ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Hà Thị Thu Hƣơng
MỐI QUAN HỆ VĂN HÓA TÀY – VIỆT DƢỚI GÓC ĐỘ THẨM MỸ
QUA MỘT SỐ KIỂU TRUYỆN KỂ DÂN GIAN CƠ BẢN LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
HÀ NỘI - 2007
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Hà Thị Thu Hƣơng
1.3.Vai trò của truyện kể dân gian trong văn hóa tộc người 39
1.4.Tiếp cận truyện kể dân gian Tày, Việt theo tinh thần folklore học 45
Tiểu kết chương 1 54
CHƯƠNG 2: MỐI QUAN HỆ VĂN HOÁ TÀY – VIỆT QUA KHẢO SÁT SO
SÁNH KIỂU TRUYỆN NGƯỜI ANH HÙNG KIẾN TẠO THẾ GIỚI, KIẾN
TẠO VŨ TRỤ
2.1.Tiếp cận hình thức cấu tạo cốt truyện 55
2.2. Tiếp cận theo motif 80
Tiểu kết chương 2 96
CHƯƠNG 3: MỐI QUAN HỆ VĂN HOÁ TÀY- VIỆT QUA KHẢO SÁT SO
SÁNH KIỂU TRUYỆN NGƯỜI ANH HÙNG VĂN HOÁ
3.1. Nhân vật anh hùng văn hoá, sự tiếp nối có cơ sở lịch sử 98
3.2. Các dạng thức của nhân vật anh hùng văn hoá 99
3.3. Sự tương đồng và khác biệt trong cấu tạo cốt truyện và trong việc tái tạo motif
đặc trưng của kiểu truyện nhân vật anh hùng văn hoá Tày – Việt 102
3.4. Những nhân vật anh hùng văn hoá tiêu biểu mang dấu ấn văn hoá tộc người
Tày và Việt, từ góc nhìn mối quan hệ văn hoá tộc người
130
Tiểu kết chương 3 153
CHƯƠNG 4: MỐI QUAN HỆ VĂN HOÁ TÀY – VIỆT QUA KHẢO SÁT SO
SÁNH KIỂU TRUYỆN NGƯỜI ANH HÙNG CHIẾN TRẬN CHỐNG GIẶC
NGOẠI XÂM
4.1. Sự vận động mang tính quy luật tạo thành kiểu truyện 154
4.2. Kết cấu của kiểu truyện người anh hùng chiến trận trong truyện kể dân gian
TàyViệt 158
4.3.Những motif đặc trưng của kiểu truyện 178
Tiểu kết chương 4 192
KẾT LUẬN 195
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN
LUẬN ÁN 201
nước phát triển với những quốc gia nhỏ bé. Điều này sẽ làm cho bản sắc văn hoá bị
biến dạng và mất đi nét đặc trưng của nó…"[161]. Một trong những vấn đề mang
tính thời sự của nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay là ủng hộ đa dạng văn hoá và
chống lại nguy cơ đồng dạng văn hoá. Muốn làm được điều đó, trước tiên mỗi dân
tộc phải tự khẳng định được bản sắc văn hoá đặc thù của chính dân tộc mình trên
con đường tiếp xúc hội nhập. Với cái nhìn tổng thể, văn hoá được hiểu là một phạm
trù rất năng động với đủ các khía cạnh về tinh thần, vật chất, tri thức, tình cảm…
Với cách hiểu đó, văn hoá đã khắc hoạ nên sắc thái diện mạo của mỗi vùng, miền,
mỗi quốc gia dân tộc. Đúng như nhận định của Trần Quốc Vượng, "Việt Nam là
2
một quốc gia nhưng là một quốc gia đa tộc… song nền văn hoá Việt Nam lại rất đa
dạng, theo thời gian diễn triển, theo không gian gia đình - làng xã, vùng miền - tộc
người… theo các mối giao lưu rồi giao thoa, hỗn chủng, đan xen, hỗn dung, tiếp
xúc biến đổi, biến dạng nhưng cuối cùng vẫn hội tụ - kết tinh và định hình một nền
văn hoá Việt Nam" [305, tr.199]. Như vậy, hướng nghiên cứu mối quan hệ văn hoá
tộc người trong cộng đồng Việt Nam thống nhất cần được sự quan tâm đặc biệt của
nhiều ngành nghiên cứu.
