Sử dụng kết hợp các loại đồ dùng trực quan trong giảng dạy bài 20 Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp - SGK Lịch sử lớp 12 nhằm phát huy tính tích cực của học sinh - Pdf 26

I. MỞ ĐẦU
1. Ý nghĩa đề tài
Do đặc điểm của việc học tập lịch sử là không trực tiếp quan sát được các
sự kiện nên phương pháp trực quan có ý nghĩa rất quan trọng. Có nhiều loại đồ
dùng trực quan khác nhau, cách sử dụng và hiệu quả cũng khác nhau, song đều
có tác dụng nâng cao chất lượng dạy học lịch sử.
Đồ dùng trực quan là một phương tiện quan trọng trong dạy học lịch sử ở
trường phổ thông. Nó giúp người học có biểu tượng lịch sử để hình thành khái
niệm, hiểu sâu sắc khái niệm; giúp nâng cao được hiệu quả giờ lên lớp, tạo điêù
kiện cho học sinh dễ hiểu nhớ lâu, phát huy đựơc năng lực chú ý quan sát, hứng
thú của học sinh góp phần phát huy tính tích cực của học sinh nhằm từng bước
đổi mới phương pháp daỵ học bộ môn, nâng cao chất lượng bộ môn
Mặt khác, một trong những đặc điểm của việc học tập lịch sử là học sinh
không thể“ trực quan sinh động” cũng không thể tiến hành diễn tả trong phòng
thí nghiệm. Trong dạy học lịch sử, giáo viên phải tái tạo không gian, thời gian
để cho học sinh như đang“ sống” cùng sự kiện đã xảy ra. Một trong những biện
pháp giúp cho học sinh tiếp cận kiến thức lịch sử một cách tự nhiên là cho các
em thao tác trực tiếp với đồ dùng trực quan.
Có nhiều cách phân loại đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử, về cơ
bản có thể phân chia thành 3 nhóm lớn thường được sử dụng là: Đồ dùng trực
quan hiện vật, Đồ dùng trực quan tạo hình và Đồ dùng trực quan quy ước. Trong
phạm vi 1 SKKN, tác giả xin giới hạn đề tài ở việc “Sử dụng kết hợp các loại
đồ dùng trực quan trong giảng dạy bài 20: Cuộc kháng chiến toàn quốc
chống thực dân Pháp – SGK Lịch sử 12 nhằm phát huy tính tích cực của học
sinh”
2. Thực trạng học sinh trường THPT Lang Chánh
Là một trường đóng trên địa bàn huyện miền núi, trình độ dân trí còn
thấp, đời sống gặp nhiều khó khăn nên phần đông các em học sinh chưa
thực sự tâm huyết với việc học.
1
Đối với bộ môn Lịch sử, các tiết học thường diễn ra theo kiểu dạy học

1.1. Cơ sở lí luận
Đặc trưng nổi bật của việc nhận thức lịch sử là học sinh không thể tri giác
trực tiếp được những sự kiện lịch sử đã xảy ra trong quá khứ, cũng không thể
dựng lại lịch sử trong phòng thí nghiệm. Lịch sử là những gì đã xảy ra trong quá
khứ, là hiện thực trong quá khứ tồn tại khách quan nên không thể phán đoán,
suy luận để biết về lịch sử. Vì vậy nhiệm vụ quan trọng của người giáo viên
trong dạy học lịch sử là phải tái tạo lại những gì đã diễn ra trong quá khứ một
cách chính xác nhưng không kém phần hấp dẫn và sinh động.
Hiện nay, trong chương trình sách giáo khoa đã rất chú trọng đến kênh
hình, thể hiện số lượng kênh hình tăng lên đáng kể so với trước. Hơn nữa, kênh
hình trong sách giáo khoa hiện hành không chỉ giới hạn ở việc minh hoạ cho nội
dung bài học mà nó thường chứa đựng những kiến thức lịch sử quan trọng đòi
hỏi học sinh phải nắm được thông qua khai thác kênh hình. Vì vậy, khi giảng
dạy lịch sử đòi hỏi người giáo viên không chỉ sử dụng lời nói mà còn sử dụng
những hình ảnh trực quan của quá khứ để tái tạo lại lịch sử nên giờ học trở nên
sinh động và hấp dẫn hơn đối với học sinh.
1.2. Cơ sở thực tiễn
Qua các kì thi tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh cao đẳng, đại
học, số điểm thi môn lịch sử cho thấy kiến thức lịch sử của học sinh hiện nay
quá kém.
Bên cạnh đó, chúng ta cũng phải đề cập đến cách dạy của người thầy hiện
nay ở các trường phổ thông thiếu chiều sâu, chưa hấp dẫn, vẫn mang tính nhồi
nhét,…và người thầy cũng chưa đủ sức vượt qua “rào cản” môn phụ, nên tâm lý
chán nản, không muốn đầu tư nhiều cho một tiết dạy. Điều này không có nghĩa
là tất cả thầy, cô giảng dạy môn Lịch sử trên cả nước ta đều như vậy.
3
Về phía học sinh: phần lớn không đam mê môn học này vì thế các giờ
học lịch sử thường không thu hút được các em, không phát huy được tính tích
cực, chủ động của học sinh.
2. Thực nghiệm giảng dạy

