Mối quan hệ văn hoá Tày - Việt dưới góc độ thẩm mỹ qua một số kiểu truyện kể dân gian cơ bản - Pdf 12


24
xã hội hiện đại, những vấn đề về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội
của một cộng đồng tộc ngời cũng nh của cả quốc gia dân tộc có vai
trò vô cùng quan trọng để tham gia đối thoại với các nền văn hoá, văn
minh trong khu vực và ở mức độ nào đó có thể xa hơn, rộng hơn. Bởi
giá trị khác biệt của mỗi nền văn hoá sẽ càng đợc nổi bật hơn trong
quan hệ giao lu, trao đổi, tơng tác văn hóa.
Do đó, theo chúng tôi, hớng so sánh văn hoá - văn học dân gian
giữa tộc ngời chủ thể Kinh (Việt) với các tộc ngời khác cần đợc
tiếp tục khảo cứu trên diện rộng. Một sự hứa hẹn có thể sẽ là các so
sánh Việt - Chăm, Việt Hoa, Việt Khơmeđể từ đó có thể khẳng
định rõ bản sắc văn hoá Việt từ điểm nhìn văn hoá tộc ngời và lực
hút của chủ thể Việt đối với toàn thể cộng đồng dân tộc trong vai trò
quy tụ các thành phần dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam, nh nhà dân
tộc học Phan Hữu Dật đã nói: Văn hoá Kinh (Việt) đã thực sự là tài
sản chung của các tộc ngời anh em trên nhiều lĩnh vực và thông qua
ngời Kinh, tiếng Kinh các tộc ngời khác có dịp tiếp thu các thành
tựu văn hoá văn minh nhân loại để từng bớc tham gia vào đời sống
văn hoá quốc tế.
Một lần nữa, chúng tôi muốn nhấn mạnh thêm: nghiên cứu lịch
sử văn hoá của ngời Tày, hay của các tộc ngời anh em khác cũng
chính là để chúng ta hiểu rõ ngời Việt và nền văn hoá Việt.

1
Mở đầu
1. lý do chọn đề ti:
1.1. Giá trị thời sự của đề tài: Xu thế trở về cội nguồn để khẳng
định những giá trị văn hoá truyền thống là hớng đi mang tính tất yếu
của thời đại. Xuất phát từ đặc trng văn hoá Việt Nam thống nhất
trong đa dạng, hớng nghiên cứu mối quan hệ văn hoá tộc ngời

2.2. Nghiên cứu so sánh văn học dân gian Tày - Việt: Chúng
tôi đã nhấn mạnh đến nguyên lý lý luận chung và lịch sử nghiên cứu
truyện kể dân gian Tày, Việt dới góc nhìn mối quan hệ văn hoá tộc
ngời. Việc nghiên cứu văn học dân gian miền núi theo các mối quan
hệ loại hình lịch sử tộc ngời và lấy tộc ngời Tày làm đối tợng đã
đợc mở đầu bằng công trình của Vi Hồng vào năm 1979. Tiếp tục
hớng đi của Vi Hồng, Vũ Anh Tuấn triển khai nghiên cứu truyện kể
dân gian Tày trong Khảo sát cấu trúc và ý nghĩa một số típ truyện kể
dân gian Tày ở vùng Đông Bắc Việt Nam (1991) Còn lĩnh vực so
sánh văn học dân gian của ngời Kinh (Việt) thực sự đã có nhiều
thành tựu đi đúng quỹ đạo của truyền thống nghiên cứu so sánh trong
ngành folklore học thế giới.
Qua phân tích đánh giá sơ bộ mỗi công trình, mỗi chặng đờng,
luận án đã đi đến khẳng định: lịch sử vấn đề nghiên cứu so sánh văn
hóa Tày - Việt từ góc độ văn hóa tộc ngời, lịch sử nghiên cứu truyện
kể dân gian Tày, Việt để lại những bài học sâu sắc về nhiều phơng
diện. Nhng phải nói rằng, vẫn còn thiếu những công trình chuyên
sâu đặt vấn đề so sánh truyện kể dân gian Tày, Việt từ góc nhìn văn
hóa tộc ngời, trong bối cảnh Đông Nam á, ứng dụng cách đọc bằng
type và motif. Nhiệm vụ của luận án chúng tôi là góp phần làm đầy
mảng trống đó.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1. Mục đích nghiên cứu: dùng truyện kể dân gian nh một đối
tợng thẩm mỹ để hớng vào nghiên cứu những vấn đề về các quan