1.1.3. Nói như Tô Ngọc Thanh, nền văn hoá Việt Nam “là nền văn hoá kết
tinh những giá trị văn hoá các tộc người, đồng thời lại là cơ sở cho quá trình giao
lưu giữa các nền văn hoá tộc người để trở nên mạnh hơn, rộng hơn, nhanh hơn
khiến cho văn hoá mỗi tộc người giàu có hơn và phát triển nhanh hơn" [196, tr.37].
Nghiên cứu quan hệ văn hoá giữa tộc người chủ thể Kinh (Việt) với các tộc người
khác sẽ làm sáng tỏ quy luật phát triển theo hướng trao đổi, tiếp thu văn hoá bằng
hoà hợp dân tộc để xây dựng nền văn hoá thống nhất nhưng lại mang phong cách
độc đáo của mỗi tộc người. Cái độc đáo trong văn hoá của từng tộc người đã góp
phần tạo nên diện mạo chung của văn hoá Việt Nam, có những yếu tố riêng mang
tính đặc thù bên cạnh những yếu tố chung mang tính phổ quát.
Trong đại gia đình các tộc người Việt Nam, tộc người Tày là tộc người có số
dân đông thứ hai sau người Kinh (Việt), có quan hệ gắn bó với người Kinh theo
Đề tài đã được lựa chọn "Mối quan hệ văn hoá Tày – Việt dƣới góc độ
thẩm mỹ qua một số kiểu truyện kể dân gian cơ bản" có cơ sở lý luận và thực
tiễn nằm ngay trong bản chất đặc trưng của văn học dân gian: đặc trưng văn học và
đặc trưng văn hoá. Hệ thống luận điểm của đề tài sẽ được giải quyết giữa hai góc độ
ngữ văn và dân tộc học, bởi lẽ văn học dân gian là một thành phần hữu cơ của văn
hoá dân gian có tính nguyên hợp và tính đa chức năng. Đặc biệt, đối với những di
sản văn hoá dân gian đã lùi sâu vào dĩ vãng, là sản phẩm có căn rễ từ thời kỳ thị tộc,
bộ lạc như thần thoại, truyền thuyết thì tính nguyên hợp về lao động xã hội, về đối
tượng phản ánh của nó rất nổi đậm. Đã từng có nhiều công trình thuộc những lĩnh
vực khoa học khác nhau tiếp cận nghiên cứu đó ở những góc độ khác nhau như:
dưới góc độ lịch sử, dưới góc độ xã hội học , đến lượt mình, chúng tôi lựa chọn
4
cách tiếp cận dưới góc độ thẩm mỹ (chữ dùng của Đinh Gia Khánh). Nghiên cứu
mối quan hệ văn hoá dưới góc độ thẩm mỹ có nghĩa là chúng tôi phải khảo sát, kết
hợp với cảm nhận, phân tích, suy luận từ những hình tượng, hình ảnh cụ thể của
từng kiểu truyện, kiểu nhân vật để tìm ra quan hệ văn hoá ẩn chứa bên trong. Trên
cơ sở đó, lý giải sự tương đồng và dị biệt của những motif, những kiểu truyện tiêu
biểu mang tính đặc thù của văn hoá tộc người và tính phổ quát của văn hoá dân tộc
thông qua lăng kính nghệ thuật thẩm mỹ dân gian.
