1
Nghiên cứu đối chiếu và chuyển dịch các
biểu thức quy chiếu trong ngôn ngữ bóng đá
tiếng Anh và tiếng Việt
Nguyễn Anh Tuấn
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Khoa Ngôn ngữ học
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học; Mã số: 60.22.01
Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Hồng Cổn
Năm bảo vệ: 2012
Abstract. Trên cơ sở nghiên cứu đối chiếu và chuyển dịch các biểu thức quy chiếu trong
ngôn ngữ bóng đá tiếng Anh và tiếng Việt, nêu bật ra được những hiệu quả trong việc
dịch thuật các biểu thức quy chiếu bóng đá cũng như có những đóng góp nhất định cho
các nhà nghiên cứu về thể thao trong cách chuyển dịch từ ngữ bóng đá từ tiếng Anh sang
tiếng Việt. Đồng thời cũng nêu ra được những khuynh hướng về các sử dụng ngôn từ trên
báo chí Việt Nam, những kinh nghiệm về chuyển dịch từ ngữ một cách chuẩn xác nhất,
nâng cao chất lượng các tác phẩm báo chí viết về bóng đá nói riêng và thể thao nói
chung.
Keywords. Ngôn ngữ học; Ngôn ngữ học đối chiếu; Dịch; Biểu thức quy chiếu; Tiếng
Anh; Tiếng Việt
Content.
I - PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Khảo sát ngôn ngữ theo hướng đối chiếu là một vấn đề khá mới mẻ và nghiên cứu.
thể. Thật là chẳng bình thường khi mà người ta muốn quy chiếu đến một thực thể hay
một người nào đó mà không biết chính xác 'tên gọi' nào có thể là cái từ tốt nhất để
dùng". Và ông cũng cho rằng "sự quy chiếu thành công nhất thiết phải là (kết quả của)
sự phối hợp: cả người nói lẫn người nghe đều có vai trò của mình trong việc nghĩ xem
người kia đang xem xét đến cái gì".
G. Yule gọi các hình thái ngôn ngữ như thế là những biếu thức quy chiếu
(referening expressions) và phân loại như sau:
- Danh từ riêng: Nam, bin Laden, New York
- Các cụm danh từ xác định (trong tiếng Anh, đó là các cụm danh từ có mạo từ xác
định "the"): thằng cha đấy, ông giáo sư này, cái xóm này
- Các cụm danh từ không xác định ( trong tiếng Anh, đó là các cụm danh từ có
mạo từ không xác định "a"): một người đàn ông, một người qua đường
3
- Các đại từ: tôi, nó
Liên quan đến vấn đề này, tác giả Lê Đông cho rằng: “Ngữ dụng học nói riêng và
bản thân ngôn ngữ nói chung không nghiên cứu bản thân các quy chiếu mà nó chỉ quan
tâm đến những mối liên hệ giữa từ ngữ và quy chiếu. Các mối quan hệ ở đây là các mối
liên hệ có giá trị tín hiệu học của từ ngữ mà thôi”.
Trong cuốn Dẫn luận ngôn ngữ học, hai tác giả Vũ Đức Nghiệu và Nguyễn Văn
Hiệp định nghĩa quy chiếu là dùng một biểu thức ngôn ngữ (từ, ngữ) chỉ ra một sự vật
cụ thể nào đó. Chiếu vật (vật được quy chiếu) là vật được biểu thức ngôn ngữ chỉ ra.
Hiện tại ở Việt Nam, những nghiên cứu về các biểu thức quy chiếu theo hướng đối
chiếu là khá ít. Theo khảo sát của chúng tôi, chưa có công trình nào nghiên cứu đối
chiếu và chuyển dịch các biểu thức quy chiếu dựa trên cứ liệu của hai ngôn ngữ Anh,
Việt. Do vậy, đề tài Nghiên cứu đối chiếu và chuyển dịch các biểu thức quy chiếu trong
ngôn ngữ bóng đá tiếng Anh và tiếng Việt của chúng tôi là khá mới mẻ.
3. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu đối chiếu và chuyển dịch các biểu thức quy chiếu trong
ngôn ngữ bóng đá tiếng Anh và tiếng Việt, luận văn nêu bật ra được những hiệu quả
Việt, rồi từ đó rút ra những sự tương đồng, khác biệt về mặt cấu trúc, ngữ nghĩa.
- Phương pháp so sánh đối chiếu: Trên cơ sở ngữ liệu thống kê được, chúng tôi
tiến hành đối chiếu các biểu thức quy chiếu bóng đá tiếng Anh và tiếng Việt, qua đó rút
ra được những tương đồng, khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa và phương thức tư duy ở hai
ngôn ngữ.
- Phương pháp phân tích, giải thích: Ngoài việc đưa ra được những ngữ liệu, luận
văn cũng phân tích được những đặc điểm chính về cấu trúc của các biểu thức quy chiếu.
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng có những lý giải sâu hơn về ngữ nghĩa các nhóm biểu thức
quy chiếu bóng đá ở hai ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Việt.
- Phương pháp dịch thuật: Để nhận biết sự tương đồng và khác biệt của các biểu
thức quy chiếu ở hai ngôn ngữ, chúng tôi sử dụng phương pháp dịch thuật dựa trên sự
tương đương ngữ nghĩa, đồng thời nêu ra được những thuận lợi, khó khăn trong việc
dịch thuật.
6. Đóng góp của luận văn
Về lý luận, đề tài: “Nghiên cứu đối chiếu và chuyển dịch các biểu thức quy chiếu
trong ngôn ngữ bóng đá tiếng Anh và tiếng Việt” góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý
luận như quy chiếu, cách phân loại các biểu thức quy chiếu dựa trên đặc điểm cấu trúc
và ngữ nghĩa, đặc điểm phong cách báo chí Việt Nam và báo chí Anh.
Về thực tiễn, qua việc phân tích đối chiếu các biểu thức quy chiếu bóng đá trong
hai ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Việt, chúng tôi chỉ ra được những hiệu quả trong việc
5
phân tích cấu trúc, ngữ nghĩa và cách chuyển dịch nhóm biểu thức quy chiếu ở hai ngôn
ngữ. Đồng thời, luận văn này sẽ giúp ích cho các nhà báo thể thao (chuyên về mảng
quốc tế) có những ứng dụng hữu ích khi đọc và lấy tư liệu ở các báo nước ngoài.
7. Cấu trúc luận văn: Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn của chúng tôi
được chia làm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lí thuyết
Chương 2: Phân tích đối chiếu các biểu thức quy chiếu trong ngôn ngữ bóng đá
tiếng Anh và tiếng Việt.
*Quy chiếu xác định
- Từ ngữ có quy chiếu xác định là những từ ngữ được người nói sử dụng để chỉ ra
và đồng nhất một hay những đối tượng của hiện thực. Trong đó, theo đánh giá của
người nói thì người nghe đã được cung cấp đủ điều kiện cần thiết để nhằm đúng đối tượng
muốn nói tới.
- Quán từ xác định là phương tiện dùng để đánh dấu từ ngữ có quy chiếu xác định.
Điều này có thể thấy rất rõ trong tiếng Anh (the), nhưng trong tiếng Việt thì không có
phương tiện như vậy. Cho nên, việc nhận diện sẽ phụ thuộc nhiều vào ngữ cảnh. Tuy
nhiên, có những từ ngữ, trong đại đa số trường hợp, được dùng với chức năng là chỉ quy
chiếu sẵn. Đó là:
+ Tên riêng, các danh từ chỉ những sự vật đơn nhất;
+ Đại từ có tính trực chỉ hoặc hồi chỉ: tôi, nó, họ, đây, đấy, bây giờ
+ Các yếu tố trực chỉ khác: ở đây, năm ngoái
+ Các danh ngữ có yếu tố hạn định là những từ ngữ trực chỉ, hồi chỉ.