23
Qua sự khảo sát và lý giải những vấn đề đặt ra trong luận án,
chúng tôi đã cố gắng nhận diện sự vận động mang dấu ấn tộc ngời
một cách đậm nét trong những hình thức sinh hoạt đan xen phức tạp
từ ngôn ngữ đến văn hoá, thể hiện truyền thống, tâm lý và lịch sử xã

là nền văn hoá đợc xác lập trên cơ tầng văn hoá Đông Nam á cổ với
dấu ấn là sự ra đời các nhà nớc đã từng đợc chứng minh có mối
quan hệ lịch sử, từ Văn Lang đến Âu Lạc. Đặc biệt với Âu Lạc, đây là
sự biểu hiện đỉnh cao của văn hoá Việt cổ có vai trò nổi bật của mối
giao thoa Tày Việt. Bắt đầu từ mối giao thoa, từ sức mạnh của liên
minh Tày Việt và về sau, chính sức mạnh này đã trở thành lực hút
quy tụ các tộc ngời anh em khác trên địa bàn phên dậu của Thăng
Long - Đại Việt. Vì thế, sự áp đặt của văn hoá Hán đã không thể ngăn
đợc sự trỗi dậy của văn hoá Việt truyền thống. Đối trọng với sự mu
toan loại bỏ văn hoá Việt là sức sống bền bỉ và quật khởi của văn hoá
dân gian, là sự tồn tại lâu bền của các mối quan hệ văn hoá tộc ngời
từ ngàn năm, tích tụ thành sức mạnh vật chất, đợc bộc lộ trên hai
phơng diện: đấu tranh xã hội là những cuộc khởi nghĩa; và đấu tranh
ý thức hệ là những truyền thuyết anh hùng dân tộc.
Tất nhiên, khi xét quan hệ riêng Tày Việt hay Kinh (Việt)
Tày phải nhận thức rõ mối quan hệ văn hoá Tày Việt cũng nằm
trong phổ hệ của mối quan hệ Việt Mờng Tày Thái, có nghĩa là
trong văn hoá của ngời Kinh (Việt) có yếu tố của văn hoá Mờng và
trong văn hoá Tày có yếu tố của văn hoá Thái. Từ những mối quan hệ
đa chiều đã sản sinh ra những biểu tợng mang đậm dấu ấn văn hoá
tộc ngời nh biểu tợng Sơn Tinh của cả Mờng và Việt, hoặc biểu
tợng Rùa của cả Tày và Thái. Đặc biệt là, khối c dân Việt Mờng,
Tày Thái nói chung và khối c dân Việt Tày nói riêng, trải qua hàng
ngàn năm lịch sử đã phát triển theo mạch vừa tụ c, định c, vừa di
c lan toả.

3
hệ tơng đồng, giao lu, tiếp biến văn hoá tộc ngời Tày Việt. Trên
cơ sở đó, lý giải nguyên nhân của việc xuất hiện các kiểu và các lớp
trong một kiểu truyện trong môi trờng tơng đồng và tiếp xúc văn

6. Phơng pháp nghiên cứu: Chúng tôi áp dụng những
phơng pháp nghiên cứu sau: phơng pháp so sánh loại hình - lịch sử
theo các mối quan hệ văn hóa tộc ngời giữa hai góc độ ngữ văn - dân
tộc học; phơng pháp thống kê, phân loại, phơng pháp phân tích
logic và phân tích lịch sử, phơng pháp tổng hợp liên ngành.
7. những đóng góp mới của luận án: Luận án có những
đóng góp mới trên các phơng diện về su tầm t liệu, về nội dung và
hàm lợng khoa học, cũng nh phơng pháp. Cụ thể là: với luận án
này, lần đầu tiên đã có một công trình nghiên cứu chuyên sâu về mối
quan hệ văn hoá Tày Việt dới góc độ thẩm mỹ qua khảo sát, so
sánh một số kiểu truyện kể dân gian cơ bản. Luận án có ý nghĩa
khẳng định mặt mạnh của hớng nghiên cứu liên ngành và đối chiếu
so sánh, mới cả về nội dung học thuật và phơng pháp, đóng góp cho
sự đổi mới việc giảng dạy văn học dân gian Việt Nam ở cấp đại học
và trên đại học. Trong công việc giảng dạy Tiếng Việt và văn hoá
Việt Nam cho ngời nớc ngoài, các kết quả nghiên cứu của luận án
sẽ có tác dụng giúp sinh viên nớc ngoài hiểu rõ hơn bản chất văn
hoá Việt Nam trong quá trình hội nhập.
8. Kết cấu: Luận án gồm 200 trang chính văn. Ngoài phần Mở
đầu và Kết luận, luận án đợc chia thành 4 chơng:
Chơng 1: Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu
quan hệ văn hóa Tày - Việt qua truyện kể dân gian.(33 trang)
Chơng 2: Mối quan hệ văn hoá Tày Việt qua khảo sát so sánh
kiểu truyện ngời anh hùng kiến tạo thế giới, kiến tạo vũ trụ.(43
trang)