1954, thực hiện trong 2 tiết. GV cần sử dụng bản đồ lịch sử.
- Lược đồ hình thái chiến trường trong Đông Xuân 1953-1954 để học sinh
nắm được vị trí của Điện Biên Phủ, các vị trí chiến lược trong cuộc tiến công
của quân ta. Lược đồ này dùng cho phần 1 của II
- Lược đồ chiến dịch Điện Biên Phủ. Lược đồ này dùng phần 2 của II
Bên cạnh đó, để tăng cường tính hiệu quả của bài giảng và phát huy tính
tích cực, kĩ năng tu duy của học sinh, GV cần chuẩn bị các bảng biểu:
- Bảng niên biểu các cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 – 1954.
- Bảng biểu tình hình viện trợ của Mĩ cho Pháp; thành tích của quân dân
ta trong cuộc kháng chiến
- Sơ đồ: Ý nghĩa chiến thắng Điện Biên Phủ, Nội dung Hiệp định G,
Nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử kháng chiến chống Pháp.
(Để nâng cao hiệu quả giờ dạy, GV nên sử dụng kết hợp công nghệ thông tin)
3. Sử dụng kết hợp các đồ dùng trực quan trong bài giảng
* Tiết 1: Mục I, II
Mục 1 của II: Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954
- Giáo viên sử dụng Lược đồ hình thái chiến trường trong Đông Xuân 1953 –
1954 khi trình bày các cuộc tiến công chiến lược ở hầu khắp chiến trường Đông
Dương.
- Giáo viên treo Lược đồ lên góc bên phải của bảng đen (hoặc trình chiếu lược
đồ) yêu cầu học sinh quan sát Lược đồ, nắm được các kí hiệu của Lược đồ. GV
nhận xét và chỉ rõ các giới hạn của từng vùng: vùng tự do, vùng Pháp tạm
chiếm, vùng các nước khác; chỉ rõ kí hiệu các hướng tiến công của quân ta,
hướng tiến công của quân Pháp, quân giải phóng Lào.
5
- Giáo viên yêu cầu học sinh đọc nhanh tr.200, SGK ghi nhớ các cuộc tiến công
chiến lược của quân ta trong Đông Xuân 1953 - 1954
- Sau đó, GV yêu cầu HS tập trung chú ý lên Lược đồ và tường thuật quá trình
quân ta mở các cuộc tiến công chiến lược. GV dùng bút chỉ bản đồ, trình bày
chậm từng cuộc tiến công, dùng nam châm đính lên những điểm tập trung quân

nơi tập trung
binh lực thứ 2
của Pháp sau
đồng bằng Bắc
Bộ)
Xê-nô ( Trở
thành nơi tập
trung binh
lực thứ 3 của
Pháp
Luông
phabang và
Mường Sài
(Trở thành
nơi tập trung
binh lực thứ
4 của Pháp)
Plâyku( Trở
thành nơi tập
trung binh lực
thứ 5 của
Pháp)
Mục 2 của II: Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ (1954)
a/ Hoàn cảnh lịch sử:
- GV sử dụng Bảng thống kê:
Tình hình viện trợ của Mĩ cho Pháp ở Đông Dương(1950-1954)
6
Tài chính Hàng năm:
785 triệu USD
385 USD triệu cho các lực

