ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN LÂM QUANG ĐÔNG
CẤU TRÚC NGHĨA BIỂU HIỆN
CỦA CÂU CÓ VỊ NGỮ LÀ VỊ TỪ
MANG Ý NGHĨA TRAO/TẶNG
(trên cơ sở tiếng Việt và tiếng Anh) LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. GS.TS LÊ QUANG THIÊM
2. PGS.TS VŨ ĐỨC NGHIỆU
Hà Nội, 2007
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
i
LỜI CẢM ƠN
ii
MỤC LỤC
iii
MỞ ĐẦU
1
0.1
Lý do lựa chọn đề tài
1
0.2
Đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp và tư liệu nghiên cứu
2
0.2.1
Đối tượng nghiên cứu
2
1.2
Quan điểm về vai nghĩa của các tham thể trong cấu trúc
nghĩa biểu hiện của câu
13
1.2.1
Nhận xét chung
13
1.2.2
Cách phân loại vai nghĩa
17
1.3
Quan điểm nghiên cứu của luận án
29
1.4
Tình hình nghiên cứu cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với vị từ trao/tặng
34
1.5
Tiểu kết
41 iv
CHƢƠNG 2
CÁC LỚP NGHĨA VÀ VAI NGHĨA CỦA BA DIỄN TỐ
TRONG CẤU TRÚC NGHĨA BIỂU HIỆN
CỦA CÂU VỚI VỊ TỪ TRAO/TẶNG
Diễn tố thứ nhất
72
2.3.2
Diễn tố thứ hai
77
2.3.3
Diễn tố thứ ba
83
2.4
Tiểu kết
85
CHƢƠNG 3
CẤU TRÚC NGHĨA BIỂU HIỆN RÚT GỌN
VÀ MỞ RỘNG CỦA CÂU VỚI VỊ TỪ TRAO/TẶNG 87
3.1
Dẫn nhập
87
3.2
Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với số lượng diễn tố ít hơn 3
92
3.2.1
So sánh vị từ trao/tặng với vị từ đào (dig)
112
3.4.3
So sánh vị từ trao/tặng với vị từ nhảy (jump)
113
3.5
Tiểu kết
115
CHƢƠNG 4
SỰ THỂ HIỆN CẤU TRÚC NGHĨA BIỂU HIỆN TRÊN
CẤU TRÚC CÚ PHÁP CỦA CÂU VỚI VỊ TỪ
TRAO/TẶNG
118
4.1
Dẫn nhập
118
4.2
Trật tự tham thể trong câu với ≤ 3 diễn tố
125
4.2.1
Khi Tác thể được chọn làm Vật được định vị (Trajector - TR)
125
4.4.5
Tầm mức (extent)
157
4.4.6
Mục đích (purpose)
159
4.5
Tiểu kết
162
KẾT LUẬN
164
CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
172
TÀI LIỆU THAM KHẢO
172
PHỤ LỤC
184
1
và thỏa đáng hơn nữa. Do vậy, về mặt lý luận, việc nghiên cứu nhóm vị từ
này sẽ giúp giải quyết một số vấn đề về cấu trúc nghĩa của câu có vị ngữ là vị
từ đa trị với những quan niệm mới, phương pháp tiếp cận mới, nhờ vào những
thành tựu, tiến bộ mới của ngôn ngữ học hiện đại cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ
21. Đồng thời, việc nghiên cứu, so sánh vị từ mang ý nghĩa trao/tặng ở các
ngôn ngữ khác nhau cũng sẽ giúp phát hiện được nhiều điều thú vị về ngôn
ngữ và văn hóa của các cộng đồng sử dụng những ngôn ngữ ấy, cụ thể là tiếng
Anh và tiếng Việt trong luận án này.