21
Tính quy luật phổ biến trong quá trình sáng tạo văn hoá Tày
Việt qua cách phân tích trên chính là: mọi sự lựa chọn, thể hiện mỗi
hình tợng hay sự lặp lại của các motif cũng nh sự lý giải các sự

không đãi rể của ngời Tày đã đợc lặp lại trong nhiều truyện kể
của ngời Kinh.
2.3. Giải mã mối quan hệ văn hoá Tày Việt qua khảo sát,
so sánh kiểu truyện ngời anh hùng chiến trận chống giặc ngoại xâm,
chúng tôi đã nhấn mạnh sự vận động mang tính quy luật tạo thành
kiểu truyện phù hợp với tiến trình lịch sử hoà hợp dân tộc để cùng
chống xâm lăng của các tộc ngời trên đất nớc Việt Nam nói chung
và của hai tộc ngời Tày, Kinh (Việt) nói riêng. Có thể nói cả ngời
Tày và ngời Việt trong sự hòa đồng của mối giao hoà tơng tác đã
cùng sáng tạo nên những hình tợng nhân vật chiến trận vừa mang
giá trị văn hoá tộc ngời, vừa mang giá trị văn hoá dân tộc, vừa đậm
chất thần thoại với ý chí đánh giặc của ngời anh hùng, vừa ngời chất
lịch sử thẩm mỹ của truyền thuyết trong quá trình lịch sử hoá nhân
vật huyền thoại và huyền thoại hoá các nhân vật lịch sử. Theo chúng
tôi, mức độ tổng hợp và khái quát giá trị văn hoá tộc ngời của nhiều
thời đại đã đợc nhân lên trong sự tơng tác, trao truyền các motif,
các biểu tợng văn hoá của kiểu truyện về nhân vật anh hùng chiến
trận của cả hai tộc ngời. Trái tim và khối óc của cả cộng đồng dân
tộc đã tạo nên sức mạnh, vẻ đẹp và chiều sâu cho mỗi hình tợng
nhân vật của kiểu truyện. Tinh thần chống giặc ngoại xâm của cả hai
tộc ngời cũng nh của cả dân tộc Việt Nam đã đợc chuyển giao
qua nhiều thế hệ trong việc lu truyền lan toả các mẫu kể về ngời
anh hùng chiến trận trên cơ sở của một ý thức chung là lòng yêu
nớc, tự hào dân tộc, hoà hợp đoàn kết để cùng chống kẻ thù chung.
Đó cũng chính là chức năng giáo dục của truyền thuyết đợc tiếp
nhận dới góc độ văn hoá thẩm mỹ.

