ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----oOo-----
LA MAI THI GIA
MOTIF TRONG NGHIÊN CỨU TRUYỆN KỂ
DÂN GIAN: LÝ THUYẾT VÀ ỨNG DỤNG
– TRƯỜNG HỢP MOTIF TÁI SINH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VĂN HỌC
MÃ SỐ: 62223201
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. CHU XUÂN DIÊN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2014
Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn,
Đại học Quốc gia, thành phố Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học: PGS. Chu Xuân Diên
Phản biện độc lập 1: GS.TS. Trần Ngọc Vương
Phản biện độc lập 2: PGS.TS. Nguyễn Hữu Sơn
Phản biện 1: PGS.TS. Nguyễn Tấn Phát
Phản biện 2: PGS.TS. Phan Thị Thu Hiền
CHƯƠNG 1: MOTIF TRONG LÝ THUYẾT CỦA MỘT SỐ TRƯỜNG PHÁI NGHIÊN
CỨU VĂN HỌC DÂN GIAN TRÊN THẾ GIỚI
1.1. Motif trong lý thuyết của trường phái Phần Lan ............................................. 18
1.1.1. Từ những lý thuyết tiền đề đến lý thuyết của trường phái Phần Lan ........... 18
1.1.1.1. Những lý thuyết tiền đề ....................................................................... 18
1.1.1.2. Trường phái Phần Lan và sự ra đời của phương pháp địa lý–lịch sử . 22
1.1.2. Phương pháp địa lý–lịch sử từ trường phái Phần Lan đến Stith Thompson .......... 29
1.2. Motif trong lý thuyết của trường phái thi pháp lịch sử .................................... 36
1.2.1.Từ các lý thuyết tiền đề đến lý thuyết thi pháp lịch sử .................................. 36
1.2.2. Trường phái thi pháp lịch sử ........................................................................ 40
1.3. Motif trong lý thuyết của trường phái thi pháp cấu trúc ................................. 50
1.3.1. Hình thái học truyện cổ tích thần kỳ và lý thuyết cấu trúc chức năng ......... 50
1.3.2. Sự khác nhau giữa hai đơn vị motif và chức năng theo lý thuyết cấu trúc–
chức năng ..................................................................................................... 57
1.3.3. Từ trường phái thi pháp cấu trúc đến lý thuyết nhị nguyên về motif ........... 61
1.4. Motif trong lý thuyết của trường phái phân tâm học ...................................... 68
1.4.1. Trường phái phân tâm học ............................................................................ 68
1.4.2. Cổ mẫu huyền thoại và motif trong văn học dân gian.................................. 71
1.5. Tiểu kết chương 1 ................................................................................................. 73
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BÌNH DIỆN NGHIÊN CỨU MOTIF TRUYỆN KỂ DÂN GIAN
2.1. Nghiên cứu motif trên bình diện cấu tạo ........................................................... 76
2.2. Nghiên cứu motif trên bình diện nguồn gốc và biến đổi lịch sử ...................... 86
2.2.1. Nghiên cứu motif trên bình diện nguồn gốc lịch sử .................................... 88
2.2.2. Nghiên cứu motif trên bình diện biến đổi lịch sử ......................................100
2.3. Nghiên cứu motif trên bình diện mối quan hệ giữa motif và cốt truyện ......109
TÀI LIỆU THAM KHẢO PHẦN PHỤ LỤC .................................................................... 248
DẪN NHẬP
1. Lý do chọn đề tài
Ngay từ thế kỷ 19 truyện kể dân gian đã là đối tượng nghiên cứu hấp dẫn
lôi kéo được sự quan tâm của nhiều thế hệ các nhà khoa học ở mọi quốc gia
trên thế giới. Từ những công trình sưu tầm biên soạn thể loại truyện kể dân
gian vào đầu thế kỷ 19 của hai nhà khoa học người Đức – anh em Grimm, cho
đến nay truyện kể dân gian được các nhà folklore thế giới khảo sát nghiên cứu
ở nhiều phương diện, từ nội dung đến hình thức, từ đề tài cốt truyện đến các
thành phần cấu tạo nên đề tài cốt truyện đó. Nhiều vấn đề về nguồn gốc, bản
chất, đặc điểm thi pháp của thể loại này cũng được giới nghiên cứu folklore
đặt ra và cùng tìm câu trả lời. Mục đích chung của các nhà nghiên cứu là nhằm
tìm ra được phương pháp tiếp cận đúng đắn và phù hợp nhất với thể loại
truyện kể dân gian tiêu biểu và hấp dẫn trong văn học dân gian thế giới này.
