MỤC LỤC
MỘT SỐ TỪ VIẾT TẮT
TMCP CT: Thương mại cổ phần công thương
NHTM: Ngân hàng thương mại
VNĐ: Việt Nam Đồng
KTNB: Kiểm tra nội bộ
TMCP: Thương mại cổ phần
NHCT: Ngân hàng công thương
BQL: Ban Quản Lý
NN & PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn
TCTD: Tổ chức tín dụng
XLRR: Xử lý rủi ro
DANH MỤC BẢNG BIỂU
BẢNG
LỜI MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hòa trong xu thế hội nhập toàn cầu trong lĩnh vực Tài chính nói chung và
lĩnh vực Ngân hàng nói riêng, thời cơ và thách thức đan xen lẫn nhau, nhiều Ngân
hàng và Tổ chức tín dụng đã ra đời và đã tạo ra sự cạnh tranh ngày càng gay gắt.
Các Ngân hàng muốn tồn tại, phát triển, đạt được lợi nhuận cao và khẳng định được
vị thế của mình trên thị trường thì phải mở rộng quy mô hoạt động, đa dạng hóa sản
phẩm dịch vụ của mình, nâng cao năng lực điều hành nhằm đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao của nền Kinh tế.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền Kinh tế Việt Nam trong những năm
qua, hệ thống Ngân hàng thương mại cũng chuyển mình và có những bước phát
triển vượt bậc, là một trong những kênh cung cấp vốn chủ yếu trong nền Kinh tế.
Sự lớn mạnh của hệ thống Ngân hàng thương mại gắn liền với công tác tín dụng vì
đây là hoạt động mang lại nguồn thu chủ yếu cho các Ngân hàng thương mại Việt
Nam.
Trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO,
điều này đồng nghĩa với việc ngành Ngân hàng của nước ta phải cải cách triệt
mại cổ phần công thương – Chi nhánh Bình Xuyên trong bối cảnh là chi nhánh trực
thuộc của Ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu dữ liệu thứ cấp thông qua thu thập và xử lý thông tin nội bộ, các báo
cáo và tài liệu của Ngân hàng thương mại cổ phần công thương Bình Xuyên, thông
tin trên báo, tạp chí kinh tế, internet, các thông tin khác trong và ngoài ngành Ngân
hàng.
- Phương pháp: thống kê, diễn dịch, quy nạp…đi từ cơ sở lý luận đến thực tiễn.
- Phân tích số liệu và đánh giá số liệu về số tuyệt đối và số tương đối, các chỉ số từ
tài liệu có được. Từ đó đưa ra nhận xét, kết luận về các chính sách để phòng ngừa
rủi ro tín dụng của Ngân hàng.
4. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề tài này được nghiên cứu nhằm mục đích: Thiết lập hệ thống các biện pháp kiểm
soát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần công thương Bình Xuyên, từ
đó có thể nhân rộng tại các chi nhánh trong toàn hệ thống Ngân hàng Công thương
Việt Nam với những điều chỉnh cho phù hợp với chính sách, sách lược của mỗi
Ngân hàng trong từng giai đoạn cụ thể.
5. KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, diễn giải viết tắt, danh mục
sơ đồ, bảng biểu. Đề tài được chia làm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng rủi ro tín dụng tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ
phần công thương Bình Xuyên
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương
mại cổ phần công thương Bình Xuyên.
2
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN
Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay
(ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và
các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng
trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô
điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng với các tổ chức kinh
tế và cá nhân thể hiện dưới hình thức nhận tiền gửi của khách hàng, cho khách hàng
vay, tài trợ thuê mua, bảo hành hay chiết khấu…
Tín dụng ngân hàng chứa đựng 3 nội dung sau:
- Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang người sử dụng.
- Sự chuyển nhượng này mang tính tạm thời hay có thời hạn.
- Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí.
Nếu thiếu một trong các nội dung trên thì không còn là quan hệ tín dụng.