5
Chơng 3: Mối quan hệ văn hoá Tày Việt qua khảo sát so sánh
kiểu truyện ngời anh hùng văn hoá.(56 trang)

quát lại trong sáu từ, đó là bảo tồn, chọn lọc và điều tiết các giá trị
văn hoá tộc ngời.
Chúng tôi cho rằng, chức năng tộc ngời của văn hoá chính là
điểm nhìn, là trờng nhìn, là sự chọn lọc, là cách thể hiện của các tác
giả dân gian, của ngời sáng tạo từ chính lập trờng của họ. Điểm
nhìn là không gian, trờng nhìn là sự bao quát cả thời gian, không
gian và sự lựa chọn theo tính chủ quan trong việc biểu hiện quan
niệm về con ngời, về cuộc sống. Sự lựa chọn đó làm cho văn học dân
gian trở thành ngời bạn đồng hành khăng khít và đặc thù của lịch
sử (chữ dùng của Marxim Gorki). Chính sự tác động (chọn lọc, bảo
tồn, điều tiết) của chức năng tộc ngời của văn hoá vào văn hoá thẩm
mỹ (folklore văn hoá - văn học dân gian theo quan niệm của Đinh
Gia Khánh) đã quyết định các giá trị đặc thù của văn học dân gian.
1.2. Phác hoạ quá trình giao lu và tiếp biến văn hoá Tày Việt
trong lịch sử:
1.2.1. Tiếp biến văn hoá tộc ngời, tiếp biến văn hoá Tày
Việt: Thuật ngữ acculturation đợc dịch ở Việt Nam là hỗn dung
văn hoá, đan xen văn hoá, thâu hoá văn hoá, tiếp biến văn hoá
hoặc tơng tác văn hoá. Nếu đặt văn hóa các tộc ngời Việt Nam
trong bối cảnh Đông Nam á, chúng ta có thể hình dung văn hóa Việt
Nam một cách sống động, nhận thấy rõ các tộc ngời có văn hóa
mang bản sắc riêng đồng thời lại giao lu, tiếp biến, làm giàu cho văn
hóa của cả cộng đồng dân tộc mà ngời Việt là chủ thể. Xét trên bình
diện văn hoá tộc ngời thì văn hoá của ngời Việt, ngời Tày cũng
nh văn hoá của các tộc ngời anh em khác đã trở thành những thành
phần hữu cơ của nền văn hoá Việt Nam qua sự liên kết và điều tiết

19
duy nguyên thuỷ mang giá trị cội nguồn. Luận án đã chỉ rõ: hệ thống
truyện kể về Tài Ngào, Pựt Luông của ngời Tày trong tổng thể hỗn

ánh, tích hợp, lu giữ trong kho tàng truyện kể dân gian, luận án của
chúng tôi đã xác định con đờng tiếp cận giữa hai góc độ ngữ văn
dân tộc học để khai thác một đối tợng vừa mang đặc trng văn học
vừa mang đặc trng văn hoá với tính nguyên hợp là truyện kể dân
gian Tày, Việt. Thông qua việc phân tích các hình tợng nhân vật và
bóc tách giải mã các motif, các biểu tợng văn hoá trên cơ sở nhận
diện sự vận động và biến đổi của cốt truyện, sự diễn hoá của các
motif qua không gian và thời gian mang đặc trng của thể loại, đợc
quy định bởi chức năng tộc ngời của văn hoá, luận án đã làm nổi rõ
mối quan hệ văn hoá Tày Việt trong tiến trình lịch sử dựng nớc và
giữ nớc của cả dân tộc.
2. Luận án đã tập trung khảo sát, so sánh ba kiểu truyện cơ bản
trong kho tàng truyện kể dân gian Tày, Việt gắn liền với ba giai đoạn
quan trọng của tiến trình phát triển mối quan hệ văn hoá giữa hai tộc
ngời. Đó là giai đoạn khởi đầu của kỷ nguyên huyền thoại, tiếp theo
sau là giai đoạn của quá trình dựng nớc, sáng tạo văn hoá, rồi tới quá
trình giữ nớc, chống giặc ngoại xâm qua Văn Lang - Âu Lạc đến
Đại Việt. Vai trò bản địa của tộc ngời Tày dần dần bị sức hút của vai
trò bản địa mang tính chủ thể của ngời Kinh (Việt) chi phối ở ngay
tại vùng châu thổ Bắc Bộ.
Mối quan hệ văn hoá Tày Việt dới góc độ thẩm mỹ đã đợc
chúng tôi triển khai, phân tích trong luận án trên ba phơng diện giải
mã văn hoá nh sau:
2.1. Giải mã mối quan hệ văn hoá Tày- Việt qua khảo sát so
sánh kiểu truyện về ngời anh hùng kiến tạo thế giới, kiến tạo vũ trụ
trên hai hớng tiếp cận là tiếp cận hình thức cấu tạo cốt truyện và tiếp
cận motif để phân tích sự tơng đồng dị biệt, ảnh hởng lẫn nhau giữa
hai tộc ngời ngay từ trong những thiên thần thoại còn đậm chất t