Bản chất, cấu trúc, cội nguồn lịch sử và tiến trình phát triển của các thể loại
truyện kể cũng ngày càng được quan tâm nghiên cứu kỹ lưỡng và thấu đáo
hơn. Bằng nhiều phương pháp khác nhau, những người có tâm huyết với việc
nghiên cứu văn học dân gian đã cố gắng tìm kiếm kết cấu đích thực bên trong
cũng như quá trình phát triển một cách logic nhất trong tư duy nghệ thuật của
loài người từ thời cổ đại đến nay.
Việc tìm kiếm phương pháp cho công tác nghiên cứu folklore nói chung
và truyện kể dân gian nói riêng đã làm nảy sinh ra nhiều trường phái folklore
học khác nhau trên thế giới, như trường phái thần thoại học, trường phái Ấn
Độ, trường phái nghi lễ huyền thoại, trường phái Phần Lan, trường phái nhân
chủng học, trường phái thi pháp học, trường phái dân tộc học, trường phái
phân tâm học… Tuy giữa các trường phái này có những quan niệm học thuật
khác nhau, phương pháp nghiên cứu khác nhau và thậm chí đôi khi có những ý
type (kiểu truyện). Dù cho đến nay vẫn chưa thể khẳng định được type và
motif là 2 đơn vị nghiên cứu ưu việt nhất được sử dụng trong quá trình phân
tích truyện kể dân gian, và đôi khi sự phân loại có tính chi li về mặt motif phần
2
nhiều mang tính hình thức khiến cho truyện kể bị cắt rời thành nhiều mảnh
vụn, nhưng dẫu sao đó cũng là một hướng nghiên cứu tích cực nhất hiện nay.
Hướng nghiên cứu này có khả năng giúp cho những nhận định về nguồn gốc
nảy sinh của truyện kể dân gian ở khắp các quốc gia không còn mang tính tùy
tiện và võ đoán nữa. Đồng thời còn có thể đặt niềm tin vào phương pháp
nghiên cứu này sẽ giúp tìm ra được kết cấu thống nhất bên trong của những
câu truyện cổ, cái quy luật phát triển chung nhất trong tư duy hay tâm lý loài
người và một quy trình phát triển có tính logic của nền văn hóa, nghệ thuật dân
gian của nhân loại.
Motif là một trong những thuật ngữ văn học dân gian được sử dụng nhiều
nhất hiện nay trong các công trình nghiên cứu về thể loại tự sự dân gian.
Những năm gần đây, nhu cầu nghiên cứu truyện kể dân gian theo hướng phân
tích kết cấu và nội dung của motif cũng như mối quan hệ giữa motif và cốt
truyện ngày càng gia tăng mạnh mẽ - đây thực ra là một công việc liên tục của
truyền thống nghiên cứu văn học dân gian bao giờ cũng liên quan mật thiết đến
đề tài. Người ta phân tích motif để tìm kiếm tầng nghĩa sâu xa được dấu kín
trong đó, những biểu tượng văn hóa, dân tộc của mỗi quốc gia. Phân tích motif
để tìm ra “con đường ngắn nhất” cho sự liên kết của các văn bản truyện kể dân
gian trên toàn thế giới. Tuy nhiên, có một trở ngại mà ai cũng thấy đó là khó
có thể tìm ra một cách tiếp cận duy nhất đúng và thích hợp cho việc khẳng
định thành tố nào của câu chuyện là motif và không phải là motif, cũng như
dung lượng chính xác của mỗi motif vì có khi một motif của câu chuyện này
có thể chứa đựng cả một nhóm những motif nhỏ hơn thuộc một câu truyện
khác. Chính vì những trở ngại này mà vấn đề tổng hợp các quan niệm lý thuyết
“Historic – geographic method” ở trang 498 của bộ từ điển này để làm rõ thêm
các thuật ngữ về motif truyện kể dân gian, trường phái Phần Lan và phương
pháp địa lý lịch sử mà chúng tôi trình bày ở chương 1.