1.1.1.2. Đặc điểm của tín dụng Ngân hàng
Tín dụng ngân hàng có một số đặc điểm như: tín dụng ngân hàng dựa trên cơ
sở lòng tin. Ngân hàng chỉ đồng ý cấp tín dụng khi tin tưởng rằng khách hàng sẽ sử
dụng nguồn vốn vay của mình đúng mục đích, có hiệu quả và có khả năng hoàn trả
nợ vay đúng hạn; tín dụng mặt khác là sự chuyển nhượng một tài sản có thời hạn
nhằm đảm bảo cho ngân hàng khả năng hoàn trả vốn huy động; tín dụng đồng thời
cũng phải dựa trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi với giá trị hoàn trả lớn hơn giá
trị cho vay; tín dụng cũng là hoạt động tiềm ẩn rủi ro cao cho ngân hàng vì việc thu
hồi được nợ hay không không phụ thuộc vào riêng bản thân khách hàng mà còn phụ
thuộc vào nhiều yếu tố khách quan khác như sự biến động về giá cả, lãi suất, tỷ giá
lạm phát, tăng trưởng kinh tế ; và một đặc điểm nữa là tín dụng phải dựa trên cơ sở
cam kết hoàn trả vô điều kiện của khách hàng cho một khoản vay khi đến hạn.
1.1.1.3. Vai trò của tín dụng Ngân hàng
Thứ nhất, tín dụng Ngân hàng thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các doanh
nghiệp, không chỉ đối với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế nhà nước mà
còn tác động đến cả các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Tín dụng
thúc đẩy sự ra đời của các thành phần kinh tế theo mục tiêu phát triển của đất nước.
rộng, ứng dụng công nghệ, kỹ thuật tiên tiến hiện đại nâng cao năng suất và hiệu
quả kinh tế, tạo nhiều sản phẩm hàng hoá tiêu dùng nội địa và xuất khẩu. Ngân
hàng với chức năng huy động vốn, tập trung mọi nguồn vốn trong và ngoài nước đã
phần nào đáp ứng nhu cầu về vốn của nền kinh tế. Tín dụng ngân hàng trở thành
đòn bẩy kinh tế quan trọng nhất giúp các nhà sản xuất kinh doanh thực hiện tái sản
xuất mở rộng và ứng dụng công nghệ để cạnh tranh thắng lợi trên thị trường.
Thứ ba, tín dụng ngân hàng là công cụ tài trợ cho các dự án tạo việc làm,
tăng thu nhập, thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo, và các chương trình, dự án
mang tính xã hội khác.
Muốn nâng dần thu nhập bình quân đầu người, giải quyết việc làm không thể chỉ
dựa vào quỹ ngân sách Nhà nước hoặc trông chờ vào các khoản vay nước ngoài.
Tín dụng ngân hàng thực sự giữ vai trò quan trọng trong việc đầu tư cho các dự án
có ý nghĩa kinh tế và xã hội để giải quyết những việc như vậy.
Thứ tư, tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tích tụ tập trung vốn sản xuất
mở rộng quá trình phân công lao động xã hội và hợp tác kinh tế trong nước và quốc
5
tế. Các doanh nghiệp, các Công ty làm ăn có hiệu quả và uy tín được ngân hàng tập
trung đầu tư vốn tạo đà mở rộng quy mô sản xuất và thị trường tiêu thụ. Tín dụng
ngân hàng sẽ thúc đẩy nhanh chóng quá trình tập trung và tích luỹ vốn, tạo cho các
doanh nghiệp đủ điều kiện hợp tác liên doanh với các tập đoàn kinh tế nước ngoài
đưa nền kinh tế nước ta hoà nhập vào nền kinh tế thế giới.
Thứ năm, thông qua hoạt động tín dụng ngân hàng, Nhà nước có thể kiểm
soát các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế để đề ra các biện pháp
chính sách quản lý kinh tế và hoạt động của các thành phần kinh tế thông qua các
chính sách về tín dụng như là các chính sách ưu đãi về lãi suất và các điều kiện cho
vay khác cho các doanh nghiệp đầu tư sản xuất theo mục tiêu định hướng phát triển
kinh tế của Nhà nước.
1.1.2. Rủi ro trong hoạt động kinh doanh tín dụng tại NHTM
1.1.2.1. Khái niệm về rủi ro tín dụng
* Khái niệm về rủi ro:
lĩnh vực của nền kinh tế, mang tính xã hội cao, khi hệ thống pháp luật ổn định và
lành mạnh thì môi trường kinh doanh của ngân hàng thương mại sẽ có nhiều thuận
lợi. Ngược lại nếu môi trường pháp lý thiếu đồng bộ, có nhiều khe hở thì rất dễ bị
lợi dụng gây ra tình trạng tham ô, chiếm đoạt tài sản…
Môi trường chính trị ổn định sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát
triển. Ngược lại, nếu doanh nghiệp luôn phải đặt ra trong tình trạng chiến tranh cấm
vận kinh tế, chính trị bất ổn, tệ nạn xã hội tràn lan…đều là những nguyên nhân dẫn
đến việc kìm hãm sản xuất, từ đó gây ra rủi ro đối với các doanh nghiệp nói chung
và đối với rủi ro tín dụng của ngân hàng nói riêng.