(?): Cơ quan chỉ huy của địch đóng ở đâu? Pháp liên lạc với Điện Biên Phủ bằng
con đường nào? Rút ra nhận xét về khó khăn và thuận lợi của Pháp ở Điện Biên
Phủ?
- Sau đó, GV yêu cầu HS tập trung chú ý lên bảng, tường thuật trên Lược đồ
diễn biến chiến dịch Điện Biên Phủ theo trình tự SGK.
- HS nghe, quan sát và ghi nhớ diễn biến chiến dịch.
7
- Nếu sử dụng công nghệ thông tin, GV cũng có thể kết hợp cho HS xem 1 số
đoạn phim tư liệu về quá trình chuẩn bị cho chiến dịch, diễn biến chiến dịch
Điện Biên Phủ.
c/ Kết quả
- Về kết quả Chiến dịch: GV trình chiếu bảng thống kê sau để giúp HS nắm
được kết quả to lớn của cuộc kháng chiến mà nhân dân ta đã đạt được
Thành tích chiến đấu của quân và dân ta trong kháng chiến chống Pháp
Toàn bộ Trong đó:
9 năm Chiến dich đông - xuân
1953-1954

Toàn bộ Riêng mặt
chiến dịch trận ĐBP

Số địch bị tiêu diệt( Chết, bị thương, bị bắt
làm tù binh)- Nghìn tên
Ta thu của địch:
Súng đại bác- Khẩu

Súng các loại- Khẩu
Xe các loại- Chiếc
Ta phá của địch:
Máy bay- Chiếc

CNXH
(3)Ghi thêm một trang sử oanh liệt
vào truyền thống đấu tranh
chống ngoại xâm
(1)Cổ vũ phong trào giải phóng
dân tộc của nhân dân các nước
thuộc địa và phụ thuộc.
(2)Đánh bại chủ nghĩa thực dân cũ
Pháp và âm mưu kéo dài và mở
rộng chiến tranh của Mĩ.
(3)Chứng minh một chân lí của
thời đại: Một dân tộc đất không
rộng, người không đông, nhưng
nếu biết đoàn kết dưới sự lãnh
đạo của một đảng Macxit thì có
thể đánh bại một nước đế quốc
to lớn.
* Tiết 2: Mục III,IV
III. Hiệp định Giơnevơ 1954 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà
bình ở Đông Dương
9
Ý nghĩa lịch sử chiến thắng
Điện Biên Phủ
Trong nước
Thế giới
1 2 3 1 2 3
1. Hội nghị Giơnevơ
- Theo chương trình giảm tải của Bộ GD&ĐT, mục này giáo viên hướng dẫn HS
đọc thêm nắm bắt tiến trình HN và thời gian kí kết Hiệp định. Vì vậy, giáo viên
thuyết trình 1 số điểm cơ bản giúp HS nắm bắt thông tin.

bắn,
lập lại
hòa
bình
trên
toàn
Đông
Dương
.
Di chuyển
quân, tập kết
ở hai vùng: Ở
Việt Nam lấy
vĩ tuyến 17
làm giới
tuyến quân sự
tạm thời ;Ở
Lào tập kết ở
Phôngxalivà
Sầm nưa;
Campuchia
khôngcó
vùng tập kết
Cấm đưa
quân đội, vũ
khí, nhân
viên quân
sự của các
nước ngoài
vào Đông

