HOÀNG THỊ HÀ NGHIÊN CỨU ĐỐI CHIẾU PHÉP TỈNH LƯỢC
HỒI CHỈ TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Hà Nội - 2008
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU Trang
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3. Phương pháp nghiên cứu và tư liệu 4
4. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn 5
5. Bố cục của luận văn 6
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG 7
1.1 Chỉ xuất và hồi chỉ 7
1.1.1 Chỉ xuất và các biểu thức chỉ xuất 7
1.1.2. Hồi chỉ và các phương tiện hồi chỉ 9
1.1.2.1 Khái niệm hồi chỉ 9
1.1.2.2 Các phương tiện hồi chỉ (Anaphoric Devices) 11
2.3 Đối chiếu và Chuyển dịch 55
2.3.1 Đối chiếu 55
2.3.2 Chuyển dịch 59
2.3.2.1 Tương đồng 59
2.3.2.2 Khác biệt 60
2.4 Tiểu kết 69
CHƯƠNG 3:
TỈNH LƯỢC HỒI CHỈ VỊ NGỮ TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 71
3.1 Tỉnh lược hồi chỉ vị ngữ trong tiếng Anh 72
3.1.1 Tỉnh lược hồi chỉ một phần của vị ngữ 72
3.1.1.1 Chỉ tỉnh lược hồi chỉ thành phần động từ chính của vị ngữ 72
3.1.1.2 Tỉnh lược hồi chỉ động từ chính (hoặc động từ tobe) + bổ
ngữ………………………………………………………………………… 74
3.1.1.3 Tỉnh lược hồi chỉ thành phần bổ ngữ trong vị ngữ 75
3.1.2 Tỉnh lược hồi chỉ toàn phần vị ngữ 78
3.1.2.1 Tỉnh lược hồi chỉ toàn phần vị ngữ trong câu đơn 79
3.1.2.2 Tỉnh lược hồi chỉ toàn phần vị ngữ trong câu ghép đẳng lập 80
3.1.2.3 Tỉnh lược hồi chỉ toàn phần vị ngữ trong câu ghép chính phụ 81
3.1.2.4 Tỉnh lược hồi chỉ toàn phần vị ngữ trong câu bị động 82
3.2 Tỉnh lược hồi chỉ vị ngữ trong tiếng Việt 83
3.2.1 Tỉnh lược hồi chỉ một phần của vị ngữ 83
3.2.1.1 Tỉnh lược hồi chỉ động từ chính của vị ngữ 83
3.2.1.2 Tỉnh lược hồi chỉ thành phần bổ ngữ trong vị ngữ 84
3.2.2 Tỉnh lược hồi chỉ toàn phần vị ngữ 85
3.3 Đối chiếu và Chuyển dịch 87
3.3.1. Đối chiếu 87
3.3.2 Chuyển dịch 89
3.3.2.1 Tương đồng 89
3.3.1.2 Khác biệt 91
hiện tượng tỉnh lược hồi chỉ.
Tỉnh lược hồi chỉ là một hiện tượng khá phức tạp. Như ta đã biết, tỉnh
lược là phương thức liên kết quan trọng trong hệ thống liên kết văn bản. Nó
đã vượt qua giới hạn của một phát ngôn để thể hiện sự duy trì liên kết ở mức
độ giữa các phát ngôn khác nhau trong văn bản. Hơn thế nữa, nó cũng góp
phần tạo cho văn bản tính hệ thống chặt chẽ và chính xác mà lại tiết kiệm
được ngôn từ. Tỉnh lược hồi chỉ là một dạng đặc biệt của phương thức tỉnh
lược. Nó không những đem lại những hiệu quả ngữ dụng cũng như tính mạch
lạc cao hơn cả các phương thức liên kết thông thường mà còn được đánh giá
là một trong những biện pháp rút gọn và liên kết tối ưu nhất. Bàn về vấn đề
này, tác giả Cao Xuân Hạo [5, 198] đã sử dụng thuật ngữ "hồi chỉ rê rô" và có
nhận xét trong cuốn Sơ thảo ngữ pháp chức năng (quyển 1) như sau: “Một
câu không có yếu tố hồi chỉ thì tính độc lập của nó cao hơn và do đó ít gắn bó
với văn cảnh hơn một câu có yếu tố hồi chỉ, trong đó có cả hồi chỉ
(Tỉnh
lược)”.