Sự giới hạn “qua một số kiểu truyện kể dân gian cơ bản” cũng có lý do nằm
ngay trong thuộc tính của các kiểu truyện được chọn lựa. Đó là hầu hết các kiểu
truyện được sử dụng làm đối tượng khảo sát đều nằm trong thể loại thần thoại,
truyền thuyết hoặc thần thoại đã chuyển hoá thành truyền thuyết. Vấn đề cơ bản là
thể loại truyền thuyết trong văn học dân gian Tày, Việt có đặc điểm trội là chuyển
hoá rất nhanh từ thần thoại theo cả ba phẩm chất anh hùng hoá, lịch sử hoá, dân tộc
hoá, có khả năng tích hợp đặc biệt phong phú, tiêu biểu và độc đáo các giá trị văn
hoá Tày cũng như Việt, đồng thời biểu hiện rất đậm nét mối quan hệ văn hoá Tày –
Việt. Thần thoại và truyền thuyết Tày, Việt đã bám sát và phản ánh những vấn đề
quan trọng của lịch sử trong quá trình hình thành hai tộc người. Ở đó, từ ngôn ngữ
Ở đây, chúng tôi xin dừng lại nhiều hơn với Nguyễn Từ Chi, một trong
những nhà nghiên cứu Việt Nam có ý thức rất sớm về việc cần thiết phải đặt văn
hóa Việt Nam vào bối cảnh Đông Nam Á, người đã bước đầu triển khai chiến lược
nghiên cứu này qua việc tìm hiểu văn hóa người Mường để từ đó, so sánh với văn
hóa người Việt (Kinh). Theo ông, giữa “bộ mặt tộc người” và “cảnh quan” (tức
môi trường tự nhiên) có mối quan hệ chặt chẽ. Ông cho rằng để hình thành một bản
sắc văn hóa, có nhiều nhân tố khác nhau nhưng nhân tố môi trường là quan trọng
nhất: “có nguồn gốc tộc người, có sự giao lưu văn hóa, nhưng điều kiện cho một
nền văn hóa ra đời - môi trường mới là cái quan trọng nhất” [28, tr.628]. Khi giới
nghiên cứu Việt Nam còn có những khó khăn trong việc nghiên cứu điền dã ở các
nước Đông Nam Á, thì việc nghiên cứu bản thân “ba vùng môi trường lớn” của
Đông Nam Á tại Việt Nam có thể khắc phục được khó khăn đó. Bởi vì nếu như
Đông Nam Á có ba môi trường: vùng núi, vùng đồng bằng và vùng biển thì Việt
6
Nam dẫu có nhiều dị biệt, nhưng vẫn có đủ các loại môi trường của Đông Nam Á
nói trên. Như vậy, một chiến lược nghiên cứu “nhìn nhận Đông Nam Á từ góc độ
Việt Nam ” như lời ông nói, lại có tầm cỡ của một kế hoạch nghiên cứu lớn đòi hỏi
công sức của nhiều thế hệ và có thể sẽ đưa kết quả “đặt lại vấn đề dân tộc học trên
bối cảnh Đông Nam Á” [28, tr.629]. Ông đã phác họa những nét đặc trưng chủ yếu
của văn hóa các tộc người Việt Nam trên bốn vùng cảnh quan: vùng đồng bằng
châu thổ và người Việt; vùng thung lũng chân núi với người Thái, người Mường ở
Tây Bắc, người Tày Nùng ở Việt Bắc; vùng duyên hải cho biết cách ứng xử của cư
dân Việt khi gặp biển; vùng hỏa canh: dọc Trường Sơn và cao nguyên Tây Nam Bộ.
Điều đáng chú ý là ông đã nêu lên một loạt những giả thuyết cho thấy cần suy nghĩ
về văn hóa Việt Nam trong quan hệ tương tác sống động trong lịch sử của các tộc
người. Chẳng hạn, ông nghĩ, “xu hướng chuyển dịch tộc người là từ phương Bắc
xuống” [28, tr.633], do đó, diễn ra một “sự hòa hợp” giữa các tộc người. “Chúng tôi
ngờ rằng, buổi đầu, nhiều tộc người ở gò cao bị sức ép từ phương Bắc đã cùng nhau
tràn xuống chiếm lĩnh toàn bộ đồng bằng sông Hồng. Khi đã chiếm đóng đồng
Văn hoá tộc người - những bình diện nghiên cứu [96], chúng tôi đã khảo sát một số
công trình nghiên cứu văn hoá tộc người tiêu biểu của Đặng Nghiêm Vạn, Phan
Hữu Dật, Ngô Đức Thịnh, Trần Quốc Vượng, Nguyễn Đăng Duy, Hoàng Nam,
Nông Quốc Chấn, Nguyễn Chí Huyên… Chúng tôi cũng đã tham khảo các công
trình có tính chuyên ngành về một vùng văn hoá hoặc một nhóm ngôn ngữ tộc
người để tiếp cận văn hoá của tộc người Tày trong: Một số vấn đề lịch sử văn hoá
các dân tộc ở Việt Bắc [186]; Văn hoá dân gian Cao Bằng[194], Các dân tộc Tày –
Nùng ở Việt Nam[193], Giữ gìn, phát huy di sản các dân tộc Tây Bắc [202], Văn
hoá dân gian Tày [129], Văn hoá và lịch sử các dân tộc trong nhóm ngôn ngữ Thái
Việt Nam [206], Mấy vấn đề văn hoá và văn học dân gian Việt Nam [32], Đóng góp
của các dân tộc nhóm ngữ Tày – Thái trong tiến trình lịch sử Việt Nam [207]…
Trong đó, theo chúng tôi, Văn hoá dân gian Tày [129] là công trình có giá trị
tổng kết theo hướng nghiên cứu truyền thống văn hoá Tày dưới góc độ lịch sử để
khẳng định "Tiến trình văn hoá Tày phát triển theo quy luật ngày càng hoà nhập văn
8
hoá khu vực, đồng thời giữ vững bản sắc…" [129, tr.259]. Công trình này đã cho
chúng tôi một cách nhìn khá toàn diện về văn hoá tộc người Tày.