thuộc
về
những
người
kí hiệp
định
Giơnev
ơ.
- GV tổ chức cho HS hoạt động nhóm tìm hiểu những hạn chế của Hiệp định
trên cơ sở khai thác nội dung Hiệp định và những kết quả đạt được của Hiệp
định Giơnevơ.
IV. Nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử cuộc kháng chiến chống
Pháp
1. Nguyên nhân thắng lợi
- GV hướng dẫn HS dựa vào SGK tìm hiểu nguyên nhân thắng lợi của cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp.
- GV hướng dẫn HS sơ đồ hoá nguyên nhân của cuộc kháng chiến:
Sơ đồ nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp
2. Ý nghĩa lịch sử
11
Nguyên nhân thắng lợi
Chủ quan Khách quan
Có sự
lãnh
đạo
sáng
suốt
của
Đảng,
đứng

dân chủ
nhân dân,
có mặt trận
dân tộc
thống nhất,
có lực
lượng vũ
trang, hậu
phương
vững chắc
Có liên
minh
chiến
đấu
của ba
nước
Đông
Dương
Có sự
đồng tình
ủng hộ
của Liên
Xô, Trung
Quốc và
các nước
XHCN,
của nhân
dân tiến
bộ trên thế
giới

thuận lợi giải
phóng miền
Nam
Giáng đòn
nặng nề vào
tham vọng xâm
lược của chủ
nghĩa thực dân
cũ của Pháp và
âm mưu can
thiệp Mĩ, Góp
phần làm tan rã
hệ thống thuộc
điạ của chúng.
Cổ vũ mạnh
mẽ phong
trào giải
phóng dân
tộc trên thế
giới, trước
hết là các
nước Á, Phi,
Mĩ latinh.
Trong quá trình giảng dạy tôi đã ra câu hỏi trắc nghiệm củng cố bài sau tiết
dạy đối chứng giữa lớp học chay và lớp học có sử dụng kết hợp các loại đồ dùng
trực quan. Kết quả thu được thể hiện rõ sự khác biệt về hiệu quả giữa 2 tiết dạy.
Cụ thể: Trong giảng dạy ở 2 lớp đại trà 12C2, 12C3 bài 20 (LS12) cho kết
quả như sau
Lớp


đồ khoa học và chính xác; sơ đồ hoá các thông tin lịch sử ngắn gọn, súc tích
giúp HS dễ nắm bắt kiến thức lịch sử trong các tiết học.
- Sử dụng triệt để các phương pháp dạy học tích cực nhằm thu hút sự chú ý của
học sinh, phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong học tập.
2. Kiến nghị, đề xuất
Trong các thư viện nhà trường phổ thông hiện nay, các thiết bị dạy học
được cấp cho giảng dạy bộ môn Lịch sử khá đầy đủ. Tuy nhiên, không phải thiết
13
bị nào cũng được sử dụng và không phải giáo viên nào cũng có thể sử dụng
được hết số thiết bị ấy.
Vì vậy, theo tôi để tiếp tục nâng cao hiệu quả giờ dạy Lịch sử:
- Giáo viên cần sử dụng hiệu quả các đồ dùng trực quan.
- Nhà trường nên tổ chức cuộc thi thiết kế và sử dụng có hiệu quả đồ dùng dạy
học ở tất cả các phân môn trong đó có môn Lịch sử.
- Nhà trường, tổ chuyên môn cần có sự hỗ trợ kinh phí đối với những giáo viên
tự thiết kế hoặc làm những dụng cụ bổ trợ đối với các đồ dung dạy học đã có
sẳn.
Trên đây là những kinh nghiệm được rút ra từ thực tiễn giảng dạy bộ môn
của bản thân tôi. Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, bài viết của tôi
còn rất nhiều hạn chế mong các bạn đồng nghiệp đóng góp ý kiến và đưa ra
nhiều kinh nghiệm quý báu trong dạy và học lịch sử để chúng tôi học hỏi để
từng bước nâng cao chât lượng của giáo dục nói chung và phân môn lịch sử nói
riêng.
Xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG
Thanh Hoá, ngày 20 tháng 02 năm 2013
NGƯỜI VIẾT SKKN
Tôi xin cam đoan đay là SKKN của tôi viết,
không sao chép nội dung của người khác.
(ký và ghi rõ họ tên)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status