Về thực tiễn, cấu trúc cú pháp của câu có vị ngữ là vị từ mang ý nghĩa
trao/tặng có nhiều thành phần phức tạp, gây không ít khó khăn, dẫn tới nhiều
lỗi phổ biến, thường gặp ở người Việt học tiếng Anh, nhất là lỗi về trật tự từ,
giới từ và cải biến chủ động - bị động. Một trong những căn nguyên gây lỗi
là do cấu trúc nghĩa của câu, đặc biệt là những tương đồng, khác biệt giữa các
ngôn ngữ về cấu trúc nghĩa của câu với những vị từ này chưa được hiểu một
cách tường tận, rõ ràng. Cần phải nghiên cứu nhóm vị từ này để có những
phương thức, biện pháp giúp người nước ngoài học tiếng Việt hay người Việt
học tiếng Anh nhận thức rõ được chúng và khắc phục được những khó khăn
trên. Đó là lý do thực tiễn thu hút sự quan tâm nghiên cứu của chúng tôi
trong luận án này.
0.2 ĐỐI TƢỢNG, NHIỆM VỤ, PHƢƠNG PHÁP VÀ TƢ LIỆU NGHIÊN
CỨU
0.2.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu
có vị ngữ là vị từ đa trị mang ý nghĩa trao/tặng trong tiếng Việt và tiếng Anh
3
(từ đây trở đi được diễn đạt gọn là câu với vị từ trao/tặng). Tiêu biểu có thể
kể đến các vị từ: cho, gửi, đưa, cung cấp, biếu, tặng, hiến, nhường, phú, thí,
phát, ban, give, present, hand, endow, bestow, confer, offer, , v.v Tuy nhiên,
một số vị từ có nhiều điểm tương đồng với vị từ mang ý nghĩa trao/tặng cũng
cho mỗi tham thể được đứng ở những vị trí nhất định, hoặc những trật tự
cú pháp của các thành phần câu ứng với các tham thể phản ánh những
khác biệt ngữ nghĩa nào.
Phát hiện những tương đồng và khác biệt giữa tiếng Việt và tiếng Anh dẫn
tới những thuận lợi và khó khăn cho người học về loại câu có vị ngữ là vị
từ đa trị, nhất là vị từ mang ý nghĩa trao/tặng, và đề xuất cách khắc phục
những khó khăn ấy.
0.2.3 Phƣơng pháp và Tƣ liệu nghiên cứu
Trước hết, vì vị từ là trung tâm của câu nên bản chất ngữ nghĩa của vị
từ là căn cứ để phân tách các lớp nghĩa, xác định các tham thể, luận giải các
mối quan hệ nghĩa, xác định vai nghĩa của các tham thể, từ đó quy nạp, tổng
kết thành mô hình cấu trúc nghĩa mang tính khái quát cho loại câu với vị từ
trao/tặng. Trong quá trình nghiên cứu, dẫn liệu tiếng Việt và tiếng Anh được
khảo sát nhằm làm sáng tỏ các luận điểm và xác định những điểm tương đồng
và khác biệt giữa tiếng Anh và tiếng Việt về loại câu với vị từ trao/tặng.
Tư liệu được nghiên cứu là câu với vị từ trao/tặng và một số vị từ khác
có liên quan. Những tư liệu này được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, từ
văn viết „chuẩn‟ („standard‟ written register) tới ngôn ngữ nói hàng ngày,
ngôn ngữ báo chí (báo in và báo điện tử), một số tác phẩm văn học và ca khúc
5
tiêu biểu nhằm có được một cái nhìn tổng thể, toàn diện về các kết cấu
(constructions) sử dụng vị từ trao/tặng. Việc sử dụng công cụ tìm kiếm cực
kỳ hiệu quả và nhanh chóng trên Internet như Google đã cho phép thống kê
được một số lượng có thể nói là khổng lồ các trường hợp xuất hiện vị từ mang
ý nghĩa trao/tặng. Riêng cho trong tiếng Việt (cả với tư cách là vị từ và công
cụ từ) và give trong tiếng Anh, một lần tìm kiếm đã cho kết quả lần lượt là
10.500 và 23 x 10
8
trường hợp xuất hiện. Tuy nhiên, sau khi sàng lọc, khoảng
Chương 1 trình bày một số quan điểm nghiên cứu của tác giả nước
ngoài và tác giả Việt Nam về cấu trúc nghĩa của câu, nhất là về cấu trúc nghĩa
biểu hiện của câu cũng như các tham thể trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của
câu và vai nghĩa của chúng. Từ đó, những luận điểm cơ bản, thống nhất được
tổng kết làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu. Đồng thời, chương 1 cũng
điểm lại những công trình nghiên cứu đã tiến hành có liên quan ít nhiều, trực
tiếp hoặc gián tiếp tới vị từ trao/tặng. Kết quả của những nghiên cứu đó là
những cơ sở, tiền đề quan trọng cho luận án này.