Tuy nhiên, các công trình đã lược điểm ở trên mới chỉ dừng lại ở việc khảo tả
những đặc trưng văn hoá tộc người hoặc phác hoạ diện mạo văn hoá của từng tộc
người. Hầu như, mối quan hệ giữa tộc chủ thể – tộc người Kinh (Việt) với một tộc
người khác trong khối cộng đồng theo quan hệ giao lưu, tiếp biến về văn hoá mới
chỉ được điểm thoáng qua chứ chưa được khảo sát một cách cụ thể. Đấy là một
hướng mở còn chờ sự khai thác của các nhà nghiên cứu.
Theo sự khảo sát của Phan Hữu Dật, việc nghiên cứu văn hoá truyền thống
đã sớm được tìm thấy trong tài liệu dân tộc học sớm nhất ở Việt Nam do chính
người Việt Nam ghi chép còn lưu lại cho đến nay là tác phẩm Dư địa chí của
Nguyễn Trãi (thế kỷ XV) trong đó đã đề cập đến sự phân bố dân cư và văn hoá tập
quán của người Việt. Còn văn hoá dân tộc thiểu số Việt Nam trong đó có văn hoá
của người Thổ (Tày), Thái, Nùng, Dao, Mèo (Mông) đã được mô tả lần đầu trong
với người Việt, và người Tày với các tộc người khác thông qua giao tiếp ngôn ngữ,
thông qua hiện tượng song ngữ sống động của người Tày khi họ sử dụng cả hai thứ
tiếng: tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt [101, tr.781].
Quan hệ văn hoá Tày - Việt thời kỳ đầu cách mạng thực sự chưa được khảo
sát sâu và vẫn còn là một khoảng trống lớn, nhưng dần dần qua từng giai đoạn từ
cách mạng tháng Tám 1945 đến nay vấn đề đã được mở rộng trong quá trình nghiên
cứu thông qua các cuộc hội thảo khoa học và các bài chuyên luận Tại Hội thảo
khoa học về lịch sử văn hoá các dân tộc ở Việt Nam do Bảo tàng Việt Bắc tổ chức
vào ngày 19 và 20/10/1981 tại Thành phố Thái Nguyên, tác giả Phạm Văn Thành đã
đi tìm những căn cứ khoa học cho mối quan hệ văn hoá Tày - Việt tuy mới chỉ là
Vài nét về mối quan hệ giao lưu văn hoá giữa người Tày và người Việt trong lịch sử
[252, tr.189 -195]. Những luận điểm có tính đột phá của tác giả thực sự có ý nghĩa
cho nghiên cứu của chúng tôi.
Năm 1993, tại Hội thảo khoa học về việc tìm hiểu tiềm năng sưu tầm, khai
thác nghiên cứu giá trị nền văn hoá dân gian của các dân tộc thiểu số ở Cao Bằng,
Trần Quốc Vượng đã có bài tham luận với nhan đề Cao Bằng dưới cái nhìn dân
10
gian về sự giao thoa văn hoá Tày – Việt [304]. Ngoài việc lý giải một cách thuyết
phục hiện tượng giao thoa văn hoá Tày - Việt bằng nhiều cứ liệu xã hội và văn hoá
dân gian ở Cao Bằng, ông còn chứng minh Cao Bằng là mảnh đất điển hình của sự
giao thoa văn hoá giữa các tộc người. Những luận điểm rõ ràng và khá cô đọng của
ông với nhiều cứ liệu đáng tin cậy cũng đã củng cố cho sự lựa chọn đề tài của chúng
tôi.