Môi trường tự nhiên
Những biến động lớn về thời tiết, khí hậu gây ảnh hưởng hoạt động sản xuất
kinh doanh đặc biệt là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, điều kiện tự nhiên là yếu tố
khó dự đoán, nó thường xảy ra bất ngờ với thiệt hại lớn ngoài tầm kiểm soát của
con người. Vì vậy khi có thiên tai dịch hoạ xảy ra khách hàng cùng các ngân hàng
cho vay sẽ có nguy cơ tổn thất lớn, phương án, dự án kinh doanh không có nguồn
thu … Điều đó đồng nghĩa với các ngân hàng phải cùng chia sẻ rủi ro với khách
hàng của mình. Ở Việt Nam do thời tiết diễn biến phức tạp nên môi trường tự nhiên
đươc coi là nguyên nhân gây ra rủi ro khá lớn cho hoạt động kinh doanh của các
ngân hàng khi đầu tư phát triển các thành phần kinh tế.
b. Rủi ro tín dụng do nguyên nhân chủ quan
Nguyên nhân từ phía khách hàng:
- Đối với các doanh nghiệp, kinh nghiệm và năng lực hoạt động kinh doanh còn
đang ở trình độ thấp, hầu hết các doanh nghiệp này đều không nắm bắt được thông
tin kịp thời, thiếu thích nghi với cạnh tranh. Vì vậy, khi dự án vay vốn gặp khó
khăn, khả năng trả nợ của khách hàng gặp vấn đề, rủi ro tín dụng là điều không thể
tránh khỏi.
- Lợi dụng điểm yếu của NHTM, nhiều khách hàng đã tìm cách lừa đảo để được
vay vốn. Họ lập phương án sản xuất kinh doanh giả, giấy tờ thế chấp cầm cố giả
mạo, hoặc đi vay ở nhiều ngân hàng với cùng bộ hồ sơ.
7
khách hàng, gây tổn thất to lớn cho ngân hàng.
- Ngân hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ khâu bảo đảm tín dụng.
Như cán bộ thẩm định đánh giá sai giá trị tài sản đảm bảo bao gồm cả giá trị hiện tại
và trong tương lai, hoặc lại quá tin tưởng vào tài sản đảm bảo coi đó là “bùa hộ
mệnh” cho công tác thu hồi vốn sau này, mà coi nhẹ công tác kiểm tra, đôn đốc,
giám sát thực hiện dự án, phòng ngừa rủi ro, không có những biện pháp kịp thời
nhằm hạn chế khoản vay có thể dẫn tới nợ quá hạn.
8
- Một yếu tố luôn ảnh hưởng tới khâu thẩm định của cán bộ tín dụng đó là chất
lượng và số lượng thông tin. Bởi vì bản chất hoạt động ngân hàng luôn trong tình
trạng thông tin không cân xứng, cho nên đòi hỏi công tác thẩm định phải sàng lọc
thông tin một cách kỹ càng, chính xác, tránh bỏ sót những dự án hiệu quả cao và
tránh nhận những dự án không có hiệu quả hay hiệu quả thấp. Các ngân hàng chưa
được cung cấp đầy đủ và chính xác, mặc dù Trung tâm thông tin tín dụng CIC đã
được thành lập và đi vào hoạt động nhưng hiệu quả hoạt động chưa cao, chưa cập
nhật. Trong nhiều trường hợp ngân hàng không nắm được đầy đủ thông tin về quan
hệ tín dụng của khách hàng với các tổ chức tín dụng khác nên có thể phán quyết sai
lầm khi cho vay.