Nghiên cứu đối chiếu phép tỉnh lược hồi chỉ trong tiếng Anh và tiếng Việt
Hoàng Thị Hà
2
Ta có thể thấy rằng vấn đề này đã được đề cập đến tương đối nhiều
trong nghiên cứu ngôn ngữ học với nhiều thuật ngữ khác nhau: hồi chỉ zê rô,
tỉnh lược hồi chỉ, thế bằng zê rô Sở dĩ chưa có sự thống nhất về tên gọi là do
những khác biệt về quan điểm và góc độ nhìn nhận từ nhiều cách tiếp cận
khác nhau của các nhà nghiên cứu. Hơn thế nữa, phương thức tỉnh lược hồi
chỉ trong hai ngôn ngữ Anh và Việt có những đặc điểm khác biệt nhau về
hình thức cấu trúc và tần số xuất hiện trong quá trình dịch thuật. Do vậy, khi
chuyển dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt, các câu có chứa phương thức tỉnh
lược hồi chỉ không phải lúc nào cũng tương ứng hoàn toàn về cấu trúc cũng
đổi.
Mặc dù có một vai trò quan trọng trong liên kết văn bản nhưng trên
thực tế tỉnh lược hồi chỉ vẫn là một vấn đề hết sức phức tạp, gây ra nhiều ý
kiến tranh luận khác nhau. Đặc biệt, theo hiểu biết của chúng tôi, hiện nay
chưa có công trình khoa học nào đi nghiên cứu sâu về hiện tượng tỉnh lược
hồi chỉ, nhất là trên bình diện đối chiếu trên cứ liệu hai ngôn ngữ Anh - Việt.
Để góp phần tìm hiểu thêm phương thức tỉnh lược hồi chỉ cũng như để thấy
được những đặc điểm tương đồng và dị biệt giữa tiếng Anh và tiếng Việt
thông qua việc đối chiếu ngữ liệu Anh - Việt có hiện tượng tỉnh lược hồi chỉ,
luận văn của chúng tôi nhằm đến hai mục đích cụ thể sau:
(1) Mô tả và tìm hiểu những đặc điểm tương đồng và dị biệt của
phương thức tỉnh lược hồi chỉ trong quá trình dịch thuật giữa hai ngôn ngữ
Anh và Việt.
(2) Khảo sát các cách chuyển dịch phương thức tỉnh lược hồi chỉ trong
tiếng Anh sang tiếng Việt.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng khảo sát của chúng tôi là các dạng thức biểu hiện của tỉnh
lược hồi chỉ các thành phần của nòng cốt câu là: Chủ ngữ, vị ngữ trong tiếng
Anh và dạng thức tương ứng trong tiếng Việt ở cấp độ câu và chuỗi câu.
Tuy nhiên, tỉnh lược hồi chỉ là một vấn đề rất rộng và phức tạp. Chúng
tôi chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu hiện tượng này trong khuôn khổ đối chiếu
tiếng Anh và tiếng việt trên bình diện dịch thuật và tần số xuất hiện trên ngữ
liệu song ngữ Anh - Việt.
Nghiên cứu đối chiếu phép tỉnh lược hồi chỉ trong tiếng Anh và tiếng Việt
Hoàng Thị Hà
4
3. Phương pháp nghiên cứu và tư liệu
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu chung
là phương pháp quy nạp.
cổ tích Anh, Nhà xuất bản Giáo dục, 2003.
(3) Đích Uýtingtơn - Ngài thị trưởng thành phố Luân Đôn (Dick
Whittington), Trần Bích Thoa dịch, truyện cổ tích Anh, Nhà xuất bản Giáo
dục, 2003.
(4) Truyện chú Tôm tí hon (The history of Tom Thumb), Trần
Bích Thoa dịch, truyện cổ tích Anh, Nhà xuất bản Giáo dục, 2003.
(5) Cô bé mặc áo choàng mũ đỏ (Red Riding Hood), Trần Bích
Thoa dịch, truyện cổ tích Anh, Nhà xuất bản Giáo dục, 2003.
(6) Cậu Giắc và cây đậu (Jack and the Beanstalk), Trần Bích
Thoa dịch, truyện cổ tích Anh, Nhà xuất bản Giáo dục, 2003.
4. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn
- Ý nghĩa lí luận: Theo những tài liệu mà chúng tôi có được thì cho đến
nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu đối chiếu hiện tượng
tỉnh lược hồi chỉ trong tiếng Anh và tiếng Việt một cách có hệ thống và đầy
đủ. Do vậy chúng tôi mong muốn đưa ra những tìm hiểu ban đầu về tỉnh lược
hồi chỉ cũng như những nét tương đồng và dị biệt của hiện tượng này giữa hai
ngôn ngữ, góp phần vào việc nghiên cứu vấn đề này cùng với các nhà Anh
ngữ và Việt ngữ học.