Để giới thiệu về sự kế thừa của nhà folklore người Phần Lan Antti Aarne
và nhà folklore người Mỹ Stith Thompson đối với phương pháp địa lý – lịch sử
của trường phái Phần Lan, chúng tôi khảo sát các luận điểm trong phần mở đầu
4
của cuốn sách Bảng phân loại và danh mục kiểu truyện dân gian do Aarne và
Thompson cùng chấp bút. Công trình này được phổ biến rộng rãi trên khắp thế
giới và được gọi tắt là Từ điển A – T (The Aarne–Thompson Classification
system). Cuốn từ điển về type truyện kể dân gian này ban đầu là kết quả nghiên
cứu của Aarne sau một quá trình tập hợp các type truyện kể trong kho tàng văn
học dân gian của Phần Lan và Châu Âu. Sau này Thompson dịch công trình này
ra tiếng Anh và mở rộng với các type truyện và motif văn học dân gian của
nhiều nước trên thế giới. Bên cạnh đó, bộ sách 6 cuốn Motif-index of folkliterature, a Classification of narrative elements in folktales, ballads, myths,
fables, medieval romances, exempla, fabliaux, jest-books, and local legends của
Thompson cũng là nguồn tài liệu quý giá hỗ trợ chúng tôi trong công việc tra
cứu, tìm kiếm vị trí của những motif truyện kể dân gian mà mình quan tâm khảo
sát. Đồng thời đó cũng là cứ liệu để chúng tôi so sánh và rút ra những đánh giá,
nhận định về các ứng dụng mà các học giả đi trước đã thực hiện dựa vào danh
mục motif văn học dân gian trong bộ sách của ông.
Công trình nghiên cứu Truyện kể dân gian (1977) của Stith Thompson là
tài liệu cung cấp những thí dụ ứng dụng cụ thể do tác giả thực hiện dựa theo
phương pháp nghiên cứu địa lý – lịch sử của trường phái Phần Lan. Đặc biệt là
những phân tích của Thompson về nghiên cứu của nhà folklore người Đức
Walter Anderson trong chuyên khảo Kaiser und Abt, những luận điểm của
Thompson trong bài viết này đã cung cấp cho chúng tôi những dẫn chứng về
Putilov cho rằng kể từ khi có những định nghĩa và sự phân biệt mang tính
nguyên tắc giữa motif và cốt truyện của Veselovsky thì vai trò mang tính cấu
trúc và nội dung của motif truyện kể dân gian đã được thừa nhận. Đồng thời tuy
còn có những thiếu sót về mặt quan điểm nhưng lý thuyết của Veselovsky cho
tới bây giờ vẫn tiếp tục giữ thế thượng phong trong việc tiếp cận với motif như
là một đơn vị cấu thành cốt truyện.
Bài viết “Bàn về thi pháp mang tính lịch sử của Veselovsky” của nhà
nghiên cứu K.Gorky trong tác phẩm A.N.Veselovsky - Thi pháp lịch sử là một
sự tổng kết hết sức có giá trị các quan niệm về nguồn gốc văn học dân gian từ
các học giả đi trước. Ông nhắc đến lý thuyết thần thoại của anh em Grimm, lý
thuyết vay mượn của Todo Benfey hay lý thuyết di chuyển cốt truyện của
6
trường phái nhân loại Anh. Ông dẫn ra những phê phán và đồng tình của
Veselovsky đối với các lý thuyết này và chỉ ra rằng những lý thuyết đó đã được
Veselovsky kế thừa và phát triển, mở rộng thành lý thuyết của trường phái thi
pháp lịch sử. Theo ông luận điểm quan trọng nhất của trường phái này là hướng
đến việc xem xét nguồn gốc và lịch sử phát triển của truyện kể dân gian trong
lịch sử văn hóa tâm lý dân tộc.
Một công trình nghiên cứu rất quan trọng khác là tác phẩm Nhân vật truyện
cổ tích thần kỳ - nguồn gốc hình tượng của nhà folklore người Nga E.M.