- Do ngân hàng không thực hiện tốt công tác giám sát tín dụng. Bởi vì, trình độ
nghiệp vụ của cán bộ tín dụng hạn chế, thiếu thực tế, chỉ dựa trên giấy tờ, số liệu
báo cáo của khách hàng. Thiếu tinh thần trách nhiệm trong công tác nghiệp vụ,
kiểm tra, kiểm soát lấy lệ, hời hợt, chỉ mang tính hình thức, không phản ánh đúng
sự thật do chịu áp lực từ cấp trên, từ chính quyền địa phương. Một hệ thống kiểm
soát lỏng lẻo dễ dẫn đến tình trạng thất thoát vốn, giảm thấp hiệu quả hoạt động
kinh doanh.
1.1.2.3. Dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng
Việc kinh doanh khó có thể thất bại qua một đêm, do vậy mà sự thất bại đó
thường có một vài dấu hiệu báo động. Có dấu hiệu biểu hiện mờ nhạt, có dấu hiệu
biểu hiện rất rõ ràng. Ngân hàng cần có cách nhận ra những dấu hiệu ban đầu của
khoản vay có vấn đề, tức nợ xấu và có hành động cần thiết nhằm ngăn ngừa hoặc
hàng, nếu tỷ lệ thu nợ càng cao thì rủi ro tín dụng càng thấp và hoạt động cho vay
của ngân hàng càng có hiệu quả. Do đó, tỷ lệ này càng cao thì càng tốt.
Tỷ lệ nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn = (Nợ quá hạn / Tổng dư nợ cho vay) * 100%
Tỷ lệ nợ quá hạn thể hiện mối quan hệ giữa nợ quá hạn và tổng dư nợ, nếu
nợ quá hạn chiếm tỷ lệ càng cao trong tổng dư nợ thì rủi ro tín dụng càng lớn và cho
thấy hoạt động của ngân hàng ngày càng kém hiệu quả. Ngược lại, tỷ lệ này càng
nhỏ thì rủi ro tín dụng càng thấp. Theo quy định hiện nay của Ngân hàng Nhà nước,
tỷ lệ này không được vượt quá 5%.
Hệ số rủi ro tín dụng
Hệ số rủi ro tín dụng = (Tổng dư nợ cho vay / Tổng tài sản có) * 100%
Hệ số rủi ro tín dụng phản ánh những khoản mục tín dụng trong tài sản có,
hệ số này càng lớn sẽ thể hiện lợi nhuận của ngân hàng càng cao, nhưng song song
với lợi nhuận cao bao nhiêu thì ngân hàng phải đối mặt với rủi ro tín dụng tương
ứng.
Tỷ trọng nợ xấu / Tổng dư nợ cho vay
Theo quy định hiện nay, tỷ lệ này phải nằm trong khoảng từ 3% đến 5%.
1.2. PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NHTM.
1.2.1. Sự cần thiết phải phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng
NHTM Việt Nam đã và đang có nhiều thay đổi quan trọng trong công tác
quản lý rủi ro tín dụng. Kỷ luật tín dụng đang được đặt lên hàng đầu. Đảm bảo hoạt
động độc lập của NHTM là yếu tố quan trọng để thực hiện kỷ luật tín dụng. Cũng
10
chính vì lẽ tín dụng ngân hàng có những vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh
tế thị trường, do đó rủi ro tín dụng không những làm mất đi vai trò tích cực của tín
dụng ngân hàng mà ngược lại, nó còn gây những tác hại nghiêm trọng không những
đối với hệ thống ngân hàng, với người đi vay mà đối với cả nền kinh tế và xã hội.
Vì thế yêu cầu đảm bảo an toàn cho mỗi khoản tín dụng ngân hàng là điều bắt buộc.
Nếu không có những biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng thì không thể
khắc phục những tác hại to lớn mà rủi ro tín dụng đem lại:
Thứ ba, tiến hành cho điểm khách hàng để quyết định cho vay.
11
Thứ tư, cần chú trọng trong công tác giám sát các khoản cho vay/khách hàng
vay để xem khách hàng vay có sử dụng vốn đúng mục đích không, tình hình tài
chính khách hàng như thế nào Một số lớn cán bộ tín dụng ở các NHTM Việt
Nam cho rằng giải ngân, thu nợ là xong mà chưa quan tâm đến khâu kiểm tra, giám
sát khoản cho vay/khách hàng vay hoặc là rất lơ là trong việc kiểm tra giám sát và
điều này là rất sai lầm và chính là nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng.