Chƣơng 2: Các lớp nghĩa và vai nghĩa của ba diễn tố trong cấu trúc
nghĩa biểu hiện của câu với vị từ trao/tặng
Chương 2 phân tách các lớp nghĩa trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của
câu với vị từ trao/tặng, phân tích các đặc trưng của ba diễn tố ở các lớp nghĩa
đó và chỉ ra các vai nghĩa cũng như tư cách của chúng.
Chƣơng 3: Cấu trúc nghĩa biểu hiện rút gọn và mở rộng của câu với vị từ
trao/tặng
Chương 3 khảo sát các điều kiện ngữ nghĩa cho phép những tham thể
nhất định vắng mặt cũng như cho phép những chu tố nhất định tham gia vào
7
cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu, góp phần rút gọn hoặc phát triển cấu trúc
nghĩa biểu hiện của câu. Qua đó, vị thế, tư cách của những chu tố đó trong
cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu cũng được xác định.
Chƣơng 4: Sự thể hiện cấu trúc nghĩa biểu hiện trên cấu trúc cú pháp
của câu với vị từ trao/tặng
Chương 4 tập trung phân tích một số nhân tố ngữ nghĩa tác động tới
cấu trúc cú pháp của câu với vị từ trao/tặng như nhân tố lớp nghĩa, góc nhìn,
quan hệ giữa vật được định vị (trajector) với mốc định vị (landmark), cận
ấy” (Cao Xuân Hạo, 1992:8) hay nghĩa của câu là lõi sự tình mang nội dung
thông báo (Frawley, 1992).
Thứ hai, nội dung nghĩa của câu (và của ngôn ngữ) không chỉ là cái
phần phản ánh (biểu hiện, miêu tả) những mảng của thế giới hiện thực (hay
một thế giới nào khác ở bên ngoài ngôn ngữ) mà còn có những mặt khác
không kém phần quan trọng, thậm chí còn quan trọng hơn.
9
1.1.2 Về cấu trúc nghĩa của câu
Cấu trúc nghĩa là cấu trúc cơ sở của câu (Fillmore, 1968), quy định cấu
trúc ngữ pháp của câu. Cấu trúc nghĩa của câu bao gồm một động từ cộng với
một số danh ngữ có các quan hệ được “dán nhãn” (quan hệ cách) đặc biệt với
câu (Fillmore, 1968); nói cách khác, nghĩa của câu là lõi sự tình được thể hiện
bằng vị từ và các tham thể xung quanh nó, trong đó vị từ là trung tâm. Vị từ
là cái lõi xâu chuỗi, liên kết quan hệ giữa các tham thể với nhau để thể hiện
một sự tình nào đó. Đây là một trong những điểm chung trong quan điểm của
Chafe (1970), Frawley (1992), Nguyễn Thị Quy (1995), Nguyễn Văn Hiệp
(2002), Diệp Quang Ban (2004)
1
; v.v.
Ngữ trị của vị từ (gồm kết trị và diễn trị) - giá trị ngữ pháp thống nhất
từ các kết hợp có tính trật tự và các vai diễn có tính chức năng đặc trưng được
xác lập trong ngôn liệu bởi hình thức của những trật tự ngữ đoạn và chức vụ
cú pháp - quyết định số lượng các thành tố nghĩa cũng như thành tố cú pháp
xung quanh nó (Đinh Văn Đức, 2001).