7

Từ lý luận và thực tiễn về tiếp biến văn hóa trên, giới nghiên cứu
từ lâu đã xác định tầm quan trọng của việc nghiên cứu so sánh văn
hóa với yêu cầu hiểu biết đúng đắn nền văn hóa của một tộc ngời
trong tổng thể nền văn hoá dân tộc mang nghĩa quốc gia.
1.3.Vai trò của truyện kể dân gian trong văn hóa tộc ngời:
1.3.1. Vai trò của văn học dân gian trong văn hóa tộc ngời:
Văn học dân gian là một thành phần của cấu trúc văn hóa Việt Nam
thống nhất. Văn học dân gian do đó cũng thực hiện chức năng văn
hóa tộc ngời với những đặc trng riêng của nó.
1.3.2. Truyện kể dân gian và văn hóa tộc ngời: Do u thế loại
hình, truyện kể dân gian có khả năng phản ánh khá toàn diện mọi mặt
cuộc sống của con ngời trong các ứng xử khác nhau nh ứng xử với
môi trờng tự nhiên và xã hội, nhằm hớng tới một cuộc sống tốt đẹp
hơn cho dù mới chỉ là trong ớc vọng. Truyện kể dân gian, cũng nh
mọi hiện tợng văn học dân gian khác vừa là hiện tợng sinh hoạt
mang chứa nội dung văn hoá, vừa là hiện tợng thẩm mỹ, phản ánh
hiện thực bằng các hình tợng văn học. Nghiên cứu truyện kể dân
gian theo cách tiếp cận giải mã văn hoá dân gian từ ngọn nguồn văn
hoá theo các mối quan hệ loại hình văn hoá tộc ngời có thể sẽ mang
lại những giá trị mới.
1.4.Tiếp cận truyện kể dân gian Tày, Việt theo tinh thần folklore
học:
1.4.1. Phân tích kiểu truyện và motif: Một trong những phơng
pháp nghiên cứu đặc thù đối với truyện kể dân gian là phơng pháp
phân tích kiểu truyện và motif. Sau khi phân tích một số quan niệm
của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nớc, chúng tôi đã đa ra cách
định nghĩa của mình nh sau: Kiểu truyện hay type là tập hợp những
truyện kể về cùng một đề tài, có cùng một kiểu cấu trúc mà trong đó

17

hoá ngời anh hùng. Lớp truyện thứ hai thờng tập trung thể hiện vẻ
đẹp hào hùng và tài năng kỳ lạ của ngời anh hùng trong chiến trận.
Lớp truyện thứ ba gắn sự hoá thân của nhân vật vào việc giải thích địa
danh, hay giải thích một niềm tin tín ngỡng với lòng biết ơn, ngỡng
mộ ngời anh hùng. Truyện kể Thánh Dóng là mẫu kể tiêu biểu của
cấu trúc dạng thứ hai đã đợc tạo thành qua một quá trình thu hút
nhào nặn, chắt lọc các thần thoại, truyền thuyết của nhiều địa
phơng đợc dân tộc hóa.
Dạng 3: Cấu trúc hệ thống của chuỗi truyện kể về Nông Trí Cao
và Dơng Tự Minh trong đối sánh với Thánh Dóng. Theo chúng tôi,
sự tái hiện hình tợng ba nhân vật điển hình tiêu biểu trong kiểu
truyện ngời anh hùng chiến trận Tày, Việt đã đợc dựa theo một
kiểu kết cấu chung của truyền thuyết anh hùng.
4.3.Những motif đặc trng của kiểu truyện: là motif bà mẹ và sự
thụ thai sinh nở thần kỳ, motif đánh giặc, motif hoá thân thần kỳ.
Trong đó, motif về bà mẹ và sự sinh nở thần kỳ đã khơi mở một loạt
các motif kế tiếp để khẳng định tính chất kỳ vĩ trong mỗi hình tợng
nhân vật anh hùng. Còn sự lặp lại motif đánh giặc trên lng ngựa
chiến trong nhiều mẫu kể thần thoại, truyền thuyết và cổ tích đã
khẳng định hiện thực lịch sử chống giặc ngoại xâm giữ một vai trò
quan trọng tác động tích cực tới sự sáng tạo dân gian. Sự hoà đồng
trong tâm lý tất dẫn đến sự hoà đồng trong việc lựa chọn, thể hiện các
motif để cấu tạo nên hình tợng ngời anh hùng chống giặc ngoại
xâm ở cả truyện kể Tày và Việt. Nếu motif đánh giặc góp phần khắc
họa ý chí đánh giặc của ngời anh hùng, làm cho sự nghiệp của ngời
anh hùng toả sáng thì motif hoá thân sau khi đánh giặc lại làm cho
hình tợng nhân vật anh hùng chiến trận trở nên bất tử.
Tiểu kết chơng 4: Hình tợng ngời anh hùng chiến trận trong
truyện kể dân gian Tày, Việt vừa mang đậm chất thần thoại kỳ vĩ