- Các từ ngữ có quy chiếu xác định, khi sử dụng, phải tuân theo một số quy tắc,
chiến lược:
+ Khi dùng một từ ngữ vào chức năng quy chiếu xác định thì, thông thường, đối
tượng được nói tới phải nằm trong thế giới nhận thức của cả người nói lẫn người nghe.
+ Tuy nhiên, có một số phạm vi giao tiếp có những cơ chế riêng (ngoại lệ) cho
phép được vi phạm. Trong trường hợp này, những ngoại lệ đó tuy không được quy ước
rõ ràng nhưng mọi người đều ngầm hiểu với nhau. Những ngoại lệ này thường có trong
văn chương, báo chí.
+ Thông thường, một từ ngữ có quy chiếu xác định phải dựa vào những mốc (hệ
toạ độ), tức là những thông tin đã biết. Những thông tin này có thể diễn đạt bằng ngôn
ngữ hoặc được ngầm hiểu (không nói ra thành lời).
*Quy chiếu không xác định
- Từ ngữ có quy chiếu không xác định là những từ ngữ được người nói dùng để chỉ
vào một đối tượng tồn tại, và về nguyên tắc phải có "căn cước, địa chỉ", nhưng ở đây
7
Cách hiểu (1b) suy ra câu (1) được dùng theo lối định tính.
(2): “Quả bóng vàng châu Âu 2009” là một ngôi sao lớn.
+ (2a): chỉ một diễn viên xác định → có quy chiếu xác định
8
+ (2b): bất kì ai giành “Quả bóng vàng châu Âu 2009” đều là ngôi sao lớn.
=> Cách dùng định tính.
(3): Vợ của Beckham luôn đối diện với nhiều sức ép.
→ Nỗi khổ ở đây là chính thuộc tính "Vợ của Beckham" đem lại (có thể bởi vì
Beckham hay đi lăng nhăng), chứ nỗi khổ không phải bắt nguồn từ bản thân người phụ
nữ đó.
* Các biểu thức quy chiếu
Các yếu tố ngôn ngữ có ý nghĩa quy chiếu được gọi là các biểu thức ngôn ngữ quy
chiếu. Một biểu thức ngôn ngữ trong những cuộc giao tiếp khác nhau sẽ có khả năng
quy chiếu (ý nghĩa quy chiếu) khác nhau.
Theo G. Yule, sự quy chiếu là một hành động và sự quy chiếu là một hành động
mà trong đó người nói (người viết) sử dụng các hình thái ngôn ngữ cho người nghe
(người đọc) nhận diện được cái chủ đích mà mình đề cập đến.
G. Yule đã phân loại có 4 biểu thức quy chiếu bao gồm:
- Danh từ riêng: Llorente, Mourinho.
- Danh ngữ xác định: HLV người Pháp, Tiền đạo 24 tuổi.
- Danh ngữ không xác định: một cầu thủ, một trọng tài.
- Đại từ: Tôi, cậu ấy, ông ấy.
Tuy nhiên, việc lựa chọn kiểu biểu thức quy chiếu nào là dựa vào cái người nói
cho rằng người nghe đã biết. Trong ngữ cảnh mà mọi người đều nhìn thấy dùng các đại
từ làm biểu thức quy chiếu có thể đủ để quy chiếu thành công, nhưng ở những ngữ cảnh
việc nhận diện khó khăn hơn có thể dùng danh ngữ phức tạp.
VD: HLV Mourinho từng gắn bó nhiều năm với Ricardo Carvalho? Cậu ấy đã
chuyển sang chơi cho Real Madrid => Ở đây, người nói quy định đối tượng được qui
chiếu là Cậu ấy – Ricardo Carvalho, chứ không phải là HLV Mourinho.