- Ý nghĩa thực tiễn: Phương thức liên kết tỉnh lược hồi chỉ được đánh
giá là một trong các phương thức đem lại hiệu quả liên kết và ngữ dụng tối ưu
nhất. Do vậy, chúng tôi mong rằng kết quả nghiên cứu của luận văn này sẽ
đóng góp phần vào việc phát hiện những điểm giống nhau và khác nhau giữa
hai ngôn ngữ và kiến giải vấn đề để nâng cao hiệu năng trong sử dụng và
nghiên cứu, nhất là nâng cao chất lượng dịch thuật, giảng dạy tiếng Việt cho
người Việt và cho người nói tiếng Anh học tiếng Việt. Từ đó, giúp cho người
học có thể phân tích và tiếp thụ văn bản song ngữ Anh - Việt một cách hiệu
quả. Đặc biệt, khi hiện nay tiếng Anh ngày càng có vị thế quan trọng trong xã
Nghiên cứu đối chiếu phép tỉnh lược hồi chỉ trong tiếng Anh và tiếng Việt
Hoàng Thị Hà
(trong tầm với của người chỉ và trong tầm nhìn của cả người chỉ lẫn người
được chỉ) đối với một vị trí được lấy làm mốc. Điểm lấy làm mốc để chỉ trỏ
thường là cơ thể của người chỉ tính theo hướng nhìn thẳng của người này.
Quy tắc này sẽ giải thích sự chiếu vật bằng chỉ xuất trong ngôn ngữ. [2, 72]
Tất cả các ngôn ngữ đều có hệ thống từ chuyên chiếu vật theo phương
thức chỉ xuất. Trong đó có thể liệt kê ra ba phạm trù chỉ xuất trong các ngôn
ngữ là phạm trù ngôi (nhân xưng), phạm trù chỉ xuất không gian, phạm trù chỉ
xuất thời gian.
- Phạm trù ngôi (tức nhân xưng): Phạm trù ngôi hay phạm trừ xưng hô
bao gồm những phương tiện chiếu vật nhờ đó người nói tự quy chiếu, tức tự
đưa mình vào diễn ngôn (tự xưng) và đưa người giao tiếp với mình (đối xưng)
vào diễn ngôn. Như thế, phạm trù ngôi thuộc quan hệ vai giao tiếp ngay trong
cuộc giao tiếp đang diễn ra với điểm gốc là người nói. Khi vai trò người nói
luân chuyển thì ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai cũng thay đổi theo: ở lời nói của
Sp1 thì Sp1 là tôi (I), còn Sp2 là anh (you). Đến khi Sp2 nói thì Sp2 sẽ là tôi
(I) còn Sp1 sẽ là anh (you). [2, 72]
- Phạm trù chỉ xuất không gian: Là phương thức chiếu vật bằng cách
chỉ ra sự vật (sự kiện) theo vị trí tương đối của nó trong không gian theo một
Nghiên cứu đối chiếu phép tỉnh lược hồi chỉ trong tiếng Anh và tiếng Việt
Hoàng Thị Hà
8
điểm mốc để định vị không gian của sự vật, sự việc. Hoặc người ta lấy một
điểm không gian làm điểm mốc định vị sự vật, sự việc.
- Phạm trù chỉ xuất thời gian: Là phương thức chiếu vật bằng cách lấy
lấy thời điểm nói năng làm điểm gốc. Hiện tại, quá khứ, tương lai là so với
thời gian nói - điểm gốc đó. Đó là các từ như: now (bây giờ), then (bấy giờ),
Trong chỉ xuất có sự phân biệt giữa nội chỉ (endophoric) và ngoại chỉ
(exophoric). Biểu thức chỉ xuất ngoại chỉ khi sự vật - nghĩa chiếu vật của nó
nằm ngoài diễn ngôn, trong thế giới thực tại. Biểu thức chiếu vật nội chỉ khi
tạo nên tính mạch lạc trong văn bản và có phạm vi sử dụng khá phổ biến. Hầu
như trong ngôn ngữ nào cũng sử dụng hồi chỉ để liên kết. Do tầm quan trọng
như vậy, đã có không ít các công trình trong nước và ngoài nước xem xét vấn
đề này với phạm vi và mức độ khác nhau. Vậy hồi chỉ là gì?
