-33].
Còn theo Sóng Hồng: “Thơ là một hình thái nghệ thuật tinh thần cao quý.
quan niệm: “Muốn có thơ hay, trước hết, phải tạo lấy tình. Nhà thơ chân chính
phải không ngừng phấn đấu, tu dưỡng về lập trường tư tưởng; xác định thật rõ
ràng tầm nhìn, cách nhìn. Tự nguyện gắn bó chân thành là yêu cầu cao nhất đối
với người nghệ sĩ trong quan hệ với đất nước, với nhân dân. Ngoài ra, các nhà
thơ cách mạng còn phải kiên quyết đấu tranh, không khoan nhượng trước
những biểu hiện lệch lạc, với cái xấu, cái ác. Tóm lại, viết thơ phải xứng đáng
là người chiến sĩ xung kích trên mặt trận văn hóa tư tưởng”[42].
- Hứng thú học tập và hứng thú học tập lịch sử
+ Hứng thú
9
Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn cho thấy hứng thú đóng vai trò quan trọng
trong việc nâng cao năng lực trí tuệ con người. Vì vậy, nghiên cứu hứng thú là
rất cần thiết, nhất là khoa học giáo dục.
I.F.Khalamốp định nghĩa: “Hứng thú! Đó là nhu cầu nhuốm màu sắc của
cảm xúc, đi trước giai đoạn động cơ và làm cho hoạt động của con người có
tính hấp dẫn”[13;tr.28].
Bộ môn tâm lí học cho rằng: “Hứng thú là thái độ đặc thù của cá nhân
đối với đối tượng nào đó vừa có ý nghĩa trong đời sống, vừa có khả năng đem
lại cho nó một khái cảm”[21;tr.228].
Tác giả Hà Vỹ lại coi “hứng thú là một phảm chất có nhiều màu sắc ở
mỗi cá nhân. Nó được hình thành và biểu hiện trong quá trình học tập và lao
động, vui chơi và những hoạt động xã hội khác của con người”[35;tr.1].
Ý kiến của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy, hứng thú là
một vấn đề phức tạp, mang màu sắc cảm xúc. Khi nào hứng thú được thỏa mãn
thì thường kèm theo là cảm giác hài lòng. Hứng thú thể hiện thái độ lựa chọn sự
vật hay hình thức hoạt động. Học sinh chuộng những gì mình ham thích và
thường dễ dàng bị thu hút chú ý vào đó. Hứng thú là một trong những điều kiện
quan trọng nhất không những của chú ý vô thức mà cả chú ý có ý thức. Vì vậy,
muốn thu hút chú ý của học sinh vào bài giảng, giáo viên phải tạo ra hứng thú
học tập cho các em.
trong nhiều phương pháp hiệu quả khác song lại là phương pháp đơn giản mà
hiệu quả thu được lớn, bởi thơ Tố Hữu chính là nơi không chỉ phản ánh xúc cảm
của tác giả mà còn phản ánh chân thực hiện thực cuộc sống.
1.1.2. Cơ sở xuất phát của việc sử dụng thơ Tố Hữu nhằm gây hứng thú học
tập cho học sinh
1.1.2.1. Mục tiêu và đặc trưng của bộ môn lịch sử
* Mục tiêu của bộ môn lịch sử
“Mục tiêu của bộ môn lịch sử ở trường THPT được xây dựng trên cơ sở
mục tiêu giáo dục, mục tiêu cấp học, quan điểm, đường lối của Đảng về sử học
và giáo dục. Mục tiêu của môn học cũng căn cứ vào nội dung, đặc trưng của
hiện thực lịch sử và nhận thức lịch sử; yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ của
cách mạng hiện nay”[24; tr.67].
- Về kiến thức:
11
Giúp học sinh nắm vững những kiến thức cơ bản của lịch sử thế giới và
lịch sử dân tộc, từ đó làm cơ sở cho việc hình thành thế giới quan khoa học, giáo
dục thái độ đúng đắn, các kỹ năng kỹ xảo cần thiết.