Với tư cách là một đơn vị ngữ nghĩa, mỗi tham thể có một vị trí nhất
định trong cấu trúc ngữ nghĩa, tức là mỗi vị trí trong cấu trúc ngữ nghĩa ứng
với một đơn vị ngữ nghĩa nhất định. Tuy nhiên, trong một số ngôn ngữ thuộc
loại hình đa tổng hợp (polysynthetic), động từ có thể thu hút hoàn toàn danh
từ vào nó, có thể bao gồm trong căn tố của nó cả một số đơn vị ngữ nghĩa của
các thành tố nghĩa với vị từ) chỉ xuất hiện một lần trong một câu đơn, tức là
mỗi thành tố nghĩa chỉ đảm nhận một vai nghĩa, các tác giả sau Fillmore như
Chafe (1970), Frawley (1992), Cao Xuân Hạo (1992), Jackendoff (1995),
Diệp Quang Ban (2004), v.v. đều nhận thấy không có quan hệ tương liên một-
đối-một như vậy mà trong thực tế, một thành tố nghĩa có thể đồng thời đảm
nhận nhiều vai nghĩa khác nhau, tức là có nhiều quan hệ nghĩa khác nhau với
vị từ. Thành tố nghĩa đó có thể là thành tố bắt buộc hoặc tuỳ nghi đối với
11
từng vị từ nhất định, và ngay cả đối với một vị từ, đôi khi thành tố tuỳ nghi
cũng có thể hoạt động như thành tố bắt buộc hoặc thay thế cho thành tố bắt
buộc, như Diệp Quang Ban (2004:38) nhận định: “ có những trường hợp
yếu tố chỉ cảnh huống (chu tố) lại hoạt động như tham thể [trong] những
trường hợp đó chúng nằm trong sự thể và giữ một chức năng cú pháp nào đó
trong cấu trúc cơ sở của câu.”
Một cấu trúc ngữ nghĩa của ngôn ngữ này có thể không có tương đương
tuyệt đối trong một ngôn ngữ khác, mặc dù cùng mô tả một sự tình như nhau,
một “kịch cảnh” như nhau. Sự khác nhau đó thể hiện ở số lượng thành tố
nghĩa [bắt buộc] và vai nghĩa của chúng với động từ (Lý Toàn Thắng, 2002).
Một sự tình có thể được nhận thức và mô tả theo nhiều cách khác nhau, bằng
những đơn vị ngữ âm, ngữ pháp khác nhau, hoặc cùng một đơn vị ngữ âm,
ngữ pháp có thể thể hiện nhiều sự tình khác nhau hoặc nhiều phương diện
khác nhau của sự tình (Chafe, 1970). Nói cách khác, „các sự việc được diễn
đạt thông qua cách nhìn được xây dựng nên bởi con người, và được mã hoá
trong ngữ pháp của một ngôn ngữ cụ thể. Vì vậy, cùng một sự việc có thể
được nhìn nhận và diễn đạt theo những cách khác nhau: khác nhau giữa
những người nói khác nhau, đối với các ngôn ngữ khác nhau; và cũng khác
nhau ngay cả đối với cùng một người trong những lần nhìn nhận khác nhau,
khác nhau trong cùng một ngôn ngữ bởi những phương tiện diễn đạt khác
nhau mà ngôn ngữ đó cho phép” (Diệp Quang Ban, 2004:33). Các ngôn ngữ
13
1.2 QUAN ĐIỂM VỀ VAI NGHĨA CỦA CÁC THAM THỂ TRONG CẤU
TRÚC NGHĨA BIỂU HIỆN CỦA CÂU
1.2.1 Nhận xét chung
Vấn đề vai nghĩa của các tham thể trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của
câu là một vấn đề phức tạp và đã được khảo sát, nghiên cứu theo rất nhiều
quan điểm khác nhau. Fillmore (1968) đã đề nghị một danh sách các cách sâu
hay cách ngữ nghĩa (semantic cases) như sau:
A – Agentive: người/vật (động vật) là chủ thể của hành động do vị từ biểu
thị;
I – Instrumental: động lực hay vật thể (bất động vật) có quan hệ nhân quả với
hành động hay trạng thái do vị từ thể hiện, hoặc công cụ của hành động do vị
từ thể hiện;
D – Dative: người/vật (động vật) chịu tác động của trạng thái hay hành động
do vị từ biểu thị;
F – Factitive: đối tượng hoặc kết quả của hành động hay trạng thái do vị từ
biểu thị, hoặc được coi là bộ phận nghĩa của vị từ;
L – Locative: địa điểm, vị trí hoặc định hướng không gian của trạng thái
hoặc hành động do vị từ biểu thị;
O – Objective: cách trung hòa nhất, là bất cứ cái gì có thể do danh từ biểu
thị, đảm nhiệm vai trò gì là do ngữ nghĩa của chính vị từ, nói chung thường
là sự vật chịu tác động của trạng thái hay hành động do vị từ biểu thị
(Fillmore 1968: 24 – 25).