Bàn về khái niệm hồi chỉ, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều thuật ngữ
khác nhau như: hồi chỉ, hồi chiếu, liên kết hồi quy… Có thể liệt kê các quan
điểm của các tác giả: Trần Ngọc Thêm, Nguyễn Thiện Giáp, Diệp Quang
Ban, Cao Xuân Hạo và các tác giả nước ngoài như: Geogre Yule, Halliday,
David Nunan…Theo đó, ta thấy thuật ngữ “hồi chiếu” được sử dụng trong các
sách như “Dụng học” của George Yule; “Dẫn nhập phân tích diễn ngôn” của
David Nunan; Văn bản và liên kết trong tiếng Việt của Diệp Quang Ban.
Trong đó khái niệm “hồi chiếu ” mà Diệp Quang Ban đưa ra như sau:
"Hồi chiếu là trường hợp yếu tố giải thích xuất hiện trước, yếu tố được
giải thích xuất hiện sau. Vì vậy muốn hiểu yếu tố được giải thích thì phải quay
trở lại với yếu tố giải thích nằm trong phần lời đã nói trước đó, tức tham
khảo ở phần lời đã có trước yếu tố được giải thích." [1, 178].
Trong khi đó các tác giả Trần Ngọc Thêm, Võ Văn Chương, Nguyễn
Thị Việt Thanh… lại gọi đây là liên kết hồi quy. Tiêu biểu là ý kiến do Trần
Ngọc Thêm đưa ra trong cuốn “Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt ”.
Nghiên cứu đối chiếu phép tỉnh lược hồi chỉ trong tiếng Anh và tiếng Việt
Hoàng Thị Hà
10
"Trong phần lớn các liên kết hiện diện, kết ngôn đứng sau chủ ngôn, nó
chỉ ra sự liên kết với phần văn bản đã qua. Loại liên kết này, ta sẽ gọi là liên
kết hồi quy. Các phát ngôn có liên kết hồi quy không bao giờ đứng đầu văn
bản". [15, 81] .
Tuy nhiên, phần đông các tác giả dùng thuật ngữ hồi chỉ (Anaphora)
như: Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thiện Giáp, Halliday, Đường Công Minh…
Tiêu biểu phải kể đến quan niệm mà tác giả Cao Xuân Hạo đã đưa ra trong
tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy rằng nhà ngôn ngữ học người Anh Richard
Hudson (hay còn gọi là Dick Hudson) là một trong số ít những nhà ngôn ngữ
xem xét đến vấn đề này trong cuốn “Coherence: Anaphora and Reference”
(Liên kết: Hồi chỉ và Quy chiếu). Theo quan điểm của Richard Hudson [30],
hồi chỉ là một dạng của liên kết vì nó kết nối bằng cách quy chiếu một từ
ngược trở lại với một từ khác đứng trước có cùng sở chỉ với nó. Theo nhà
ngôn ngữ học người Anh này thì có 5 phương tiện hồi chỉ như sau:
a. Đại từ nhân xưng (Pronouns)
Đại từ là lớp từ được sử dụng phổ biến nhất để tạo nên chuỗi quy chiếu
về người hoặc vật dù trong cùng một câu hoặc câu đi trước là sử dụng đại từ
nhân xưng và hình thức sở hữu (chẳng hạn “she- cô ấy”; “her - cuả cô ấy”, “it
- nó”, “they - họ”, “them- họ”, “their - cuả họ”…). Ta xét ví dụ sau:
(3) "Once upon a time there was an old woman who had a lazy son. She was
forever scolding him, but it made no difference - he spent all his time lying in
the sunshine, ignoring her. His main job was to look after her goats, but he
preferred to sleep in the sun".
(Ngày xưa có một bà già có một người con trai rất lười. Bà ta luôn luôn rầy
la hắn, nhưng điều đó chẳng có ảnh hưởng gì cả - hắn dành tất cả thời gian
để nằm sưởi nắng, phớt lờ bà mẹ. Công việc chủ yếu của hắn là trông coi đàn
dê của mẹ nhưng mà hắn lại thích nằm ngủ sưởi nắng hơn. )
Nghiên cứu đối chiếu phép tỉnh lược hồi chỉ trong tiếng Anh và tiếng Việt
Hoàng Thị Hà
12
Hồi chỉ (anaphora) là cách gọi tên cho mối quan hệ giữa hai chuỗi quy
chiếu trong đoạn văn trên là:
An old woman (một bà già)- she (bà ta) - her (bà ta) - her (của bà)
An lazy son (một người con trai lười) - him (hắn ta)- he (hắn ) - his
(của hắn) - his (của hắn) - he (hắn)
Ta thấy trong ví dụ trên, các đại từ đã thực hiện chức năng hồi chỉ và
(6) The house stood near a quiet sandy beach facing across the vast distances
of the lake of Oulu; here she could wander and imagine herself on the edge of
a great sea.