+ Danh ngữ không xác định: other forward (tiền đạo khác)
* Đặc điểm ngữ nghĩa
+ BTQC chuyên môn thuần túy bóng đá: Stadium (sân đấu), goal (bàn thắng),
goalkeeper (thủ môn), manager (HLV), offside, free-kick, penalty
+ BTQC vay mượn từ trường nghĩa xã hội: king (vua), throne (ngai vàng), dynasty
(đế chế)…
+ BTQC vay mượn từ trường nghĩa quân sự: fortress (pháo đài), the den (sào
huyệt)…
+ BTQC vay mượn từ trường nghĩa kinh tế: import (hàng ngoại), leftovers (hàng
thừa)
+ BTQC vay mượn từ trường nghĩa chỉ hiện tượng thiên nhiên: earthquake (cơn
địa chấn), whirlwind (cơn lốc)…
+ BTQC vay mượn từ trường nghĩa ẩm thực: speciality (đặc sản), banquet (bữa
tiệc)…
10
+ BTQC vay mượn từ trường liên tưởng: The Gunner (Những khẩu thần công, chỉ
CLB Arsenal), Phenomenon (Ronaldo, người ngoài hành tinh), The Shrek (hình ảnh
hoạt hình khá giống Rooney).
2. Đặc điểm của các BTQC trong ngôn ngữ bóng đá tiếng Việt
- Đặc điểm cấu trúc
+ Danh từ riêng: Torres, Mourinho, MU, Arsenal…
+ Danh từ: Quả bóng, cầu môn, khung thành, sân đấu…
+ Danh ngữ xác định: HLV người Italia, cầu thủ 29 tuổi, cựu cầu thủ Valencia…
+ Danh ngữ không xác định: một cầu thủ, một trọng tài, một tiền vệ, một quả
bóng…
- Đặc điểm về ngữ nghĩa
+ BTQC bóng đá chuyên môn thuần túy: cầu thủ, trọng tài, thủ môn, hậu vệ, sân
nhà, sân khách
+ BTQC vay mượn từ trường nghĩa xã hội: Vua, ngai vàng, bá quan văn võ, triều
dụng ở hai ngôn ngữ là giống nhau
+ Khác biệt
Danh ngữ xác định
VD1: Real Madrid midfielder Kaka is hoping that his side can get a lift by
beating Atletico in the Madrid derby this weekend => Từ Real Madrid midfielder
được dịch là tiền vệ Real Madrid, Madrid derby được dịch là đối đầu thành Madrid, ở
đây có sự khác nhau về trật tự từ.
VD2: New Real Madrid manager Jose Mourinho admits sadness at Inter Milan
exit => New Real Madrid manager được dịch là tân huấn luyện viên Real Madrid, ở
đây đảo trật tự từ
Tương đồng
Khác biệt
Tổng số
Danh từ riêng
Danh từ chỉ người
sự vật, hiện tượng
Danh ngữ không
xác định
Danh ngữ xác
định
500 từ
53 (10,6%)
+ BTQC vay mượn từ trường nghĩa chỉ hiện tượng thiên nhiên
VD: Neither side could find an opener as the clock ticked away and now both
sides have a mountain to climb to qualify => biểu thức quy chiếu mountain: ngọn núi -
khó khăn, thử thách, trở ngại.
+ BTQC vay mượn từ trường nghĩa ẩm thực
VD: Goals on the menu for Zlatan Ibrahimovic's return to Amsterdam. => biểu
thức quy chiếu menu: thực đơn - thành tích, đặc điểm nổi bật, tố chất nổi bật…
Tương
đồng
Khác biệt
Tổng số
158
(31,6%)
342
(68,4%)
500
CHƢƠNG 3: CÁC PHƢƠNG THỨC
CHUYỂN DỊCH CÁC BIỂU THỨC QUY CHIẾU BÓNG ĐÁ TỪ TIẾNG ANH
SANG TIẾNG VIỆT
1. Tƣơng đƣơng dịch thuật: ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng, mục đích
thông báo, giá trị thông báo, giá trị biểu cảm
2. Phƣơng pháp dịch thuật: dịch từ đối từ, Dịch nguyên văn, Dịch trung thành,
Dịch ngữ nghĩa, Dịch thông báo, Dịch đặc ngữ, Dịch tự do, Phỏng dịch
3. Chuyển dịch tương đương các biểu thức quy chiếu bóng đá từ tiếng Anh sang
tiếng Việt
13
- Tương đương hoàn toàn
14
Từ leftovers dịch theo nghĩa đen có nghĩa là đồ thừa, nhưng khi chuyển sang tiếng
Việt được hiểu là cầu thủ kém chất lượng, cầu thủ không còn giữ được vị trí… =>
chuyển dịch không tương đương.