Tuy nhiên, Fillmore cũng chưa thoát khỏi được những giới hạn của cấu
trúc luận hình thức (formal structuralism) và ngữ pháp cải biến-tạo sinh, và
danh sách các cách ngữ nghĩa Fillmore đưa ra còn ít, hơi đơn giản hoá, chưa
thể bao quát một cách thấu đáo và toàn diện về các quan hệ cách mà các danh
ngữ có thể thể hiện, ví dụ như sự mơ hồ, thiếu phân định rõ ràng của Tân cách
Cảm thể: người hoặc thực thể cảm giác, suy nghĩ hay mong muốn;
Phát ngôn thể: người hoặc vật phát ra tín hiệu;
v.v.
Các vai nghĩa được đánh dấu hoặc không đánh dấu theo nhiều phương
thức khác nhau, phổ biến nhất là bằng giới từ. Ví dụ, by - bởi cơ bản là đánh
dấu Tác thể (Agentive), with - bằng/với đánh dấu Công cụ (Instrumental),
giới từ zêrô đánh dấu Objective và Factitive, for – cho đánh dấu Đắc lợi thể,
v.v
Nói chung các tác giả đều thống nhất về định nghĩa các vai, song trong
thực tế đối với việc xác định tham thể nào đóng vai gì trong cấu trúc nghĩa
biểu hiện của câu thì họ lại có những quan điểm hết sức đa dạng. Ví dụ,
Radford (1988) cho rằng vai Đối thể và Thụ thể (Theme and Patient) chỉ là
các tên gọi khác nhau cho cùng một vai nghĩa, nhưng trong thực tế hai vai này
rất khác biệt. Vai Đối thể có thể thể hiện một thực thể chuyển động trong
không gian thực tế hay tưởng tượng dưới tác động của hành động mà vị từ thể
hiện, song không bị thay đổi về thể chất, ví dụ như the rock trong Fred threw
the rock – Fred ném hòn đá. Trong khi đó, vai Thụ thể là thực thể bị tác động
hay biến đổi dưới tác động của hành động mà vị từ thể hiện, ví dụ the rock
trong Fred shattered the rock – Fred đập vụn hòn đá.
Chafe (1970) khẳng định chỉ có một số danh từ nào đó mới có thể làm
Tác thể (Agent) của động từ. Khả năng này phụ thuộc vào đặc trưng ngữ
nghĩa của đối tượng: đó có phải là một đối tượng có năng lực (capacity), có
lực (force) để thực hiện một việc gì đó hay không, một đối tượng tự chủ, kiểm
soát được bản thân (control) hay không. Khái niệm Tác thể (Agent) này có
điểm trùng với khái niệm động vật tính (animate). Tuy nhiên, Chafe lại cho
rằng một số danh từ không có động vật tính mà cũng làm Tác thể, ví dụ:
16
The heat melted the butter
DA nhiệt làm chảy – PAST
17
dán nhãn nhiều vai (theta label) khác nhau. Điều này dẫn tới sự chồng chéo
nhiều khi không cần thiết, và số lượng quá lớn, phân biệt quá chi tiết các vai
nghĩa làm cho danh sách vai nghĩa trở nên quá cồng kềnh, khó xử lý khi gặp
những trường hợp phức tạp. Chính vì vậy, vào đầu thập kỷ 90, nhiều nhà
nghiên cứu đã tập trung xử lý, phân loại các vai nghĩa theo những đặc trưng
có tính khái quát hơn cho các ngôn ngữ nói chung, để rồi căn cứ vào đó mỗi
ngôn ngữ cụ thể có sự phân biệt chi tiết hơn tùy theo đặc điểm cụ thể của từng
tiểu loại vai nghĩa trong những phạm trù lớn đó. Tiêu biểu cho những cố
gắng này là Frawley (1992), Van Valin (1993), Jackendoff (1995), Sowa
(1999) và gần đây nhất là Mylne (2000).
1.2.2 Cách phân loại vai nghĩa
1.2.2.1 Frawley (1992) đề xuất rằng trước hết các vai nghĩa được phân
thành các vai diễn tố và phi diễn tố (participant and non-participant roles).
Vai diễn tố là vai của những tham thể bắt buộc tham gia vào cấu trúc nghĩa
của câu, do vị từ đòi hỏi; vai diễn tố thường trả lời cho các câu hỏi “Ai làm gì
với ai?” Vai phi diễn tố là vai của các tham thể tùy nghi, do ngữ cảnh quy
định hơn là do vị từ. Chúng thường trả lời cho các câu hỏi “Tại sao? Ở đâu?
Khi nào? và Như thế nào? Các vai diễn tố bắt nguồn từ sự tương thích giữa
các đặc trưng của tham thể với đặc trưng của vị từ. Vai phi diễn tố còn được
gọi là vai chu tố (circumstantial roles hay circumstant). Trong các vai diễn tố
có hai loại chính: vai lớn (macroroles) và vai không gian (spatial roles). Vai
lớn (macroroles) bao hàm Người/vật thực hiện (actor) hay tiến hành (doer)
hành động do vị từ biểu thị, và Người tiếp nhận (recipient) hoặc chịu tác động
(undergoer) của hành động do vị từ biểu thị; vai không gian có đặc điểm của
cả hai loại vai người thực hiện và người tiếp nhận nên theo Frawley tốt nhất là
xét chúng theo quan điểm không gian. Các vai lớn này bao gồm các vai nhỏ,
18
trong đó vai Actor gồm 3 vai chủ đạo là Tác thể (Agent), Chủ thể (Author) và
xếp về phía bên trái, còn các vai nghĩa gần với Thụ thể hơn xếp về phía bên
phải. Cách xếp loại các vai nghĩa như thế này cho phép một độ linh hoạt cao,
phù hợp và thuận tiện để xếp các vai nghĩa tùy theo từng ngôn ngữ cụ thể,
theo các đặc điểm phân biệt cụ thể giữa các vai.
Bậc vai nghĩa thứ hai được gọi là vai lớn (macroroles), giống như cách
gọi của Frawley (1992), với hai vai lớn là Hành thể (Actor) và Bị thể
(Undergoer). Mỗi vai lớn này lại bao hàm nhiều quan hệ nghĩa cụ thể hơn.
Việc xếp chúng vào hai loại vai lớn này là do chúng có những hoạt động cú
pháp giống nhau. Ví dụ như Đối thể và Thụ thể có những chức năng ngữ
pháp giống nhau vì một số mục đích ngữ pháp nhất định. Tuy nhiên, cần thiết
phải phân biệt chúng vì lý do ngữ nghĩa và một số lý do khác nữa. Chẳng hạn
như Tác thể, Người tác động, Nghiệm thể hay Địa điểm có thể làm chủ ngữ
trong câu với vị từ chủ động, trong khi Thụ thể, Đối thể, Địa điểm hay
Nghiệm thể có thể làm tân ngữ trực tiếp (chúng tôi dùng thuật ngữ „tân ngữ‟
(object) để phân biệt với bổ ngữ, vì thực tế chủ ngữ cũng chỉ là một bổ ngữ
cho vị từ mà thôi). Trong câu bị động tiếng Anh, Thụ thể, Đối thể, Địa điểm
hay Nghiệm thể có thể làm chủ ngữ, trong khi Tác thể, Người tác động,
Nghiệm thể hoặc Địa điểm làm tân ngữ cho giới từ by (bởi). Căn cứ vào
những lý do này, Van Valin đề xuất Cấp hệ Hành thể - Bị thể (Actor –
Undergoer Hierarchy) như sau: 20
Actor Undergoer Tác thể Người tác động Nghiệm thể Địa điểm Đối thể Thụ thể