thoại mang tính khởi nguyên của cả hai tộc ngời qua hai hớng tiếp
cận sau:
2.1. Tiếp cận hình thức cấu tạo cốt truyện: Chúng tôi khảo sát kiểu
truyện này trong hệ đề tài về nguồn gốc thế giới, sức mạnh sáng tạo
vũ trụ của các thần trong thần thoại của ngời Kinh và hệ thống
truyện kể về Tài Ngào và Pựt Luông của ngời Tày.
2.1.1. Các dạng kết cấu truyện kể của ngời Việt: Nhìn chung
các truyện kể của ngời Việt về ngời anh hùng kiến tạo thế giới,
kiến tạo vũ trụ có kết cấu phần lớn là ngắn gọn, cốt truyện đơn giản.
Các kết cấu thờng gặp nh: kết cấu dạng truyện một thần - một nhân
vật - một tuyến hành động; kết cấu dạng truyện: hai nhân vật - thần
(trở lên) - nhiều hành động nhiều sự kiện; kết cấu dạng truyện có sự
kết hợp thần thoại - truyền thuyết, nhân vật nửa nhiên thần, nửa nhân
thần trong các truyện kể về Lạc Long Quân - Âu Cơ.
2.1.2. Các dạng kết cấu truyện kể của ngời Tày: Do nhiệm vụ
đặt ra là dùng truyện kể dân gian Tày và Việt để soi sáng những đặc
điểm so sánh văn hoá tộc ngời nên ở kiểu truyện đầu tiên trong
truyện kể của ngời Tày, chúng tôi lựa chọn khảo sát hệ thống truyện
kể về Tài Ngào và Pựt Luông, những truyện có liên quan trực tiếp đến
công cuộc kiến tạo, khai sáng vũ trụ. Trong đó có các dạng kết cấu cụ
thể: kết cấu đơn giản nhất là những truyện kể về nhân vật Tài Ngào;
kết cấu phức tạp hơn nằm trong dạng truyện kể về Pựt Luông - vị nữ
thần kiến tạo khai sáng và Pựt Luông Bụt nhân vật nửa truyền
thuyết, nửa cổ tích. Qua đối sánh với truyện kể của ngời Kinh,
chúng tôi nhận thấy có sự tơng đồng trong quan hệ văn hóa giữa hai
tộc ngời Tày Việt đợc lu giữ lại trong những thiên truyện đó.
2.2. Tiếp cận theo motif: Để làm rõ hơn hình tợng nhân vật
trong truyện kể dân gian thì phải dựa vào hệ thống motif và đặt số
phận của nhân vật vào trong thời gian sự kiện và không gian sắp đặt.



14
giá trị khởi đầu này về nhân vật Thục Phán - An Dơng Vơng đã tạo
nên giá trị thẩm mỹ độc đáo và đặc sắc, mang ý nghĩa khái quát cao
trên bình diện dân tộc: Mẫu kể đã tạo ra đợc một hình tợng chung,
thống nhất về nhân vật anh hùng văn hoá Thục Phán - An Dơng
Vơng của cả Tày lẫn Việt. Sự hoà hợp này chỉ có thể có một cách lý
giải về sự lựa chọn mang tính lịch sử, tạo nên sự cố kết vững bền
trong quan hệ giao lu tiếp biến văn hoá Tày - Việt.
3.4.3. Rùa Vàng biểu tợng văn hoá Tày Việt đặc sắc:
Truyện Rùa vàng với cốt truyện ban đầu xuất phát từ một sự kiện lịch
sử, từ một thời đại lịch sử và từ một nhân vật lịch sử: đó là sự kiện
lịch sử xây thành Cổ Loa, gắn liền với nhà nớc Âu Lạc và nhân vật
Thục Phán An Dơng Vơng. Sự vận động mang giá trị biểu cảm
đặc sắc của biểu tợng rùa đã tạo nên cơ sở thẩm mỹ có khả năng
thuyết phục để luận giải mối quan hệ văn hoá Tày Việt: Từ con rùa
nguyên thuỷ lấy mai đào đất giúp ngời chống hạn trong thần thoại
Tày và trong hàng loạt truyện kể gắn với tâm thức dân gian Tày đến
con rùa linh thiêng trong truyền thuyết An Dơng Vơng.
3.4.4. Nhân vật anh hùng văn hoá An Dơng Vơng trong
mối quan hệ văn hoá Tày Việt: Từ Thục Phán trong truyền thuyết
Chín chúa tranh vua của ngời Tày đến Thục Phán An Dơng
Vơng trong truyền thuyết An Dơng Vơng của ngời Việt là một sự
tiếp nối tất yếu của mối giao hoà tiếp biến văn hoá tộc ngời trong cả
hiện thực lịch sử lẫn hiện thực truyền thuyết. Cả ngời Tày và ngời
Việt đều ngợi ca vị anh hùng dân tộc đã từng là vị thủ lĩnh tối cao
lãnh đạo nhân dân Việt cổ đánh Tần đuổi Triệu.
Tiểu kết chơng 3: Kiểu truyện về nhân vật anh hùng văn hoá
trong truyện kể dân gian Tày, Việt từ thần thoại đến truyền thuyết là
một sự tiếp nối có cơ sở lịch sử, đã góp phần tạo nên nhiều cứ liệu