Meletinsky. Mở đầu công trình này, Meletinsky đưa ra những đánh giá nhận
định của mình về quan niệm nguồn gốc truyện kể dân gian của các nhà nghiên
cứu phương Tây, đặc biệt là các nhà khoa học thuộc trường phái Phần Lan. Ông
cho rằng họ đã thiên vị và thiếu thuyết phục khi đưa ra các quan điểm thấm đẫm
chủ nghĩa dĩ Âu vi trung (coi Châu Âu là trung tâm). Những sai lầm này càng
bộc lộ rõ khi dùng lý thuyết Phần Lan nghiên cứu văn học dân gian của các dân
tộc Viễn Đông như Trung Hoa, Đông Dương, Nhật Bản, Indonesia… Đồng thời
nhắc lại những phân tích của Putilov về định nghĩa motif do Veselovsky đưa ra,
đồng thời ông còn dẫn ra và phân tích các quan điểm của Meletinsky về motif
truyện cổ tích. Từ đó Nekliudov đưa ra cái nhìn tổng quát của mình về các quan
điểm trên của các học giả và khẳng định rằng khuynh hướng nghiên cứu so sánh
lịch sử trong nghiên cứu truyện kể dân gian được khởi xướng từ Veselovsky đã
gây ảnh hưởng lớn lao đến khoa nghiên cứu văn học dân gian ở nước Nga và
trên toàn thế giới.
Cuối cùng một tài liệu cũng viết bằng tiếng Nga rất hữu ích đối với việc
thực hiện đề tài nghiên cứu của chúng tôi là công trình nghiên cứu Lý thuyết
motif trong nghiên cứu văn học và folklore học nước Nga của Silantev. Công
trình này được xem như là một bảng tổng kết đầy đủ nhất về tất cả các quan
niệm lý thuyết trong nghiên cứu truyện kể dân gian đã từng xuất hiện trong khoa
folklore học nước Nga từ đầu thế kỷ 19 cho đến hiện tại. Trong nội dung cuốn
sách này, tác giả đã dẫn ra và phân tích các định nghĩa về motif của những học
giả đi trước hoặc cùng thời với ông như Veselovsky, A.L.Bern,
O.M.Freidenberg, V.Ia.Propp, V.B.Tomashevsky, B.I.Iarkho, B.V.Shlovsky,
8
A.P.Skaftymov… Silantev chia hệ thống định nghĩa motif của các học giả nước
Nga ra thành các phương diện: phương diện ngữ nghĩa (tính toàn vẹn, cơ cấu
ngữ nghĩa, tiềm năng về mặt ngữ nghĩa, mối liên hệ giữa motif và nhân vật, giá
trị thẩm mỹ); phương diện hình thái học (tiêu chí logic, motif và chức năng nhân
vật, bản chất địa vị của motif); phương diện quan niệm nhị nguyên (định nghĩa
motif theo chủ đề, theo tâm lý học, motif và nguyên cớ) và phương diện nguyên
tắc tính hệ thống. Đóng góp mới mẻ nhất trong công trình này của Silantev là sự
tổng hợp các quan niệm nhị nguyên về motif từ những ý tưởng đến các biến thể
của lý thuyết nhị nguyên…
2.3. Ngoài nguồn tài liệu tiếng nước ngoài nêu trên, đề tài của chúng tôi
nghiên cứu văn học của M.B. Khrapchenco còn giúp chúng tôi làm rõ thêm một
số vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài của mình.
Một số nghiên cứu về trường phái phân tâm học đã cung cấp cho chúng tôi
những tư liệu về mặt lý thuyết như Thăm dò tiềm thức của C.G. Jung hay bài
viết “Về quan hệ của tâm lý học và sáng tạo văn học nghệ thuật” của ông trong
cuốn Lý luận phê bình văn học thế giới thế kỷ XX và công trình Bản đồ tâm hồn
con người của Jung do Murray Stein biên soạn. Sự quan tâm nghiên cứu của các
tác giả trong nước về cổ mẫu được thể hiện qua các công trình như Huyền thoại
và văn học (nhiều tác giả), Phân tâm học và văn hóa nghệ thuật của Đỗ Lai
Thúy, Phân tâm học và phê bình văn học của Liễu Trương cùng các bài viết
“Phê bình cổ mẫu và cổ mẫu nước trong văn chương Việt Nam” của Nguyễn
Thị Thanh Xuân hay “Thử dẫn vào nghiên cứu văn học từ góc nhìn cổ mẫu” của
Nguyễn Quang Huy… đã khơi gợi lên trong chúng tôi hướng nghiên cứu motif
văn học dân gian theo con đường tiếp cận với đơn vị cổ mẫu theo lý thuyết phân
tâm học.