- Về kỹ năng:
Rèn luyện kỹ năng tư duy biện chứng trong học tập và hành động, từ đó
rút ra kết luận, phân tích, tổng hợp, đánh giá sự kiện hiện tượng; kỹ năng tự học,
tự thực hành bộ môn lịch sử như sử dụng hiệu quả SGK, trình bày kiến thức, sử
dụng kênh hình, đồ dùng trực quan. Đồng thời, giúp học sinh vận dụng kiến thức
đã được trang bị vào cuộc sống.
- Về tư tưởng , tình cảm:
Giúp học sinh có niềm tin vững chắc vào lý tưởng cách mạng; giáo dục
cho các em truyền thống tốt đẹp của lịch sử dân tộc biểu hiện qua quá trình dựng
nước, giữ nước và phát triển đất nước trong thời đại mới; bồi dưỡng tinh thần
đoàn kết quốc tế, tình hữu nghị với các dân tộc; đấu tranh cho độc lập, tự do,
văn minh, hòa bình và tiến bộ xã hội. Đồng thời, giúp học sinh có ý thức công
dân, sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ quốc tế, hình thành những phẩm chất cần thiết
tiễn là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lí, nhận thức hiện thực
khách quan”[18;tr.189]. Nhưng nhận thức của học sinh mang những đặc thù
riêng “một sự nhận thức đã được làm cho dễ dàng đi và được thực hiện dưới sự
chỉ đạo của giáo viên”[29;tr.12].
Quá trình nhận thức của học sinh THPT nói chung và của học sinh lớp 12
nói riêng không giống với quá trình lĩnh hội kiến thức khác. Mặt khác, học sinh
lớp 12 có đặc điểm tâm lý là ưa tìm hiểu cái mới, khám phá những điều chưa
biết. Do có vốn hiểu biết nhất định về cuộc sống, lại có điều kiện tiếp xúc với
thông tin, khi không thỏa mãn với những gì giáo viên cung cấp, các em sẽ chủ
động tìm hiểu làm sáng tỏ vấn đề. Tuy nhiên, học sinh sẽ nhanh chóng chán học
môn lịch sử nếu giáo viên cung cấp kiến thức quá cứng nhắc. Nếu giáo viên
không khéo léo trong cách truyền thụ kiến thức, không vận dụng linh hoạt các
phương pháp dạy học, các môn học bổ trợ khác thì bài học sẽ trở nên khô cứng,
không khí học sẽ bế tắc và hứng thú học tập bộ môn sẽ bị triệt tiêu.
1.1.2.3. Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường THPT hiện nay
Cùng với nhu cầu phát triển của đất nước cũng như nhu cầu đổi mới của
giáo dục đào tạo, một vài năm gần đây, một số trường phổ thông đã tiến hành
đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao hiệu quả dạy học và đã có nhiều
13
thành tích đáng kể. Tuy nhiên, nhìn chung chất lượng giáo dục chưa được cải
thiện nhiều, sự bảo thủ, lạc hậu về phương pháp vẫn còn khá phổ biến, cần
nhanh chóng được khắc phục.
Hiện nay, thực hiện mục tiêu giáo dục đào tạo và tinh thần đổi mới trong
giáo dục theo hướng phát huy tính tích cực học tập của học sinh, bộ môn lịch sử
ở trường phổ thông cũng có nhiều đổi mới, nhất là trong phương pháp dạy học:
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ
động, sáng tạo của học sinh; phù hợp đặc điểm từng lớp học, môn học; bồi
dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn;
tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học
sinh”[26;tr.27].
quyền Méc-lanh năm 1924; sự kiện Xôviết Nghệ - Tĩnh bùng nổ; diễn biến Tổng
khởi nghĩa tháng Tám; chiến dịch Điện Biên Phủ; thống nhất đất nước Xuân
1975…, cũng được phản ánh khá chân thực và đầy đủ trong thơ Tố Hữu:
“Tổng khởi nghĩa! Lệnh truyền đêm trước
Sáng quân ra giải phóng Thái Nguyên
Hà Nội, Huế, Sài Gòn, cả nước
Đứng lên ta giành hết chính quyền!”
(Theo chân Bác)[38;tr.230]
Với những câu thơ trên, Tố Hữu đã phản ánh chân thực cuộc Tổng
khởi nghĩa tháng Tám – 1945 của nước ta: Nghe lời kêu gọi của Đảng và
Chính phủ, nhân dân cả nước đã hăng hái tham gia Tổng khởi nghĩa. Chính
quyền tay sai trên cả nước lần lượt bị sụp đổ, chính quyền về tay nhân dân.