Việc nghiên cứu so sánh văn hoá Tày – Việt trong thời gian gần đây đã có
những bước tiến theo hướng chuyên sâu hơn. Năm 2003, Đặng Thanh Phương đã
hoàn thành luận án tiến sĩ lịch sử chuyên ngành dân tộc học về đề tài Tiếp xúc ngôn
ngữ Tày - Việt (Kinh) ở vùng Đông Bắc Việt Nam [219]. Đây là một trong những đề
tài góp phần khẳng định vấn đề tiếp biến văn hóa và ngôn ngữ trong mối quan hệ
văn hoá Tày – Việt, một hướng nghiên cứu đang được quan tâm hiện nay của nhiều
mang sắc thái tộc người riêng thì mặt khác do tác động của mối quan
hệ lịch sử - tộc người, giữa các tộc người đã hình thành một căn bản
văn hóa chung cho toàn thể cộng đồng quốc gia dân tộc. Căn bản văn
hóa chung này là sợi dây liên kết văn hóa nói chung và văn hóa dân
gian nói riêng của các tộc người thành một cấu trúc văn hóa, văn học
dân gian riêng của toàn thể cộng đồng quốc gia dân tộc; nó nhào nặn lại
văn hóa và văn học dân gian của mỗi tộc người, khiến cho văn hóa và
văn học dân gian của mỗi tộc người đều “mang dấu ấn Việt Nam”, do
đó có thể phân biệt được ngay cả với văn hóa và văn học dân gian của
người đồng tộc với chính tộc người ấy ở cộng đồng chính trị- xã hội
khác [32, tr.137 – 138].
Theo Chu Xuân Diên, cách tiếp cận theo hướng này có thể cho phép ta cắt
nghĩa nhiều hiện tượng văn học dân gian cụ thể mà nếu không được xem xét trong
bối cảnh mối quan hệ lịch sử- văn hóa tộc người thì ít có khả năng hiểu đúng [32,
tr.138]. Nói cách khác, nhà nghiên cứu văn học dân gian buộc phải “đặt các hiện
tượng văn hóa, văn học dân gian ấy vào trong mối quan hệ lịch sử văn hóa tộc
người khác nhau ở Việt Nam để xem xét”[32, tr.143]. Như để minh họa cho nguyên
12
tắc được xác lập trên, ông còn nêu một số hiện tượng văn hóa do các ngành khảo cổ
học, dân tộc học và ngôn ngữ học cung cấp như: nhà nghiên cứu Từ Chi đã đọc thấy
ở hoa văn trên cạp váy Mường một cấu trúc còn giữ được hoa văn trang trí trên
trống đồng loại I; hoặc giữa hai nhóm cư dân Việt - Mường và Tày - Thái có nhiều
điểm tương đồng về văn hóa sản xuất và đời sống vật chất, về văn hóa xã hội, địa
bàn cư trú, tổ chức đê - thành, tổ chức gia đình, cơ cấu làng nước. Về cứ liệu văn
học dân gian, Chu Xuân Diên cho biết, tuy thái độ có dè dặt hơn, nhưng giới nghiên
cứu cũng đã đối chiếu nhiều đề tài và motif văn học dân gian của nhóm tộc người
Việt - Mường và nhóm Tày - Thái. Chẳng hạn điều mà ông gọi là motif cấu trúc đôi
(binary structure) của các truyện kể bắt nguồn từ hệ thần thoại về nguồn gốc vũ trụ
và con người ở người Việt, Mường, Thái có nhiều nét tương đồng đáng để giới
quan điểm nghiên cứu thể loại qua lịch sử phát triển của ngành Folklore học. Trong
đó có hai bài nghiên cứu đáng chú ý của Nguyễn Xuân Kính [198] và Nguyễn Thị
Huế [201]. Đặc biệt là bài viết có tính tổng quan về quá trình sưu tầm, nghiên cứu
truyện kể dân gian như một đơn vị thể loại nghiên cứu độc lập của Nguyễn Thị Huế
đã phân tích và chỉ ra bước phát triển của quá trình nghiên cứu sưu tầm truyện cổ
dân gian của người Kinh (Việt) cũng như của các tộc người khác qua từng mốc thời
gian quan trọng.