Thứ năm, học tập và tiếp thu các công nghệ tiên tiến, các phương thức quản
lý hiện đại của các ngân hàng trên thế giới và trong khu vực.
12
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG
TẠI CHI NHÁNH NHCT BÌNH XUYÊN
2.1. VÀI NÉT VỀ CHI NHÁNH NHCT BÌNH XUYÊN
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển tại chi nhánh NHCT Bình Xuyên
Chi nhánh cấp 2 Ngân hàng Công thương (NHCT) Bình Xuyên thành lập và
đi vào hoạt động từ tháng 10 năm 2002. Đến năm 2007 chi nhánh được nâng cấp
lên thành chi nhánh cấp 1. Sau 9 năm hoạt động, chi nhánh NHCT Bình Xuyên đã
không ngừng phát triển về quy mô, mạng lưới, đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ
ngân hàng với chất lượng cao, tạo vị thế vững chắc của một trong số các Ngân hàng
thương mại (NHTM) nhà nước lớn mạnh nhất trên địa bàn. Với hiệu quả cao trong
hoạt động kinh doanh, chi nhánh NHCT Bình Xuyên có nhiều thuận lợi trong việc
thực hiện chính sách chăm sóc khách hàng, không ngừng tăng thêm các lợi ích, tiện
ích cho khách hàng thông qua các hình thức huy động vốn với lãi suất linh hoạt, hấp
dẫn. Bên cạnh đó ngân hàng còn là một trong những đơn vị luôn đi đầu trong phát
triển và ứng dụng công nghệ hiện đại và đến nay đã hoàn thành chương trình hiện
đại hóa theo chuẩn mực quốc tế dưới sự tài trợ của Ngân hàng Thế giới – World
Bank. Ngoài các sản phẩm dịch vụ ngân hàng truyền thống như: huy động vốn, cho
vay nền kinh tế, mở tài khoản… chi nhánh NHCT Bình Xuyên còn cung cấp các
dịch vụ mới với chất lượng cao như: thanh toán quốc tế, chi trả kiều hối nhanh gọn,
quỹ
Phòng kế
toán giao
dịch
Phòng
Khách
hàng
Doanh
nghiệp
Phòng tổ
chức
hành
chính
Phòng
giao dịch
Hương
Canh
Phòng
giao dịch
Yên Lạc
Phòng
giao dịch
Tiền Châu
Phòng
giao dịch
Gia
Khánh
Phòng giao
dịch Liên
Bảo
đầu tư xây dựng cơ bản của Nhà nước và NHCTVN.
Quản lý và sử dụng xe ô tô, sử dụng điện , điện thoại và các trang thiết bị của
chi nhánh. Định kỳ bảo dưỡng và khám xe ô tô theo quy định, đảm bảo lái xe an
toàn. Là đầu mối xây dựng nội quy quản lý, sử dụng trang thiết bị tại chi nhánh.
Tổ chức công tác văn thư, lưu trữ, quản lý hồ sơ cán bộ theo đúng quy định
của Nhà nước và Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam. Đánh máy, in ấn tài
liệu của cơ quan đã được ban giám đốc duyệt. Cung cấp tài liệu lưu trữ cho ban
Giám đốc và các phòng khi cần thiết theo đúng quy định về bảo mật, quản lý an
toàn hồ sơ cán bộ.
Tổ chức thực hiện công tác y tế tại chi nhánh.
15
Chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết để hội họp, hội thảo, sơ kết, tổng kết… và
Ban giám đốc tiếp khách.
Thực hiện nhiệm vụ thủ quỹ các khoản chi tiêu nội bộ cơ quan.
Tổ chức công tác bảo vệ an toàn cơ quan: Phối hợp với các phòng Kế toán
giao dịch, Tiền tệ kho quỹ bảo vệ công tác vận chuyển hàng đặc biệt; phòng cháy
nổ: chống bão lụt theo đúng quy định của ngành và các cơ quan chức năng.
Lập báo cáo thuộc phạm vi trách nhiệm của phòng.
Thực hiện một số công việc khác do Giám đốc giao.
- Phòng tiền tệ -kho quỹ:
+ Kiểm tra thực thu, thực chi theo chứng từ kế toán
+ Cân đối thanh khoản, điều chỉnh vốn
+ Kinh doanh vàng, bạc, đá quý và thu đổi ngoại tệ
+ Chịu trách nhiệm bảo quản tiền, vàng, ấn chỉ quan trọng và toàn bộ hồ sơ
thế chấp, cầm cố của khách hàng cho vay.