Đồng thời với những câu thơ trên, giáo viên giúp học sinh hiểu được phần
nào về sự hăng hái cách mạng của nhân dân cả nước, qua đó thấy được
quyết tâm giành độc lập của ta.
1.1.3.2. Thơ Tố Hữu ca ngợi Đảng và Bác Hồ
Bác Hồ và Đảng là hình ảnh gắn bó nhau chặt chẽ trong sáng tác văn học
nói chung, thơ Tố Hữu nói riêng. Trong thơ, Tố Hữu luôn dành những tình cảm
thiêng liêng nhất, tha thiết nhất để viết về Bác và Đảng.
Viết về Bác Hồ, Tố Hữu sử dụng nhiều tên gọi khác nhau, khắc họa
Bác ở nhiều nét khác nhau, nhưng ở nét vẽ nào Bác cũng hiện lên thật dung
dị, chân thành.
Tố Hữu đã viết:
“Dù ai rào giậu ngăn sông
Lòng ta vẫn vững là dân Cụ Hồ”
(Ta đi tới)[38;tr.92]
15
Tác giả đã khắc họa chân dung người cha già dân tộc luôn sống thủy
chung, nghĩa tình, hồn nhiên, giản dị. Khi dạy về hoạt động của Nguyễn Ái
Quốc trong bài 12 “Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ năm 1919 đến
Mà mắt đó vẫn trông đời bình thản”
16
(Quyết hy sinh)[38;tr.33]
Qua đoạn thơ trên giáo viên giúp học sinh của mình có thái độ kính trọng
và biết ơn đối với những người chiến sĩ đã hy sinh vì độc lập dân tộc; từ đó có
thái độ và hành động đúng đắn đối với lịch sử dân tộc.
1.1.3.4. Thơ Tố Hữu viết về tình quốc tế cao đẹp giữa cách mạng Việt Nam và
cách mạng thế giới
Một chủ đề thơ khác của Tố Hữu đó là thể hiện tinh thần quốc tế, sự ủng
hộ của bạn bè thế giới đối với cách mạng Việt Nam. Tố Hữu đã thể hiện tinh
thần đó thông qua các bài thơ như: Bài ca tháng Mười, Trước Kremlin, Em ơi…
Ba Lan, Emily – con, Lều cỏ Lênin, Hai anh em…Tuy không viết nhiều về đề
tài này, xong trong thơ của mình, Tố Hữu luôn thể hiện sự cảm phục và lòng tin
tưởng của tác giả đối với sự giúp đỡ, ủng hộ của các nước bạn bè tới cho cách
mạng Việt Nam.
Ví dụ trong bài 20, mục IV, phần 1_“Nguyên nhân thắng lợi”, giáo viên
sử dụng thơ Tố Hữu viết về đề tài này để minh họa cho kiến thức về nguyên
nhân làm nên chiến thắng chống Pháp của dân tộc ta là có sự góp sức ủng hộ của
các nước bạn bè trên thế giới:
“Mạc Tư Khoa yêu mến
…
Thà mất đầu, không chịu cúi đầu im
Tôi ngả mũ, chào Lênin vĩ đại”
(Trước Kremlin)[38;tr.99]
Với mọi người, Tố Hữu là thơ chính trị, vì vậy nó có một ý nghĩa lịch sử,
một giá trị thời đại to lớn. Với ngôn ngữ giàu hình ảnh, hiện thực lịch sử được
phản ánh qua những chủ đề thơ Tố Hữu hiện lên chân thực, sống động. Kết hợp
thơ ông vào dạy học lịch sử sẽ có tác dụng lớn trong việc kích thích hứng thú
của học sinh, từ đó góp phần nâng cao chất lượng học tập bộ môn.
1.1.4. Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng thơ Tố Hữu trong dạy học lịch sử ở
Và Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên
Và Phan Thiết, Phan Rang, Đà Lạt, Nha Trang
Lũ ngụy cuống cuồng, rũ rượi một màu cờ tang trắng”
(Toàn thắng về ta)[38;tr.263].