Nhìn lại thế kỷ XX, điều dễ thấy là ngày càng có nhiều công trình nghiên
cứu chuyên sâu về văn học dân gian Tày. Sau Cách mạng Tháng Tám, nhất là sau
khi hoà bình lập lại ở miền Bắc năm 1954, với chính sách dân tộc đúng đắn của
Đảng thì văn học dân gian của các tộc người thiểu số, đặc biệt là tộc người Tày đã
được chú ý khai thác. Con số thống kê của Vũ Anh Tuấn cho thấy: trước Cách
mạng Tháng Tám trong số 530 công trình, luận văn, bài viết nghiên cứu về văn học
dân gian thì chỉ có 10 công trình về văn học cổ truyền miền núi trong đó chỉ có hai
nghiên cứu về Tày. Từ Cách mạng Tháng Tám đến 1976 trong số 745 bài viết, công
trình nghiên cứu văn học dân gian đã có 115 bài viết về văn học dân gian miền núi,
trong đó có 9 công trình lấy văn học dân gian Tày làm đối tượng chính [287,
tr.473].
14
Việc nghiên cứu văn học dân gian miền núi theo các mối quan hệ loại hình
lịch sử tộc người và lấy tộc người Tày làm đối tượng, trên thực tế đã được mở đầu
bằng công trình của Vi Hồng nhà nghiên cứu người Tày, vào năm 1979 với Sli,
lượn dân ca trữ tình Tày – Nùng [74], một công trình khảo cứu loại hình trữ tình.
Tiếp tục hướng đi của Vi Hồng, Vũ Anh Tuấn triển khai nghiên cứu truyện
kể dân gian Tày, tức là đi vào lĩnh vực tự sự dân gian. Từ năm 1981 đến 1991,
những bài báo của Vũ Anh Tuấn đã được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành từ
nghiên cứu đầu tiên Thử tìm hiểu nét đặc sắc về thi pháp dân gian Tày qua việc
khảo sát một số truyện cổ Tày dạng Tấm Cám [277], đến các chuyên luận Suy nghĩ
về một số biểu tượng đặc thù trong truyện cổ miền núi [278], Vấn đề nghiên cứu và
nêu bật ba vấn đề có tính nguyên tắc là:
1. Nghiên cứu truyện kể dân gian Tày không tách rời việc xem xét nó
dưới góc độ loại hình các mối quan hệ văn hoá tộc người.
2. Tính loại hình khu vực là một đặc điểm phổ quát trong các típ truyện
kể dân gian Tày, trong đó mối quan hệ Tày Việt có ý nghĩa điều hoà lớn.
3. Phương pháp khảo sát cụ thể văn học dân gian một tộc người xét đến
cùng vẫn là phải nhận diện cho được dấu hiệu thẩm mỹ đặc thù vì chức
năng tộc người của văn hoá vẫn trực tiếp và bền bỉ tác động vào đời
sống văn hoá một cộng đồng tộc người [282, tr.8].
Công trình của Vũ Anh Tuấn đã xây dựng được những luận điểm quan trọng
có tính gợi dẫn trong vấn đề nghiên cứu truyện kể dân gian dưới góc nhìn mối quan
hệ văn hoá tộc người. Tuy nhiên, do khuôn khổ yêu cầu của đề tài, tác giả mới chỉ
tập trung vào khảo sát đối tượng truyện kể dân gian Tày, hoặc nếu có so sánh Tày-
Việt thì chỉ là một biện pháp để nhằm làm tăng tính chuyên biệt Tày.
Bên cạnh Vũ Anh Tuấn còn có Hà Đình Thành, tác giả của loạt bài nghiên
cứu so sánh truyện kể dân gian Tày Nùng [245 - 250].
Cũng trong lĩnh vực nghiên cứu truyện kể dân gian theo hướng so sánh loại
hình văn hoá tộc người, sau đó đã xuất hiện nhiều bài nghiên cứu đáng chú ý như
Thử xây dựng lại hệ thống huyền thoại Việt Mường [163] của Phan Ngọc, Tìm hiểu
quan hệ giữa truyện dân gian của người Tày và người Thái cổ với truyện dân gian
16
của người Việt của Đặng Việt Bích [18], Giải mã truyện cổ Lào theo phương pháp
tiếp cận văn hoá học của Phạm Đức Dương [39]; Cần và phải tìm hiểu mẫu kể An
Dương Vương trong mối quan hệ văn hoá Tày - Việt [283] của Vũ Anh Tuấn…
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu kể trên đã khẳng định hướng nghiên
cứu truyện kể dân gian Tày theo hướng tiếp cận loại hình quan hệ lịch sử - văn hoá
tộc người như là một hướng đi khoa học cần được tiếp tục triển khai sâu rộng hơn.