KẾT LUẬN
Trên cơ sở lý thuyết về quy chiếu và các biểu thức quy chiếu cùng kết quả phân
tích ngữ liệu là các biểu thức quy chiếu trong ngôn ngữ bóng đá tiếng Anh và tiếng
Việt, luận văn “Nghiên cứu đối chiếu và chuyển dịch các biểu thức quy chiếu trong
ngôn ngữ bóng đá tiếng Anh và tiếng Việt” đã đi đến một số kết luận sau
1. Quy chiếu (theo quan điểm của Yule) là một hành động trong đó người nói
(người viết) sử dụng các hình thái ngôn ngữ làm cho người nghe (người đọc) có thể
nhận diện được cái mà mình có chủ đích đề cập đến. G. Yule cũng phân loại các biểu
thức quy chiếu thành 4 loại gồm: danh từ riêng, danh ngữ xác định, danh ngữ không xác
định và đại từ.
Sự chuyển nghĩa của các biểu thức quy chiếu dựa trên quan điểm của Đỗ Hữu
Châu: Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa. Đó là tập hợp những
từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa. Dựa trên đặc điểm của các biểu thức quy chiếu
bóng đá, ngôn ngữ bóng đá có sự vay mượn từ các trường nghĩa xã hội, trường nghĩa
kinh tế, trường nghĩa quân sự, trường nghĩa chỉ hiện tượng thiên nhiên, trường nghĩa
ẩm thực, và trường liên tưởng.
Trong cách nhìn của ngữ nghĩa học tri nhận (dựa trên đặc khái niệm về ẩn dụ tri
nhận), theo quan điểm của G. Lakoff và M. Johnson thì Bản chất của ấn dụ tri nhận là
ở sự ý niệm hóa và hiểu những hiện tượng loại này trong thuật ngữ các hiện tượng loại
khác. Dựa trên tư duy ý niệm của con người và phản ánh cách nhìn của con người về
thế giới qua lăng kính ngôn ngữ, chúng tôi nhận thấy mối liên hệ giữa các từ ngữ ẩn dụ
bóng đá với các trường nghĩa: xã hội, kinh tế, quân sự, hiện tượng thiên nhiên, ẩm thực,
liên tượng. Nói cách khác, những từ ngữ thuộc các trường nghĩa trên là khái niệm được
ẩn dụ hóa trong các biểu thức quy chiếu bóng đá.
ngữ này.
3. Nhận xét về cách thức chuyển dịch các biểu thức quy chiếu trong hiai ngôn ngữ
bóng đá tiếng Anh và tiếng Việt
- Chuyển dịch tương đương hoàn toàn các biểu thức quy chiếu bóng đá ở hai ngôn
ngữ là chuyển dịch tương đương về ngữ nghĩa (semantic equivalence): khả năng tương
đương giữa các đơn vị dịch của văn bản nguồn và văn bản đích về nghĩa sơ biểu và
nghĩa sở chỉ ở cấp độ từ.
- Chuyển dịch tương đương bộ phận các biểu thức quy chiếu bóng đá ở hai ngôn
ngữ là chuyển dịch tương đương giữa các đơn vị dịch của văn bản nguồn và văn bản
đích về nghĩa sơ biểu và nghĩa sở chỉ ở cấp độ từ. Tuy nhiên, sự tương đương này
không hoàn toàn, vì có những trường hợp các từ được chuyển dịch theo những nghĩa có
sự tương đồng nhất định.