(Ngôi nhà nằm cạnh bãi cát biển yên tĩnh đối mặt với khoảng không bao la
của hồ Oulu; ở đây cô ấy có thể bách bộ và hình dung mình đang bên bờ đại
dương)
(7) My father expects to land at Portsmouth within the portnight. It would
mean so much to me to be there on the dock, waiting for him.
(Bố tôi mong cập cảng Portsmouth trong vòng nửa tháng nữa. Được có mặt ở
đấy, tại bến tàu để đợi ông, đối với tôi rất có nhiều ý nghĩa)
Ngoài ra, do tiếng Anh là ngôn ngữ biến hình, nên còn có một phương tiện
hồi chỉ khác là mạo từ “the”. Mạo từ “the” thông thường được sử dụng để
chỉ ra một nhân vật hay đặc điểm đã được đề cập đến trước đó, hoặc ít nhất đã
được người đọc biết đến, để đối lập với mạo từ không xác định như “a”, “an”
hay “some”, là những từ thể hiện một nhân vật hay đặc điểm mới. Ví dụ:
(8) Once upon a time there was an old woman who had a lazy daughter. The
woman used to scold the daughter all day long.
(Ngày xưa có một người đàn bà già nua có một cô con gái lười biếng. Người
đàn bà thường mắng nhiếc cô con gái suốt ngày)
c. Liên hệ từ vựng ( Lexical Relationship)
Liên kết hồi chỉ có thể được thể hiện bằng cách thiết lập trong ngôn bản
mối liên hệ từ vựng. Đó là cách lựa chọn một từ ngữ có mối quan hệ nào đó
Nghiên cứu đối chiếu phép tỉnh lược hồi chỉ trong tiếng Anh và tiếng Việt
Hoàng Thị Hà
14
với từ ngữ khác trước đó về ngữ nghĩa. Liên kết từ vựng có thể được duy trì
qua các phát ngôn hoặc chuỗi phát ngôn dài bằng sự hiện diện của các đơn vị
ngôn ngữ mà ở một khía cạnh nào đó có liên hệ với các đơn vị đã xuất hiện ở
trước đó. Cách đơn giản nhất để hồi chỉ là lặp lại một đơn vị từ vựng. Ví dụ:
15
(Cô ấy có thể hát, nhưng tôi không nghĩ là cô ấy sẽ hát)
Ở đây, động từ “sing” (hát) đã bị tỉnh lược đi để tránh sự lặp lại
(14) They didn't want to go into the water, and he didn't force them
. (
=
to go into the water)
(Chúng không muốn đi xuống nước, và anh ta cũng không bắt buộc chúng)
Trong trường hợp trên, cụm từ “to go to the water” sau từ “force”
trong câu thứ hai đã được tỉnh lược để tránh lặp lại. Người đọc vẫn hiểu được
bằng cách tự khôi phục lại cụm từ đó dựa vào sự hiện diện của nó ở phía
trước.
e. Thay thế (Substitution)
Trong tiếng Anh có một số từ (ngoài đại từ) cũng có chức năng thay thế
cho những từ ngữ khác, ngữ hoặc mệnh đề. Ta có thể thấy ví dụ rõ ràng nhất
là trong câu hỏi “Yes” và “No” (có/không). Ví dụ:
(15) Do you love me? (Em có yêu anh không?)
- Yes (Có)
Rõ ràng là ý nghĩa của từ “Yes” (có) dựa vào liên kết hồi chỉ, theo ý
nghĩa này thì nó quy chiếu trở lại cụm từ phía trước trong văn bản và trong
trường hợp này đó chính là câu: “Do you love me?” (Em có yêu anh không).
Đây chính là trường hợp điển hình của hồi chỉ: một từ thể hiện nghĩa của cả
câu.