Điểm qua những công trình nghiên cứu truyện kể dân gian của người Kinh
(Việt) dưới góc độ so sánh quan hệ văn hoá - văn học dân gian, chúng ta không thể
nhiều gợi ý khi tiếp cận so sánh văn hoá giữa ngưòi Việt và người Tày.
Năm 2001, Nguyễn Tấn Đắc cho xuất bản công trình Truyện kể dân gian đọc
bằng type và motif [42]. Trong gần 300 trang, ông đã dành tới nửa số trang cho
chuyên luận Đọc lại truyện Tấm Cám ở Đông Nam Á [42, tr.162 – 296]. Căn cứ vào
những bản kể ở dạng xa xưa nhất được sưu tầm từ cuối thế kỷ XIX, so sánh với
những bản kể vào thế kỷ XX ở Việt Nam, ông đã tìm ra được sự khác biệt về cốt kể
và một số motif quan trọng. Đặc biệt luận đề "sử dụng biện pháp nghiên cứu so
sánh dựa trên type và motif của truyện để tìm hiểu sự giao lưu tương tác văn hoá
giữa các dân tộc trong khu vực qua một truyện kể cụ thể" [42, tr.211] của ông đã
làm cho hướng triển khai đề tài nghiên cứu của chúng tôi có thêm cơ sở lập luận.
Nhìn tổng quát, các công trình nghiên cứu truyện kể người Việt trong mấy
chục năm qua đã vượt khỏi phạm vi mô tả đơn giản để đạt đến trình độ nghiên cứu
có lý thuyết và phương pháp rõ ràng. Tác giả Nguyễn Tấn Đắc cho biết “ Mới bước
vào lĩnh vực truyện kể dân gian, tôi thử làm hai điều, một là tìm hiểu mối quan hệ
của truyện kể Việt Nam với khu vực Đông Nam Á, và hai là thử đọc truyện kể bằng
type và motif”[42, tr.5]. Có thể nói hướng đi và cách làm của ông tiêu biểu cho
hướng đi khoa học của cả giới nghiên cứu trong việc tiếp cận truyện kể dân gian và
thực sự có ý nghĩa cho luận án của chúng tôi.
Lịch sử vấn đề nghiên cứu so sánh văn hóa Tày Việt từ góc độ văn hóa tộc
người, lịch sử nghiên cứu truyện kể dân gian Tày, Việt để lại những bài học sâu sắc
về nhiều phương diện cho những ai tiếp tục đi theo hướng nghiên cứu này. Nhưng
phải nói ngay rằng, vẫn còn thiếu những công trình chuyên sâu đặt vấn đề so sánh
18
truyện kể dân gian Tày, Việt từ góc nhìn văn hóa tộc người, trong bối cảnh Đông
Nam Á, ứng dụng cách đọc bằng type và motif. Nhiệm vụ của luận án chúng tôi là
góp phần làm đầy mảng trống đó. Xét mối quan hệ văn hoá Tày - Việt trên toàn bộ
hệ thống tiếp cận như lịch sử nghiên cứu đã được tóm lược trên đây chính là mục
đích của luận án “Mối quan hệ văn hoá Tày Việt dƣới góc độ thẩm mỹ qua một
số kiểu truyện dân gian cơ bản”.
còn có nhiệm vụ nghiên cứu truyện kể dân gian như một quá trình văn hoá để lý giải
mối quan hệ văn hoá Tày - Việt. Là một công trình nghiên cứu thuộc chuyên ngành
ngữ văn, luận án phải tuân thủ những đòi hỏi thể hiện đặc thù của chuyên ngành
khoa học đó. Chính vì vậy, một mặt chúng tôi thường xuyên phải tôn trọng tính toàn
vẹn, nguyên hợp của đối tượng nghiên cứu, thể hiện qua mối quan tâm nhiều chiều
của văn hoá học, vận dụng đồng bộ tri thức và thành tựu của sử học, dân tộc học ,
mặt khác vẫn phải thường trực duy trì điểm nhìn chuyên biệt của mình, tức điểm
nhìn ngữ văn học đối với đối tượng được khảo sát.