Bộ sách hai cuốn Tuyển tập V.Ia. Propp (2003) do một nhóm tác giả biên
dịch một cách công phu là nguồn tài liệu tham khảo quý giá cung cấp cho chúng
tôi rất nhiều những vấn đề khoa học về lý thuyết thuyết nghiên cứu truyện kể
dân gian cùng với những thí dụ cụ thể từ những ứng dụng tỉ mỉ của tác giả cuốn
sách nhằm làm sáng rõ các quan điểm lý thuyết đó. Với Tuyển tập V.Ia. Propp
chúng tôi kế thừa từ định nghĩa motif về phương diện hình thái học của trường
phái cấu trúc -chức năng đến quan điểm về cấu trúc hình thái của truyện cổ tích
10
thần kỳ, từ phương pháp nghiên cứu motif theo phương diện cấu tạo đến phương
pháp nghiên cứu motif theo phương diện tiếp cận nguồn gốc và sự biến đổi lịch
sử. Mối liên hệ chặt chẽ giữa truyện kể dân gian và dân tộc học từ lâu đã được
nhắc đến trong lý thuyết của các trường phái trước đó nhưng chỉ đến khi có sự
ngưỡng và thực hành ma thuật thời nguyên thủy… Cùng với công trình của
Frazer là các tác phẩm Nguồn gốc của văn hóa và tôn giáo vật tổ và cấm kị của
Sigmund Freud; Dấu hiệu, biểu trưng và thần thoại của Luc Benoist; Kinh
nghiệm thần bí và biểu tượng của người nguyên thủy của Lévy Bruhl hay Không
gian văn hóa nguyên thủy (nhìn theo lý thuyết chức năng) của Robert Lowie và
Những huyền thoại của Roland Barthes và một công trình nghiên cứu của một
học giả Việt Nam Vũ Minh Chi, Nhân học văn hoá - con người với thiên nhiên,
xã hội và thế giới siêu nhiên, cũng là nguồn tài liệu tham khảo cho chúng tôi
trong khi luận giải vấn đề nguồn gốc của motif tái sinh trong truyện cổ tích Việt
Nam ở chương 3 của luận án.
2.4. Ngoài những công trình nghiên cứu nêu trên, đề tài của chúng tôi còn
được kế thừa từ các bài viết trong các tạp chí nghiên cứu chuyên ngành. Đó có
thể là những bản dịch, giới thiệu về lý thuyết và phương pháp nghiên cứu của
một số trường phái folklore trên thế giới cùng với các thí dụ ứng dụng của các
tác giả bài viết về những phương pháp đó như “Nghiên cứu truyện cổ dân gian
Việt Nam theo bảng mục lục tra cứu típ và mô típ truyện cổ dân gian của Antti và
Stith Thompson” của nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Hiền hay Nghiên cứu văn học
dân gian ở Hoa Kỳ - một số quan sát bước đầu” và “Nghiên cứu văn học dân
gian từ góc độ type và motif – Những khả thủ và bất cập” của Trần Thị An. Bên
cạnh đó, bài viết Một số vấn đề lý luận về nghiên cứu cấu trúc truyện cổ tích
thần kỳ của Phạm Tuấn Anh cũng cung cấp thêm cho chúng tôi một cách tiếp
cận nghiên cứu cấu trúc truyện cổ tích theo hình thái học truyện cổ tích thần kỳ
của V.Ia. Propp. Đồng thời các bài báo Những cố gắng tìm tòi trong việc đổi
mới phương pháp nghiên cứu truyện cổ tích và 50 năm ngành cổ tích học Việt
Nam của Nguyễn Thị Huế cũng giúp chúng tôi có thêm một cái nhìn khái quát
về thực trạng nghiên cứu thể loại truyện cổ tích trong khoa nghiên cứu văn học
dân gian nước nhà...
Cuối cùng cần phải kể đến là các tuyển tập truyện cổ tích Việt Nam đã được
12
13
3.2. Chương 3 của luận án là chương ứng dụng nghiên cứu cụ thể theo
một vài lý thuyết và phương pháp mà chúng tôi đã giới thiệu ở hai chương đầu.
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi trong chương này là motif tái sinh – một
motif rất phổ biến trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam và của cả thế giới.