Sử dụng đoạn thơ trên của Tố Hữu kết hợp vào giảng bài, giáo viên đã lựa
chọn kiến thức cơ bản về diễn biến chính của cuộc Tổng tiến công Xuân năm
1975 và cụ thể cho học sinh từng địa điểm, vị trí giành chiến thắng của quân ta
trên chiến trường. Như vậy, chỉ bằng một số câu thơ, giáo viên đã cụ thể hóa cả
18
một sự kiện lịch sử lớn, thông qua đây, các em sẽ tiện theo dõi và nắm bắt các
sự kiện hơn.
- Về thái độ:
Tài liệu thơ có ưu thế lớn trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm, thái độ
cho học sinh vì thơ là những sáng tác trên cơ sở những ngôn từ chau chuốt, âm
điệu, hình ảnh sinh động. Nếu giáo viên biết cách khai thác, lồng ghép thơ Tố
Hữu một cách linh hoạt, hấp dẫn vào trong các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch
sử được nhắc tới trong nội dung bài học thì rất dễ tác động vào thái độ, tư tưởng
của các em, hình thành nên thái độ, cảm xúc đúng đắn.
Thơ Tố Hữu góp phần vào hình thành thái độ biết ơn, khâm phục đối với
những chiến sĩ hy sinh vì Tổ quốc; đồng thời lên án tội ác của bọn đế quốc, tay
sai.
Ví dụ dạy bài 17 “Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa từ sau ngày 2 – 9 –
1945 đến trước ngày 19 – 12 – 1946”, giảng mục III – phần 1_“Kháng chiến
chống thực dân Pháp trở lại xâm lược ở Nam bộ”, khi giáo viên muốn nhấn
mạnh tới quyết tâm chống Pháp tới cùng của Đảng và Chính phủ, giáo viên sử
dụng câu thơ sau để minh họa:
“Quyết hy sinh phá tan hết gông xiềng
Cho tổ quốc muôn muôn năm độc lập”
(Quyết hy sinh)[38;tr.34]
Qua việc sử dụng này, giáo viên đã cho học sinh thấy được ý chí quyết
Ví dụ, để phát triển năng lực tư duy nhận thức cho học sinh, khi dạy mục
III – phần 1_“Hội nghị Giơnevơ” bài 20 “Cuộc kháng chiến toàn quốc chống
thực dân Pháp kết thúc (1953 – 1954)”, giáo viên sử dụng đoạn thơ sau:
“Đồng chí Phạm Văn Đồng
…
Nhìn xuống mặt bọn Bi-đôn, Smit
Anh sẽ nói: “Thực dân, phát xít”
Đã tàn rồi!”
(Hoan hô chiến sĩ Điện Biên)[38;tr.88]
Kết hợp câu hỏi “Qua SGK và đoạn thơ trên, em hãy cho biết diễn biến
của Hội nghị Giơnevơ và chiến thắng Điện Biên Phủ có ý nghĩa gì đối với diễn
biến Hội nghị?”. Qua câu hỏi trên, giáo viên buộc học sinh phải suy nghĩ để tìm
ra câu trả lời. Như vậy, bằng việc theo dõi SGK và nghe thơ tìm hiểu kiến thức,
học sinh rèn cho mình kỹ năng độc lập học tập và cao hơn là tư duy nhận thức
vấn đề.
20
Mặt khác, qua việc phát triển các kỹ năng nhận thức, giáo viên giúp các
em vận dụng những kỹ năng đó vào cuộc sống thực tế; các em biết đánh giá,
nhận định một các có cơ sở hoạt động bản thân và xã hội trong thực tiễn.
1.2. Cơ sở thực tiễn
Việc cải cách SGK lịch sử theo xu hướng giảm kênh chữ, tăng kênh hình
và hệ thống câu hỏi nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục của Đảng và Nhà
nước đã tạo điều kiện cho các giáo viên ở trường phổ thông sưu tầm và sử dụng
tài liệu tham khảo, trong đó có tài liệu thơ Tố Hữu vào dạy học lịch sử.