3.2.2. Tiến hành nghiên cứu so sánh các mẫu kể tiêu biểu được xác định
trong hệ thống truyện kể Tày và Việt để làm nổi bật mối quan hệ văn hoá Tày - Việt
với những biểu tượng văn hoá thẩm mỹ đặc trưng, thông qua việc khảo sát và thẩm
định những giá trị tư tưởng thẩm mỹ ở các cấp độ : hệ thống đề tài, cấu trúc tác
phẩm, nhân vật và motif.
3.2.3. Phân tích, so sánh cụ thể dựa trên quá trình hình thành, chuyển hoá của
những hình tượng nhân vật trung tâm đánh dấu bước đi của cả hai tộc người Tày -
Việt trong diễn trình lịch sử. Đó là:
*Kiểu truyện về người anh hùng kiến tạo thế giới, kiến tạo vũ trụ.
*Kiểu truyện về người anh hùng sáng tạo văn hoá
*Kiểu truyện về người anh hùng chiến trận chống giặc ngoại xâm.
4. ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
4.1. Đối tượng nghiên cứu là truyện kể dân gian Tày và Việt với sự lựa chọn
những kiểu truyện tiêu biểu, trong đó có chứa những yếu tố văn hoá truyền thống
được chuyển hoá từ yếu tố cùng nguồn mang tính đồng hình đến giao lưu, tiếp biến
20
trong quá trình "cho" và "nhận" của hai tộc người thông qua sự tiếp xúc từ ngôn
ngữ đến văn học, từ văn học đến văn hoá.
4.2. Phạm vi nghiên cứu là nghiên cứu mối quan hệ văn hoá Tày - Việt qua một
số kiểu truyện kể dân gian cơ bản, trong tiến trình phát triển các thể loại của loại
hình tự sự dân gian. Do vậy, phạm vi khảo sát để tiến hành so sánh sẽ không thể bao
Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng…
6. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Truyện kể dân gian cũng như bất kỳ một thể loại văn học dân gian nào khác đều
là một hiện tượng mang tính nguyên hợp nên đã là đối tượng nghiên cứu được khai
thác từ nhiều góc độ như sử học, khảo cổ học, dân tộc học, ngôn ngữ học và một số
ngành nghệ thuật khác… đặc biệt là từ góc độ nghiên cứu của folklore, của văn hoá
- văn học dân gian. Vì thế chúng tôi đã áp dụng những phương pháp nghiên cứu
sau:
6.1. Phương pháp nghiên cứu cơ bản là phương pháp so sánh loại hình - lịch sử
theo mối quan hệ văn hoá tộc người giữa hai góc độ ngữ văn - dân tộc học.
6.2. Trong quá trình khảo sát, so sánh phân tích các tài liệu cụ thể chúng tôi áp
dụng hệ thống các phương pháp có tính phổ biến: phương pháp thống kê, phân loại,
phương pháp phân tích logic và phân tích lịch sử, phương pháp tổng hợp liên ngành.
7. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN:
Luận án sẽ có những đóng góp mới trên các phương diện về sưu tầm tư liệu, về
nội dung và hàm lượng khoa học, cũng như phương pháp. Cụ thể là:
7.1. Trong luận án, một vấn đề học thuật trong nghiên cứu văn học dân gian
được nhấn mạnh trên cả hai góc độ ngữ văn và dân tộc học. Trong đó, nhiều khía
cạnh khác nhau của cơ tầng văn hoá dân tộc được khai thác đồng thời với việc vận
dụng những thành tựu về lý thuyết và lịch sử văn hoá nói chung, luận án đã làm nổi
rõ mối quan hệ văn hoá tộc người, quan hệ văn hoá Tày – Việt qua sự tiếp xúc, giao
lưu, tiếp biến theo cả hai chiều Tày – Việt và Việt – Tày. Như vậy, luận án này là
một công trình nghiên cứu tập trung chuyên sâu đầu tiên về mối quan hệ văn hoá
Tày – Việt dưới góc độ thẩm mỹ, trên cơ sở khảo sát, so sánh các kiểu truyện kể
dân gian tiêu biểu.