Sau đây chúng ta có thể liệt kê một số từ cơ bản có thể được sử dụng
trong việc thay thế như sau: Thay thế cho cả câu trước: Yes và No (có /
không); Thay thế cho các mệnh đề phía trước: So và Not; Thay thế sử dụng
“do”; Thay thế sử dụng trạng từ “so” và “nor”; Thay thế sử dụng đại từ
“one”; Thay thế sử dụng trạng từ “such” nghĩa là “như thế”.
phương tiện hồi chỉ thông dụng nhất trong các ngôn ngữ, chủ yếu là ở tiếng
Nghiên cứu đối chiếu phép tỉnh lược hồi chỉ trong tiếng Anh và tiếng Việt
Hoàng Thị Hà
17
Việt và tiếng Anh. Có thể nói các phương tiện hồi chỉ không những có tác
dụng liên kết văn bản, tiết kiệm ngôn từ, tránh sự lặp lại nhàm chán đơn điệu
mà còn duy trì chủ đề của văn bản. Tuy nhiên có một dạng hồi chỉ đặc biệt,
thậm chí, còn đem lại hiệu quả liên kết cao hơn các phương tiện hồi chỉ thông
thường. Đó là phương thức hồi chỉ zê rô hay còn gọi là phương thức tỉnh lược
hồi chỉ mà luận văn này sẽ đi sâu nghiên cứu.
1.2 Tỉnh lược và các chức năng của tỉnh lược
1.2.1 Khái niệm tỉnh lược
Là một hiện tượng phổ quát ở nhiều ngôn ngữ, trong đó có tiếng Anh
và tiếng Việt, tính đến nay tỉnh lược đã được các nhà ngôn ngữ nghiên cứu và
xem xét khá kỹ dưới những góc độ khác nhau và mức độ khác nhau. Trong
tiếng Việt, tỉnh lược (ellipsis) còn được các nhà Việt học sử dụng với các
thuật ngữ khác nhau như: hiện tượng tỉnh lược, phép tỉnh lược, sự tỉnh lược
Theo tác giả Cao Xuân Hạo, “Tỉnh lược là bỏ một ngữ đoạn mà sự có
mặt không cần thiết. Nói một cách khác, đó là một phép thay thế một ngữ
đoạn bằng đại từ hồi chỉ zê rô. Cũng như hồi chỉ, tỉnh lược không phải chỉ có
tác dụng tiết kiệm. Tác dụng chủ yếu của hai biện pháp này là thực hiện tính
mạch lạc trong câu và trong một tổ hợp câu. Tác dụng thứ hai của nó là tránh
sự lặp lại nặng nề của các ngữ đoạn cùng một sở chỉ, thường có hại cho tính
mạch lạc của văn bản: một câu không có yếu tố hồi chỉ thì tính độc lập của nó
cao hơn và do đó ít gắn bó với văn cảnh hơn một câu có yếu tố hồi chỉ, trong
đó có cả đại từ hồi chỉ
(tỉnh lược). Sự lặp lại không có mục đích tạo nên
tính mạch lạc, mà thường dùng với mục đích tu từ riêng”. [7, 19]
theo tác giả Phạm Văn Tình, để miêu tả và phân tích vai trò cũng như giá trị
biểu hiện của phép tỉnh lược, việc nghiên cứu hiện tượng tỉnh lược văn bản
phải kết hợp nghiên cứu đồng thời các nhân tố tham gia vào quá trình tạo lập
phát ngôn bằng phép tỉnh lược. Ví dụ:
(18) Bà ấy mệt quá.
Không lê được một bước.
Không kêu được một
tiếng.
Cơ chừng tiếc của.
Cơ chừng hết sức.
Cơ chừng hết hơi.
Nghiên cứu đối chiếu phép tỉnh lược hồi chỉ trong tiếng Anh và tiếng Việt
Hoàng Thị Hà
19
(Nguyễn Công Hoan)
Trong trường hợp này, phát ngôn đầu tiên giữ vai trò là chủ ngôn, làm
tiền đề cho sự xuất hiện của hàng loạt những câu bị tỉnh lược chủ thể. Các
phát ngôn phía sau chủ ngôn đều không có thành phần chủ ngữ "bà ấy". Sự
vắng mặt yếu tố chủ thể này nhằm tránh sự lặp đi lặp lại của chủ ngữ "bà ấy"
trong hàng loạt câu tiếp theo của câu chủ ngôn, đồng thời có mục đích là
hướng cho người đọc chú đến sự thay đổi trạng thái liên tục của nhân vật chủ
thể trong đoạn văn này.
Hiện tượng tỉnh lược trong tiếng Anh cũng tương tự như vậy. Ta có
thể hiểu được điều này qua ví dụ sau: