Đặc điểm thuật ngữ kỹ thuật mỏ tiếng Anh và việc chuyển dịch sang tiếng Việt - Pdf 26


TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC

CAO XUÂN HIỂN

ĐẶC ĐIỂM THUẬT NGỮ KỸ THUẬT MỎ
TIẾNG ANH VÀ VIỆC CHUYỂN DỊCH SANG
TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ: NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC

Chuyên ngành: LÝ LUẬN NGÔN NGỮ
Mã số: 60 22 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ: NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Phúc Hà nội – 2009

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TRONG LUẬN VĂN


iii

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN iii
MỤC LỤC iv
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do nghiên cứu 1
2. Mục đích nghiên cứu 3
3. Nguồn tư liệu nghiên cứu 4
4. Phương pháp nghiên cứu 5
5. Ý nghĩa của việc nghiên cứu 5
6. Cấu trúc của luận văn 5

Chương I
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Khái niệm thuật ngữ 6
2. Việc nghiên cứu lý luận về thuật ngữ trong ngôn ngữ học 11

QUA CHUYỂN DỊCH TỪ ANH SANG VIỆT
1. Đặc điểm chung 69
2. Đặc điểm cấu tạo thuật ngữ KTM tiếng Việt 72
2.1. Thuật ngữ đơn 73
2.2. Thuật ngữ phức 75
3. Đặc điểm về nguồn gốc 79
3.1. Thuật ngữ thuần Việt 79
v
3.2. Thuật ngữ là từ Hán - Việt 81
3.3. Thuật ngữ gốc Ấn - Âu 83
4. Đặc điểm trong chuyển dịch Anh - Việt 85
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC 1


Anh để làm công cụ giao tiếp và trao đổi thông tin. Đối với các ngành khoa học kỹ
thuật, tiếng Anh lại càng được sử dụng rộng rãi.
Trên thực tế, mỗi ngành khoa học kỹ thuật đều cố gắng xây dựng cho mình
một hệ thuật ngữ riêng làm phương tiện nghiên cứu, giao tiếp và trao đổi thông tin.
Ngành nào ra đời sớm, hệ thuật ngữ càng sớm được hoàn chỉnh và có số lượng
phong phú. Những ngành ra đời sau hoặc mới ra đời, cũng đều có chiến lược từng
bước xây dựng cho mình một hệ thống thuật ngữ hoàn thiện, chuẩn hoá và thực sự
tiện ích. Kỹ thuật mỏ (KTM) là một ngành khoa học có lịch sử lâu đời trên thế giới
nên bản thân nó có một hệ thống thuật ngữ tương đối phong phú, đầy đủ; đã có từ
điển dành riêng cho ngành, thậm chí cho cả chuyên ngành hẹp.
Khai thác mỏ là hoạt động khai thác khoáng sản bao gồm các vật liệu địa
chất từ lòng đất, thường là các thân quặng, mạch hoặc vỉa than. Các vật liệu được
khai thác từ mỏ là các loại kim loại cơ bản, kim loại quí, sắt, urani, than, kim cương,
đá vôi, đá phiến, muối và kali cacbonnat v.v… Có thể nói, bất kỳ vật liệu nào không
phải từ trồng trọt, chăn nuôi hoặc được tạo ra trong phòng thí nghiệm hay nhà máy,
nói chung là đều được khai thác từ mỏ. Khai thác mỏ ở nghĩa rộng hơn còn bao
gồm việc khai thác các nguồn tài nguyên không tái tạo, như dầu mỏ, khí thiên
nhiên, thậm chí cả nguồn nước v.v… Khoảng 40.000 năm trước công nguyên, con
người đã biết sử dụng mọi thứ xung quanh mình, kể cả đá cũng được dùng làm công
cụ khai thác các khoáng sản. Sau một thời gian sử dụng hết những đá tốt trên bề mặt

2

trỏi t, con ngi bt u o bi tỡm nhng th h cn. Nhng cỏi m u tiờn
ch l nhng cỏi h nụng nhng ri dn dn, nhng ngi khai m sau buc phi
o sõu thờm tỡm kim Do ú, h thng thut ng k thut m khỏ phong phỳ
v ó sm c hon chnh trong nhiu ngụn ng chõu u.
Vit Nam, khai thỏc khoỏng sn vi qui mụ cụng nghip l mt lnh vc
cũn khỏ non tr, nhng v th ca nú ngy cng c khng nh. Trong cơ cấu nền
kinh tế n-ớc ta kể từ sau ngày hòa bình lp lại năm 1954, ngành công nghiệp khai

nước nhà. Vì vậy, xây dựng hệ thuật ngữ KTM tiếng Việt đối với những người hoạt
động trong ngành vừa nhằm tạo ra những thuận lợi và phát huy tốt công tác nghiên
cứu kỹ thuật mỏ, vừa là một công việc xuất phát từ đòi hỏi cấp thiết của thực tế
khách quan.
Luận văn này, chúng tôi đi vào nghiên cứu khảo sát hệ thuật ngữ KTM tiếng
Anh, có sơ bộ so sánh với tiếng Việt, để lấy đó làm cơ sở đề xuất một số ý kiến để
xây dựng giáo trình tiếng Anh chuyên ngành KTM, góp phần nâng cao chất lượng
đào tạo tiếng Anh chuyên ngành cho các sinh viên đang theo học ngành này tại các
trường đại học ở nước ta hiện nay.

2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích ngiên cứu của luận văn là:
- Nghiên cứu hệ thuật ngữ KTM tiếng Anh để từ đó rút ra được những đặc
điểm của các thuật ngữ này về mặt cấu trúc, nguồn gốc xuất xứ; đồng thời cũng sơ
bộ xem xét cả cấu trúc và nguồn gốc hệ thuật ngữ KTM đã được chuyển dịch qua
tiếng Việt, từ đó từng bước nhằm cố gắng xác lập lại một danh sách các thuật ngữ
KTM Anh – Việt chuyên ngành (thuần mỏ) hơn. Đồng thời, qua việc nghiên cứu
này, chúng tôi cũng sơ bộ so sánh đối chiếu hai hệ thuật ngữ để tìm ra những nét
tương đồng và khác biệt.
- Nghiên cứu hai hệ thuật ngữ này, đặc biệt là những kết quả của nó còn có ý
nghĩa hết sức quan trọng trong việc biên soạn những giáo trình tiếng Anh chuyên
ngành KTM cho các sinh viên theo học ngành này hiện nay ở nước ta.
4

3. Nguồn tƣ liệu nghiên cứu
Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi tập trung nghiên cứu thuật ngữ
chuyên ngành KTM trong tiếng Anh được thu thập từ các nguồn tư liệu sau đây:

Trong luận văn, chúng tôi áp dụng phương pháp phân tích thống kê số lượng
đối với các thuật ngữ KTM tiếng Anh và Việt đã thu thập để xác định đặc điểm của
chúng. Mặt khác, chúng tôi cũng phân tích so sánh để tìm ra các nét tương đồng và
khác biệt giữa thuật ngữ KTM tiếng Anh và tiếng Việt.

5. Ý nghĩa của việc nghiên cứu
Luận văn này cung cấp những thông tin cần thiết và hữu ích về hệ thuật ngữ
KTM tiếng Anh và tiếng Việt, qua đó có thể đề xuất một số ý kiến góp phần phục
vụ công việc dạy và học nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tiếng Anh chuyên ngành
của sinh viên và cán bộ nghiên cứu trong lĩnh vực KTM.

6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận
văn bao gồm ba chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Đặc điểm của hệ thuật ngữ kỹ thuật mỏ tiếng Anh
Chương 3: Đặc điểm của hệ thuật ngữ kỹ thuật mỏ tiếng Việt qua chuyển
dịch từ Anh sang Việt 6

CHƢƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN

1. Khái niệm thuật ngữ
Thuật ngữ là một đề tài có sức cuốn hút đối với nhiều nhà nghiên cứu khoa
học trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Hiện nay, trong ngôn ngữ học có một số
lượng vô cùng lớn các định nghĩa khác nhau về thuật ngữ, thậm chí "về điều này có
thể viết cả một cuốn sách".

(tiếng Pháp), là chiếc máy đồ sộ nhất trên dây chuyền dệt vải công nghiệp; hay,
trong tiếng Việt có từ “cũi lợn” chỉ nơi người ta dùng gỗ súc xếp quây lại thành
chuồng để nuôi lợn rất quen thuộc ở các làng quê Việt Nam từ bao đời nay, nhưng
cũng chính danh từ “cũi lợn” này lại cũng được sử dụng trong ngành khai thác hầm
lò do những người thợ mỏ đã xếp gỗ chống lò (để tránh sụp lở trần và vách lò)
tương tự như hình dạng chiếc “cũi lợn” thực sự. Và thế là có tên gọi “cũi lợn” và
khái niệm “xếp cũi lợn” trong ngành khai thác hầm lò…v.v. Những ví dụ trên,
chứng tỏ rằng đầu tiên người ta đã tận dụng các từ vốn có trong từ vựng toàn dân
rồi gán cho chúng một nét nghĩa đặc biệt mang tính thuật ngữ. Việc gán nghĩa này
dựa trên sự liên tưởng, so sánh về hình dạng, cấu tạo hay tính chất của các sự vật
hiện tượng vốn đã được định danh trong vốn từ vựng toàn dân với những khái niệm
sự vật trong kỹ thuật.
Một số nhà ngôn ngữ học khác lại xác định thuật ngữ trong mối quan hệ giữa
nó với khái niệm. Chẳng hạn, các soạn giả của "Đại Bách khoa toàn thư Xô viết" đã
định nghĩa: "Thuật ngữ là một từ hoặc một cụm từ chỉ ra một cách chính xác khái
niệm và quan hệ của nó với những khái niệm khác trong giới hạn của phạm vi
chuyên ngành. Thuật ngữ là cái biểu thị vốn đã chuyên biệt hoá, hạn định hoá về sự
vật, hiện tượng, thuộc tính và quan hệ của chúng đặc trưng cho phạm vi chuyên
môn đó" [69, 473 - 474]. Trong cuốn "Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học",
O.C.Aхманова giải thích: "Thuật ngữ là từ hoặc cụm từ của ngôn ngữ chuyên môn
(ngôn ngữ khoa học, ngôn ngữ kỹ thuật,…) được sáng tạo ra (được tiếp nhận hoặc
được vay mượn, ) để biểu thị chính xác các khái niệm chuyên môn và biểu thị các
đối tượng chuyên môn" [68, 474].

8

Một số nhà khoa học khác lại nhấn mạnh vấn đề khái niệm và định nghĩa
thuật ngữ. Chẳng hạn, B.П. Даниленĸо chỉ ra rằng "Thuật ngữ dù là từ (ghép hoặc
đơn) hay cụm từ đều là một ký hiệu tương ứng với một khái niệm", và "Bản chất của
thuật ngữ với tư cách là một khái niệm hoàn toàn không trùng với từ thông thường

Năm 1983, Hoàng Văn Hành đã đưa ra định nghĩa về thuật ngữ, trong đó chỉ
rõ thêm tính xác định của khái niệm mà thuật ngữ biểu thị trong hệ thống những
khái niệm của một ngành khoa học nhất định, như sau: "Thuật ngữ là những từ ngữ
dùng để biểu thị một khái niệm xác định thuộc hệ thống những khái niệm của một
ngành khoa học nhất định. Toàn bộ hệ thống thuật ngữ của các ngành khoa học
hợp thành vốn thuật ngữ của ngôn ngữ" [20, 26].
Cũng nói về thuật ngữ, Vũ Quang Hào lại đề cập về phương diện ngữ nghĩa
của thuật ngữ. Theo ông, trong tiếng Việt, bản thân hai chữ "Thuật ngữ" phải được
hiểu theo bốn nghĩa:
"Thuật ngữ" được hiểu là nội dung của khái niệm khoa học (nội hàm khái
niệm). Theo nghĩa này, thuật ngữ là đơn vị cơ bản của mỗi khoa học chuyên ngành.
"Thuật ngữ" được hiểu là hình thức ngôn ngữ, là cái vỏ, là tên gọi của một
khái niệm khoa học. Theo nghĩa này, thuật ngữ - tên gọi là đơn vị cơ bản trong vốn
từ của ngôn ngữ khoa học.
"Thuật ngữ" được hiểu là toàn bộ khái niệm trong một khoa học, một lĩnh
vực. Theo nghĩa này, toàn bộ thuật ngữ - khái niệm làm thành hệ thuật ngữ - khái
niệm của một khoa học.
"Thuật ngữ" được hiểu là toàn bộ tên gọi trong một khoa học. Theo nghĩa
này, toàn bộ thuật ngữ - tên gọi làm thành hệ thuật ngữ - tên gọi của một khoa học.
Tình trạng của hệ thuật ngữ - tên gọi phản ánh tình trạng ứng dụng lý luận ngôn
ngữ học vào việc giải quyết những vấn đề của hình thức ngôn ngữ trong một khoa
học. [21, 124 – 125]
Trong giáo trình “Từ vựng tiếng Việt” xuất bản năm 1978 và tiếp đến là giáo
trình “Từ vựng học tiếng Việt” xuất bản năm 1985, tái bản năm 1998, Nguyễn
Thiện Giáp đã đưa ra quan niệm khá ngắn gọn nhưng nêu được đầy đủ những đặc
trưng cần và đủ của thuật ngữ. Theo ông, "Thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt
của ngôn ngữ. Nó bao gồm những từ và những cụm từ cố định là tên gọi chính xác

10


11

- Về mặt nội dung (mặt biểu nghĩa): thuật ngữ biểu thị duy nhất một
nghĩa - một khái niệm.
- Về mặt sử dụng: thuật ngữ được sử dụng trong một ngành nhất định,
một lĩnh vực khoa học nhất định.
Từ các đặc điểm nêu trên, thuật ngữ được hiểu một cách ngắn gọn là: “Thuật
ngữ là một từ hoặc một cụm từ biểu thị chính xác khái niệm, đối tượng được sử
dụng trong một ngành khoa học cụ thể”.

2. Việc nghiên cứu lý luận về thuật ngữ trong ngôn ngữ học
Thuật ngữ là một bộ phận từ vựng quan trọng của ngôn ngữ. Theo nghiên
cứu của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới, thuật ngữ là bộ phận phát triển mạnh
nhất so với các bộ phận khác trong vốn từ vựng của một ngôn ngữ. Thuật ngữ phát
triển theo sự phát triển của khoa học kỹ thuật. Hiện nay, khoa học kỹ thuật trên thế
giới đang ngày càng phát triển như vũ bão nên nhu cầu sử dụng thuật ngữ trong lĩnh
vực khoa học kỹ thuật, số lượng các loại thuật ngữ, và nhu cầu nghiên cứu thuật
ngữ trên thế giới cũng ra đời hết sức nhanh nhạy để đáp ứng những đòi hỏi thiết
thực đó. Tiếng Anh, với vốn từ vựng phong phú và số lượng thuật ngữ chiếm tỉ lệ
rất lớn đang dần trở thành ngôn ngữ toàn cầu, ngôn ngữ của giao tiếp và khoa học kĩ
thuật. Việc nghiên cứu thuật ngữ tiếng Anh, hoặc những nghiên cứu thuật ngữ có so
sánh đối chiếu với tiếng Anh, do đó cũng đang được đẩy mạnh và phát triển mạnh
mẽ.
Sự phát triển không ngừng của các ngành sản xuất công nghiệp, khoa học và
công nghệ ở Việt Nam hiện nay cũng là một động lực góp phần thúc đẩy số lượng
các thuật ngữ ở Việt Nam ngày một nhiều hơn và từng bước hoàn thiện dần. Tuy
nhiên, bên cạnh đó lại tồn tại một số bất cập. Chẳng hạn, những khái niệm được
biểu thị bằng hơn một thuật ngữ so với các thuật ngữ gốc, có khi chưa được hệ
thống hoá và cách hiểu của các nhà khoa học cũng thiếu thống nhất. Ngay cả cách
phiên âm thuật ngữ Ấn - Âu ở nước ta hiện nay cũng chưa đảm bảo tính nhất quán.

nước đã triệu tập Hội nghị bàn về vấn đề Xây dựng thuật ngữ khoa học nhằm đẩy
mạnh công tác nghiên cứu và xây dựng thuật ngữ khoa học, dần dần tiêu chuẩn hoá
và thống nhất thuật ngữ trong các ngành chuyên môn. Tại hội nghị, nhiều đại biểu

13

đã tán thành quan niệm về các tiêu chuẩn của thuật ngữ mà bản báo cáo chính đã
đưa ra: 1) Tính khoa học, cụ thể phải chính xác, có hệ thống, ngắn gọn; 2) Tính dân
tộc, nghĩa là có màu sắc ngôn ngữ dân tộc, phù hợp với đặc điểm tiếng Việt; 3) Tính
đại chúng, nghĩa là dễ hiểu, dễ nhớ, dễ nói, dễ viết, dễ đọc, tuy rằng mức độ nhất trí
ở điểm này, điểm khác còn có chỗ khác nhau. Chẳng hạn, Lê Khả Kế cũng cho
thuật ngữ vừa phải khoa học, nghĩa là chính xác và có hệ thống, vừa phải có tính
dân tộc và đại chúng, phải đặt sao cho ngắn gọn, dễ đọc, dễ hiểu, dễ nhớ [24, 110 -
114].
Học giả Lê Văn Thới cho rằng:
- "Về nội dung: 1) Danh từ phải chỉ riêng một ý mà thôi; 2) Một ý không nên
có nhiều danh từ; 3) Danh từ trong một bộ môn phải nằm trong một hệ thống
chung; 4) Danh từ phải gợi đến ý chính.
- Về hình thức: 5) Danh từ phải đặt ngắn gọn chừng nào tốt chừng ấy;
6)Danh từ phải nằm trong hệ thống chung của một ngôn ngữ" [36, 5].
Hồng Dân lại có phát biểu: "Những đặc điểm trên (ổn định về cấu tạo, ngắn
gọn, có sức sản sinh ) tạo ra cho thuật ngữ tính đơn vị định danh, tính chất này đảm
bảo cho thuật ngữ có khả năng tách biệt với mọi ngữ cảnh, không bị ngữ cảnh làm
sai lạc nội dung mà nó biểu thị". Rồi dẫn lời Như Ý trình bày quan điểm tương tự
và đi đến kết luận, " Có thể khẳng định những yêu cầu cơ bản của thuật ngữ là:
1 - Tính định danh
2 - Tính chính xác
3 - Tính hệ thống
4 - Tính bản ngữ” [9, 117]
Lưu Vân Lăng cho rằng: "Theo ý chúng tôi, thuật ngữ tiếng Việt phải:

thường dựa vào vốn từ vị của ngôn ngữ toàn dân" [39].
Về nguyên tắc vay mượn
Các nhà khoa học đều thống nhất mượn thuật ngữ nước ngoài để làm giàu
vốn thuật ngữ của dân tộc. Nhưng vay mượn thuật ngữ nước ngoài một cách có
sáng tạo, biến nó thành thuật ngữ khoa học của dân tộc ta, vừa chính xác, vừa có hệ

15

thống chứ không phải là bắt chước người nước ngoài, cố giữ nguyên cách nói, cách
đọc hay cách viết để đưa vào tiếng Việt, làm cho tiếng Việt bị lai căng và mất đi
tính trong sáng. Khi mượn yếu tố Hán - Việt để đặt thuật ngữ cần chú ý đến yếu tố
có nghĩa, độc lập thường dùng và phải kết hợp theo ngữ pháp tiếng Việt. Còn khi
mượn thuật ngữ Ấn - Âu thì không nên "cố giữ nguyên dạng chữ quốc tế mà nên
dựa theo âm là chủ yếu (âm của nguyên ngữ hoặc của nhiều nước dùng gần giống
nhau) mà phiên âm một cách sáng tạo, sao cho nó phù hợp với đặc điểm và sự phát
triển của ngôn ngữ dân tộc ta" (Lưu Vân Lăng) [30, 153].
2.3. Bàn về chính tên gọi thuật ngữ
Tên gọi thuật ngữ cũng là một vấn đề được các nhà nghiên cứu trong nước
quan tâm và thảo luận rất nhiều. Hàng loạt tên gọi khác nhau được áp dụng cho
thuật ngữ như: Thuật ngữ, danh từ khoa học, thuật ngữ khoa học và chuyên danh.
Tháng 7/1980, tại Hội nghị ngôn ngữ học "Về vấn đề chuẩn hoá thuật ngữ", Hồng
Dân (Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh) đã trình bày một tham luận về
chính tên gọi “thuật ngữ”. Theo ông, nên dùng cụm từ "chuyên danh" để thay cho
các cụm từ "thuật ngữ", "thuật ngữ khoa học", "danh từ khoa học". Thực chất, đề
xuất nói trên không thỏa đáng vì thiếu sức thuyết phục bởi vì các cách gọi tên trên
có sự khác nhau chứ không phải hoàn toàn trùng nhau. “Thuật ngữ”, hay “thuật ngữ
khoa học” luôn luôn biểu thị khái niệm được xác định trong một ngành khoa học và
lệ thuộc vào hệ thống khái niệm của ngành đó, còn “chuyên danh” về bản chất chỉ
là danh mục tên gọi cụ thể của các đối tượng được dùng trong từng ngành khoa học
nhất định, chính vì vậy mà nó đã không thoát ra khỏi chính khái niệm “danh pháp”

Thuật ngữ là những từ hoặc những cụm từ cố định dùng để biểu thị chính xác
các khái niệm và đối tượng thuộc lĩnh vực của mỗi ngành khoa học. Vì thế thuật
ngữ mang những tính chất, đặc điểm sau:
3.1. Tính chính xác
Nói thuật ngữ khoa học trước hết phải nói đến tính chính xác. Điều đó có
nghĩa là thuật ngữ phải biểu hiện đúng khái niệm khoa học mà không gây nhầm lẫn.
Một thuật ngữ lí tưởng là thuật ngữ phản ánh được đặc trưng cơ bản, nội dung bản
chất của khái niệm, tuy nhiên không thể đòi hỏi thuật ngữ phản ánh đầy đủ mọi
phương diện, mọi khía cạnh của khái niệm. Thậm chí cá biệt có trường hợp thuật

17

ngữ phản ánh một đặc trưng không cơ bản, nhưng đó là đặc trưng đủ để khu biệt
thuật ngữ ấy với thuật ngữ khác.
Để đặt ra được những thuật ngữ chính xác, cần cố gắng sao cho trong nội bộ
một ngành khoa học mỗi khái niệm chỉ nên có một thuật ngữ biểu hiện và ngược lại
mỗi thuật ngữ chỉ được dùng để chỉ một khái niệm, nghĩa là không nên có hiện
tượng đồng nghĩa. Lẽ đương nhiên chúng ta sẽ không thể tuyệt đối hoá được
nguyên tắc này. Có thể có trường hợp do sự phát triển của khoa học mà một thuật
ngữ cũ vẫn song song tồn tại một thời gian với thuật ngữ mới. Đồng thời, thuật ngữ
cần phải có tính một nghĩa. Hiện tượng một nghĩa cũng như việc tránh đồng nghĩa
là yêu cầu đối với các thuật ngữ cùng thuộc một ngành khoa học, còn giữa các
ngành khoa học khác nhau mà đòi hỏi các thuật ngữ phải như vậy thì e là không
hoàn toàn thực tế. Thí dụ, thuật ngữ tiếng Anh “deposit”, trong ngành địa chất có
nghĩa là “vật liệu chưa hoặc đã được gắn kết tích tụ ở các bồn trũng”, còn trong
ngành khai khoáng thì có nghĩa là “mỏ hay khoáng sàn, tức nơi tích tụ tự nhiên của
quặng hoặc vật liệu quí, kể cả dầu khí có giá trị thương mại”. Trong khi đó, ở lĩnh
vực thương mại cũng thuật ngữ này lại có ý nghĩa là “khoản tiền đặt cọc, tiền ký
quĩ”. Thực tế này một lần nữa cho thấy đúng là "Thuật ngữ - đó không phải là một
từ đặc biệt mà chỉ là từ có chức năng đặc biệt ( ) đó là chức năng gọi tên" như

3.3. Tính quốc tế
Các khái niệm khoa học mà thuật ngữ biểu thị là tài sản chung của toàn nhân
loại, do đó nó mang tính quốc tế.
Theo Nguyễn Thiện Giáp [12, 247] thuật ngữ là bộ phận từ vựng đặc biệt
biểu hiện những khái niệm khoa học khác nhau. Vì vậy, sự thống nhất thuật ngữ
giữa các ngôn ngữ là cần thiết và bổ ích. Chính điều này đã tạo nên tính quốc tế của
thuật ngữ. Thông thường, nói tới tính quốc tế của thuật ngữ, người ta chỉ chú ý tới
biểu hiện hình thức cấu tạo của nó: các ngôn ngữ dùng các thuật ngữ giống hoặc
tương tự nhau, cùng xuất phát một gốc chung.
Tính quốc tế của thuật ngữ không phải chỉ thể hiện ở mặt hình thức cấu tạo
ngữ âm, mà còn thể hiện ở mặt hình thái bên trong của nó (nghĩa là cách chọn đặc
trưng của sự vật, khái niệm, ) tạo cơ sở định danh và đưa vào tên gọi làm thành
hình thái bên trong của tên gọi.

19

Tuy nhiên, tính quốc tế của thuật ngữ thể hiện ở hình thức cấu tạo cũng chỉ
tương đối vì dường như không có thuật ngữ nào có sự thống nhất ở tất cả các ngôn
ngữ. Tính thống nhất của thuật ngữ thể hiện ở phạm vi khu vực. Ở các ngôn ngữ
châu Âu thuật ngữ thường bắt nguồn từ tiếng Latinh và Hy Lạp. Hai thí dụ sau đây
sẽ minh họa cho nhận định này. Thứ nhất là khái niệm “điện thoại” với tư cách là
một phương tiện liên lạc giữa hai người ở cách xa nhau, không nhìn thấy nhau.
Trong tiếng Anh – “telephone”
Trong tiếng Pháp – “téléphone”
Trong tiếng Đức – “telephone”
Trong tiếng Nga – “телефóн”
Và ngay cả trong tiếng Việt - “tê-lê-phôn”, hay “phôn”.
Thuật ngữ này vốn bắt nguồn từ tiếng Hy lạp với hai thành tố là “tele” nghĩa
là “xa” và “phone” – “âm thanh”
Thứ hai là khái niệm “đài phát thanh, máy thu thanh”.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status