16
- Chuyển dịch không tương đương không hoàn toàn là chuyển dịch tương đương
về ngữ dụng, (pragmatic equivalence): sự tương ứng giữa các đơn vị dịch thuật của văn
bản nguồn và văn bản đích về các thông tin ngữ dụng liên quan đến các nhân tố của tình
huống giao tiếp. Đó là sự ương đương về giá trị biểu cảm và phong cách: là tương
đương về nghĩa liên hội hay nghĩa biểu cảm. Đây là kiểu tương đương phức tạp và tinh
tế vì nó gắn liền với tâm lý dân tộc, với các nét nghĩa văn hoá hàm chứa trong ngôn
ngữ, với đặc điểm phong cách của văn bản.
Dựa vào cứ liệu là 500 biểu thức quy chiếu bóng đá tiếng Anh mà chúng tôi khảo
sát được, chúng tôi thống kê được có 231 biểu thức quy chiếu bóng đá tiếng Anh được
dịch không tương đương sang tiếng Việt (46,2%). Như vậy, nếu so sánh với các biểu
thức quy chiếu bóng đá tiếng Anh được chuyển dịch tương đương hoàn toàn (24,6%) và
các biểu thức quy chiếu bóng đá tiếng Anh được chuyển dịch tương đương không hoàn
toàn (29,2%), chúng ta có thể thấy rõ các biểu thức quy chiếu bóng đá tiếng Anh khi
chuyển dịch sang tiếng Việt thường ít khi được dịch đúng nghĩa, hay đúng hơn là người
sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt thường xuyên có những sáng tạo thú vị để mang lại sự hấp
dẫn (trong các bài báo). Bên cạnh đó, sự khác biệt về văn hóa cũng là yếu tố ảnh hưởng
12. Lý Toàn Thắng (2005), Ngôn ngữ học tri nhận từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn
tiếng Việt, Nhà xuất bản Khoa học xã hội.
13. Mai Ngọc Chừ - Nguyễn Thị Ngân Hoa, Đỗ Việt Hùng, Bùi Minh Toán (2007),
Nhập môn Ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Giáo dục.
14. Mak Halliday (2004), Dẫn luận Ngữ pháp chức năng, (Hoàng Văn Vân dịch), Nhà
xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
15. Nguyễn Lai (1990), Nhóm từ chỉ hướng vận động trong Tiếng Việt, Nhà xuất bản
Giáo dục.
16. Nguyễn Lai (2004), Những bài giảng về Ngôn ngữ học đại cương - Tập I, Nhà xuất
bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
17. Nguyễn Thị Quy (2002), Ngữ pháp chức năng Tiếng Việt - Vị từ hành động, Nhà
xuất bản khoa học xã hội.
18. Nguyễn Kim Thản (1967), Động từ tiếng Việt, Nhà xuất bản Khoa học xã hội.
19. Nguyễn Minh Thuyết - Nguyễn Văn Hiệp (2004), Thành phần câu tiếng Việt, Nhà
xuất bản Giáo dục.
20. Nguyễn Tài Cẩn (1999), Ngữ pháp tiếng Việt, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà
Nội.
21. Nguyễn Tài Cẩn (1975), Tiếng – Từ ghép – Đoản ngữ, Nhà xuất bản Đại học và
Trung học chuyên nghiệp Hà Nội.
22. Nguyễn Tài Cẩn (1975), Từ loại danh từ trong tiếng Việt, Nhà xuất bản Khoa học xã
hội Hà Nội
23. Simon C. Dik (2005), Ngữ pháp chức năng, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia thành
phố Hồ Chí Minh.
24. Trần Ngọc Thêm (2006), Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo
dục
18
25. Vũ Đức Nghiệu - Nguyễn Văn Hiệp (2006), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nhà xuất bản
Đại học quốc gia Hà Nội.
26. V.S. Panfilov (Nguyễn Thúy Minh dịch, 2008), Cơ cấu ngữ pháp tiếng Việt, Nhà