Phạm vi nghiên cứu của chương này sẽ là những văn bản truyện cổ tích Việt
Nam đã được cố định thành văn bản, đã được xuất bản trong các công trình
sưu tập truyện kể dân gian của cá nhân hoặc tập thể nhóm tác giả có uy tín.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp tổng hợp: Trước tiên với vấn đề lý thuyết về các quan
niệm và phương pháp nghiên cứu motif, chúng tôi sẽ tiến hành làm công việc
tổng hợp tài liệu của các nhà nghiên cứu đã từng đề cập đến đơn vị motif
truyện kể dân gian trong các công trình nghiên cứu, các bài viết, các bài báo
cáo khoa học… cả trong và ngoài nước bằng tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng
Nga. Chúng tôi cố gắng tập hợp và giới thiệu được càng nhiều càng tốt các
quan niệm, định nghĩa về motif đã từng xuất hiện trong nghiên cứu folklore
cũng như các phương pháp nghiên cứu truyện kể dân gian theo motif đã và
đang được sử dụng trên thế giới từ trước đến nay.
4.2. Phương pháp khảo sát và miêu tả: Sau khi tập hợp được càng nhiều
càng tốt những tài liệu có liên quan đến đề tài, chúng tôi tiến hành khảo sát nội
dung của những nghiên cứu có liên quan đến vấn đề motif, miêu tả lại các
quan điểm lý thuyết của từng trường phái, trình bày lại những luận điểm của
các nhà khoa học và những đánh giá của các nhà nghiên cứu kế tục họ về các
luận điểm đó. Miêu tả các phương pháp nghiên cứu, các bình diện nghiên cứu
motif đã được triển khai từ các lý thuyết đó và miêu tả những ứng dụng đã
được thực hiện trong nghiên cứu motif dựa trên các phương pháp mà mình đã
nêu ra.
4.3. Phương pháp phân tích: Ở chương ứng dụng, sau khi miêu tả đối
từng được ứng dụng rộng rãi trên thế giới về hai bình diện cấu trúc và lịch sử
motif có thể đưa ra một định hướng về phương pháp nghiên cứu đã được ứng
15
dụng và có thể tiếp tục ứng dụng một cách sâu sắc hơn trên phạm vi rộng trong
nghiên cứu truyện kể dân gian Việt Nam, giúp tìm hiểu một cách thấu đáo về
từng đơn vị motif trong kho tàng truyện kể dân gian Việt Nam cả về hình thức
lẫn nội dung.
6. Bố cục của luận án
Ngoài phần Dẫn luận và Kết luận, nội dung luận án của chúng tôi được
chia làm 3 chương chính như sau:
Chương 1: Motif trong lý thuyết của một số trường phái nghiên cứu
văn học dân gian trên thế giới.
Trong chương này chúng tôi trình bày các quan điểm lý thuyết của bốn
trường phái nghiên cứu văn học dân gian trên thế giới là Trường phái Phần
Lan, Trường phái thi pháp lịch sử, Trường phái cấu trúc chức năng và Trường
phái phân tâm học cùng một số tiền đề lý thuyết mà các trường phái này đã kế
thừa có phê phán, bổ sung về mặt quan điểm học thuật.
Chương 2: Một số bình diện nghiên cứu motif truyện kể dân gian.
Các bình diện nghiên cứu motif truyện kể dân gian mà chúng tôi trình bày
trong chương này bao gồm bình diện cấu tạo motif, bình diện nguồn gốc lịch
sử và biến đổi lịch sử của motif, bình diện mối quan hệ giữa motif và cốt
truyện. Mỗi bình diện là một thao tác, phương pháp nghiên cứu mà các nhà
khoa học thuộc các trường phái đã triển khai từ những quan niệm lý thuyết của
họ, theo đó là sự ứng dụng của các nhà nghiên cứu folklore trên thế giới khi
nghiên cứu motif truyện kể dân gian theo các bình diện này.
Chương 3: Nghiên cứu motif tái sinh trong truyện cổ tích Việt Nam
theo phương pháp phân tích cấu trúc chức năng và nguồn gốc lịch sử.