Qua điều tra tình hình thực tế dạy và học ở trường THPT, chúng tôi nhận
thấy tình hình sử dụng thơ Tố Hữu vào giảng dạy lịch sử hiện nay như sau:
1.2.1. Về phía giáo viên
Để khảo sát việc dạy học lịch sử nói chung, sử dụng thơ Tố Hữu trong
dạy học lịch sử nói riêng, qua đợt thực tập sư phạm, chúng tôi đã tiến hành điều
tra bằng hình thức câu hỏi qua phiếu trắc nghiệm đối với toàn bộ giáo viên giảng
trong tư duy của học sinh, tạo điều kiện cho các em tích cực, chủ động lĩnh hội
kiến thức.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực trên, việc sử dụng thơ Tố Hữu
vào dạy học lịch sử của giáo viên còn nhiều hạn chế, thể hiện ở mức độ và hình
thức chủ yếu sử dụng thơ Tố Hữu vào dạy học.
Về mức độ sử dụng thơ Tố Hữu trong dạy học lịch sử, qua điều tra tình
hình sử dụng tài liệu thơ Tố Hữu của tất cả giáo viên dạy lịch sử ở trường THPT
Xuân Mai, chúng tôi đưa câu hỏi “Trong quá trình dạy học ở trường phổ thông,
thầy (cô) đã sử dụng tài liệu thơ Tố Hữu vào giảng dạy ở mức độ nào?”. Kết
quả như sau: Có 5% chưa sử dụng, 35% thường xuyên sử dụng và 60% thỉnh
thoảng mới sử dụng. Trong khi đó, giáo viên chỉ chủ yếu sử dụng thơ Tố Hữu
vào miêu tả, minh họa cho kiến thức bài học chứ chưa kết hợp với các phương
pháp dạy học khác.
Để tìm hiểu về nguyên nhân mức độ sử dụng thơ, chúng tôi tiếp tục đưa ra
câu hỏi “Theo thầy (cô), điều khó khăn nhất khi sử dụng thơ Tố Hữu vào giảng
dạy lịch sử ở trường phổ thông là gì?”, nguyên nhân các thầy cô đưa ra chủ yếu
là do: thiếu nguồn tài liệu, không có thời gian sưu tầm, do thời lượng của một
tiết học quá ít mà khối lượng kiến thức của bài học lại quá dài.
Như vậy, thực tế cho thấy việc sử dụng thơ Tố Hữu trong dạy học lịch sử
đã có nhiều giáo viên ý thức được tầm quan trọng và tác dụng nhằm gây hứng
22
thú học tập cho học sinh, xong do nhiều nguyên nhân mà việc sử dụng biện pháp
dạy học này vào giảng dạy của các thầy cô còn nhiều hạn chế. Vì vậy, vấn đề đặt
ra là phải có nhận thức đúng và có phương pháp sử dụng thơ Tố Hữu hợp lí để
việc dạy học lịch sử đạt hiệu quả cao hơn.
1.2.1. Về phía học sinh
Trong đợt thực tập vừa qua, chúng tôi cũng đã tiến hành điều tra học sinh
về thực tiễn sử dụng thơ Tố Hữu trong dạy học lịch sử hiện nay ở trường THPT
bằng phương pháp câu hỏi qua phiếu trắc nghiệm. Chúng tôi đã tiến hành phát
200 phiếu điều tra tình hình học tập lịch sử và 89 phiếu thực nghiệm cho học
vào dạy học lịch sử ở trường THPT?”, 86% học sinh cho rằng rất cần thiết trong
việc gây hứng thú học tập bô môn lịch sử, chỉ một bộ phận nhỏ (12% ) cho rằng
không cần thiết phải sử dụng, quan trọng nhất vẫn là kiến thức lịch sử.
Bên cạnh mặt nhận thức tâm lí như vậy, còn về nhận thức kiến thức thì
100% số học sinh được phát phiếu điều tra đều trả lời đúng các câu hỏi nội dung
kiến thức lịch sử. Như vậy, với việc vận dụng thơ Tố Hữu vào dạy học lịch sử,
chất lượng tiết học đã được cải thiện hơn rất nhiều.
Như vậy, về lí luận cũng như thực tiễn, chúng ta có thể khẳng định rằng
việc sử dụng thơ Tố Hữu vào giảng dạy và học tập lịch sử sẽ làm cho bài học
thêm phong phú, sinh động, học sinh sẽ tiếp thu kiến thức một cách dễ dàng,
khơi dậy tình yêu môn học của các em.