vật anh hùng văn hoá là sự phát triển trên cơ sở của hình tợng nhân
vật ngời khổng lồ sáng thế, kiến tạo thế giới trong buổi đầu lịch sử

12
nhân loại, đợc bắt đầu từ những thiên thần thoại. Thực tế cuộc sống
lao động cực nhọc và nhiều khi đầy hiểm hoạ trong điều kiện sản xuất
ở trạng thái nguyên thuỷ đã đợc thăng hoa dới cái nhìn thẩm mỹ
của ngời xa thông qua hình tợng các nhân vật: Lạc Long Quân -
Âu Cơ, Tản Viên, Thánh Dóng của ngời Việt, Pựt Luông, Pú
Lơng Quân Slao Cải của ngời Tày.
3.2. Các dạng thức của nhân vật anh hùng văn hoá: Có ba dạng
thức về nhân vật anh hùng văn hoá: một là, ngời anh hùng văn hoá
đợc mô tả giống nh nhân vật khổng lồ khai sáng tham dự vào việc
kiến tạo, thiết lập thế giới; hai là, ngời anh hùng văn hoá giữ chức
năng nh một ngời anh hùng dũng sĩ đấu tranh với những sức mạnh
vốn có của tự nhiên để bảo vệ địa bàn c trú; ba là, ở cấp độ phát
triển cao hơn thì ngời anh hùng văn hoá đã tiến ngang tầm với vị
thần sáng tạo mang vai trò của một vị thủ lĩnh bộ tộc, bộ lạc.
3.3. Sự tơng đồng và khác biệt trong cấu tạo cốt truyện và trong
việc tái tạo motif đặc trng của kiểu truyện nhân vật anh hùng
văn hoá Tày - Việt: Những nhân vật anh hùng văn hoá cả Tày lẫn
Việt đều có cội nguồn chung gắn liền với văn minh nông nghiệp lúa
nớc. Theo chúng tôi có bốn kiểu nhân vật anh hùng văn hoá trở
thành hình tợng nổi bật trong truyện kể dân gian Tày, Việt. Đó là:
nhân vật ngời anh hùng văn hoá với việc phát hiện ra lửa, tạo nên
cuộc sống văn minh cho con ngời; nhân vật ngời anh hùng văn hoá
với việc tạo ra lúa nuôi sống con ngời; nhân vật ngời anh hùng văn
hoá với công cuộc sáng tạo ra các giá trị văn hoá giúp ích cho con
ngời; nhân vật ngời anh hùng văn hoá trong cuộc đấu tranh chinh
phục tự nhiên. Chúng tôi cũng đã nhận diện đợc bốn motif đặc trng

Bắc; hai là, truyền thuyết Cẩu chúa cheng vua có nhiều motif mang
đặc trng văn hoá tộc ngời Tày; ba là, căn cứ vào nghĩa tiếng Tày
Thái thì Thục Phán có nghĩa là Tục Pan ngời anh hùng mở nớc.
Có thể nói Cẩu chúa cheng vua
là truyền thuyết đứng đầu trong
truyền thuyết Tày ở Việt Nam. Theo chúng tôi, mẫu kể dân gian có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status