Chương 3 là chương ứng dụng của luận án từ những vấn đề lý thuyết và
dụng rộng rãi trên thế giới. Có thể kể đến như lý thuyết Ấn – Âu, lý thuyết thần
thoại, lý thuyết vay mượn, lý thuyết di chuyển cốt truyện… Lý thuyết địa lý –
lịch sử của trường phái Phần Lan cũng là sự kế thừa từ một số quan điểm trong
những lý thuyết này và đã phát triển mạnh mẽ, trở thành một trường phái nghiên
cứu truyện kể dân gian gây ảnh hưởng lớn trong khoa folklore học trên thế giới.
Về cơ bản, các nhà nghiên cứu truyện kể dân gian khi đặt ra câu hỏi về
nguồn gốc của truyện kể dân gian đều muốn giải quyết ba vấn đề chính: cội
nguồn xuất hiện của truyện kể dân gian là ở đâu? Tại sao có sự giống nhau và
khác nhau của những motif và cốt truyện? Hình thức cấu trúc và ý nghĩa tư
tưởng của motif và cốt truyện được thể hiện như thế nào?...Theo họ sự tương
đồng giữa các motif truyện kể dân gian có thể có nguồn gốc ở sự tương đồng về
quá trình phát triển văn hóa – xã hội hoặc có cơ sở từ sự tiếp xúc văn hóa, văn
học giữa các dân tộc khác nhau, hoặc có thể từ nguồn gốc sinh trưởng chung…
18
Cũng có khi sự tương đồng về văn hóa lại xuất hiện ở những dân tộc hoàn toàn
khác biệt nhau về cội nguồn hay hệ ngôn ngữ truyền thống nhưng giữa họ lại có
sự liên hệ gần gũi với nhau về mặt lãnh thổ, có những nét chung về số phận lịch
sử và có những mối quan hệ tác động lẫn nhau về văn hóa. Mỗi một trong số các
dân tộc đó lại in dấu ấn riêng đặc thù của mình trong di sản văn hóa chung của
văn hóa nhân loại… Từ những giả thuyết có tính tiền đề đó đã hình thành nên lý
thuyết của các trường phái dưới đây.
Đầu tiên phải kể đến là trường phái thần thoại ngữ văn Ấn- Âu ra đời vào
những năm nửa đầu thế kỷ 19 với chủ xướng là hai anh Grimm – những nhà cổ
tích học người Đức. Với ba tập truyện cổ tích có nhan đề Những truyện kể trẻ
em và trong gia đình, xuất bản năm 1812, 1815, 1822, hai nhà nghiên cứu này
đã đặt ra vấn đề cần phải xem xét nguồn gốc truyện cổ tích với tính cách là một
vấn đề nghiên cứu khoa học, họ cho rằng có sự giống nhau giữa truyện cổ tích
điều kiện di chuyển tới những vùng đất khác nhau và hình thành nên một quá
trình giao lưu văn hóa, hoặc có sự di chuyển một bộ phận dân cư của dân tộc
này đến định cư tại lãnh thổ của một dân tộc khác. Quá trình cộng cư và tiếp xúc
văn hóa đã dẫn đến sự ảnh hưởng văn hóa lẫn nhau và hình thành nên quá trình
vay mượn các vốn văn hóa truyền thống của nhau. Trong trường hợp này thì sự
tương đồng về con đường phát triển văn học của các dân tộc khác nhau thường
đan chéo với những tiếp xúc và ảnh hưởng mang tính quốc tế. Tuy vậy chỉ có
thể có sự ảnh hưởng nếu có những xu thế phát triển văn hóa tương tự nhau ở các
quốc gia khác nhau và từ bản thân của nền văn hóa này đã có nhu cầu tiếp xúc
và chịu ảnh hưởng một cách chọn lọc từ một nền văn hóa tương tự mình. Mọi sự
ảnh hưởng văn học bao giờ cũng đi kèm với nó là sự làm biến đổi ít nhiều cái
hình mẫu nguyên thủy được du nhập từ một nền văn hóa khác, cái vay mượn sẽ
được cải biến một cách sáng tạo, hình thành nên một bản khác tương tự cho phù
hợp với trình độ phát triển và thị hiếu cũng như truyền thống văn học của dân
tộc đi vay mượn.
Đại diện nổi tiếng của lý thuyết vay mượn thế kỷ 19 là nhà Đông phương
học người Đức Todo Benfey. Ông cho rằng sự giống nhau giữa các cốt truyện
không chỉ do tính huyết thống của các dân tộc mà do những mối liên hệ lịch sử 20