Tiểu kết chương 1
Giáo dục - đào tạo được coi là quốc sách hàng đầu của nước ta và giáo
dục lịch sử là bộ phận quan trọng của giáo dục – đào tạo. Tuy nhiên, thực trạng
giáo dục lịch sử ở trường phổ thông đang có nhiều bất cập cần nhanh chóng giải
quyết.
Hiện nay, tình trạng chung trong cả nước là học sinh chán học, không
hứng thú với bộ môn lịch sử. Tình trạng này do nhiều nguyên nhân và nếu tiếp
tục kéo dài sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới chiến lược phát triển giáo dục
của Việt Nam trong tương lai. Để giải quyết thực trạng trên, nhiều biện pháp đổi
mới dạy và học đã được xây dựng và áp dụng trong thực tiễn. Với giá trị lịch sử
của mình, thơ Tố Hữu cũng được coi là nguồn tài liệu quan trọng bổ sung vào
các biện pháp đổi mới dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay. Là biện
24
pháp có ưu thế lớn trong việc gây hứng thú học tập cho học sinh khi ngôn ngữ
thơ giàu hình ảnh, nhạc điệu, vận dụng đơn giản, dễ dàng trong khi giảng bài.
Tuy nhiên, việc sử dụng thơ Tố Hữu vào dạy học lịch sử nhằm gây hứng
thú học tập lịch sử không thể sử dụng tùy tiện vì sẽ gây hiệu ứng ngược đối với
nhận thức của học sinh. Vì vậy, sử dụng thơ Tố Hữu phải được kết hợp những
biện pháp dạy học khác một cách hợp lí để có hiệu quả sư phạm tốt nhất.
- Về kỹ năng:
+ Củng cố cho học sinh các kỹ năng về phân tích, đánh giá, tổng hợp và
biết tìm hiểu nguyên nhân, ý nghĩa của các sự kiện chính.
+ Rèn luyện cho học sinh kỹ năng sử dụng SGK, tài liệu tham khảo, thơ
của Tố Hữu, bản đồ…
- Về thái độ:
+ Giúp học sinh có thái độ đúng đắn trước âm mưu chiến tranh của kẻ thù,
mà cụ thể là Pháp và Mĩ; đồng thời cảm phục, biết ơn các anh hùng dân tộc đã
hy sinh để giành được chiến thắng.
+ Tự hào về những thắng lợi vĩ đại của dân tộc trong cuộc kháng chiến
chống Pháp và can thiệp Mĩ. Từ đó, củng cố lòng tin của các em vào sự lãnh đạo
của Đảng.
2.1.3. Nội dung
Bài 20 “Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc (1953
– 1954)” gồm bốn mục lớn. Nội dung mỗi mục cung cấp cho học sinh khối
lượng kiến thức vừa đủ nhằm giúp học sinh nắm được những nét chính về tình
hình cách mạng nước ta thời kì này. Cụ thể:
Mục I –“Âm mưu mới của Pháp – Mĩ ở Đông Dương: Kế hoạch Nava”:
Nội dung chính của mục này là cung cấp kiến thức về hoàn cảnh ra đời và nội
dung chính của kế hoạch Nava do Pháp và Mĩ triển khai ở Đông Dương: Sau 8
năm tiến hành chiến tranh ở Việt Nam, thực dân Pháp ngày càng bị thiệt hại.
Trước tình thế đó, Mĩ can thiệp sâu vào Đông Dương, chuẩn bị từng bước thay
thế Pháp ở khu vực này. Để tiến hành âm mưu đó, Pháp được sự hậu thuẫn của
Mĩ đã đề ra kế hoạch Nava.
Mục II – “Cuộc tiến công chiến lược Đông – Xuân 1953 – 1954 và chiến
dịch Điện Biên Phủ năm 1954”: Mục II trình bày về chủ trương của Đảng ta
nhằm đối phó với kế hoạch Nava của địch, cụ thể trong việc triển khai cuộc Tiến
công và nổi dậy Đông – Xuân của ta, đặc biệt là chiến dịch lịch sử Điện Biên
Phủ năm 1954 toàn thắng.
Mục III – “Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về chấm dứt chiến tranh, lập lại