+ Đào tạo, huấn luyện các giao dịch viên trong nghiệp vụ ngân quỹ và phục
vụ khách hàng.
+ Một số nghiệp vụ có kiên quan khác.
- Phòng kế toán:
Trực tiếp hạch toán kế toán, theo dõi, phản ánh hoạt động sản xuất kinh
được Chính phủ xử lý; là đầu mối khai thác và xử lý tài sản bảo đảm tiền vay theo
quy định của Nhà nước nhằm thu hồi nợ xấu.
- Các phòng giao dịch:
Thực hiện các giao dịch trực tiếp với khách hàng; Các nghiệp vụ và cung cấp các
dịch vụ ngân hàng liên quan đến nghiệp vụ thanh toán, xử lý hạch toán các giao dịch. Thực
hiện nhiệm vụ tư vấn cho khách hàng về sử dụng các sản phẩm Ngân hàng để khai thác
vốn bằng VNĐ và ngoại tệ; thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tín dụng, quản lý các
sản phẩm tín dụng phù hợp với chế độ, thể lệ hiện hành và hướng dẫn của Ngân hàng
TMCP Công thương Việt Nam. Trực tiếp quảng cáo, giới thiệu, tiếp thị các sản phẩm dịch
vụ ngân hàng cho các khách hàng là các cá nhân, các tổ chức.
2.1.2. Kết quả kinh doanh của Ngân hàng trong ba năm
Bảng 1: Kết quả hoạt động kinh doanh
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chỉ tiêu
Năm
2008
Năm
2009
Năm
2010
Chênh lệch
2009/2008
Chênh lệch
2010/2009
Số tiền % Số tiền %
Tổng Doanh thu 29,815 48,688 149,132 18,873 63.30 100,444 206.30
Tổng Chi phí 21,935 34,412 79,053 12,477 56.88 44,641 129.73
Lợi nhuận trước thuế 7,880 14,276 70,079 6,396 81.17 55,803 390.89
Lợi nhuận sau thuế 5,748 10,343 50,654 4,595 79.94 40,311 389.74
(Nguồn: Trích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh NHCT Bình Xuyên trong 3
ngày càng phát triển hơn với những thành tựu đạt được rất khả quan, đời sống của
người dân cũng theo đó ngày càng được nâng cao, nên nhu cầu về vốn ngày càng
lớn trên thị trường kinh tế và lượng tiền nhàn rỗi ngày càng nhiều trong xã hội đã
đóng góp một phần quan trọng cho sự phát triển và hiệu quả kinh doanh cao của
Ngân hàng; bên cạnh những nguyên nhân đó là sự nổ lực phấn đấu của cả tập thể
ngân hàng, cùng với sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của các cấp lãnh đạo trong hoạt
động kinh doanh, mở rộng đầu tư nhằm tối đa hóa lợi nhuận của Ngân hàng.
Để đánh giá về kết quả kinh doanh của Ngân hàng, bên cạnh việc xem xét tốc độ
tăng trưởng của doanh thu và lợi nhuận, chúng ta cũng nên đề cập đến 1 chỉ tiêu
khác đó là chỉ tiêu về doanh lợi tiêu thụ của ngân hàng vì chỉ số này cho chúng ta
biết được trong một trăm đồng tổng doanh thu thu về thì Ngân hàng có được bao
nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.
Bảng 2: Doanh lợi tiêu thụ
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Lợi nhuận sau thuế 5,748 10,343 50,654
Doanh thu thuần 29,815 48,688 149,132
Lợi nhuận / Doanh thu (%) 19.28 21.24 33.97
(Nguồn: Trích Báo cáo kết quả hoạt động kinh của chi nhánh NHCT Bình Xuyên )
Vì doanh thu và lợi nhuận của Ngân hàng tăng hàng năm nên tỷ suất sinh lợi trên doanh
thu cũng có xu hướng tăng hàng năm. Nhìn vảo bảng 2 ta thấy cụ thể như sau:
Năm 2008 tỷ suất này là 19.28% (tức là trong 100 đồng doanh thu thu về Ngân
hàng có được 19.28 đồng lợi nhuận sau thuế) thì đến năm 2009 con số này tăng lên
thành 21.24% tức tăng 1.96% (tức là vào năm 2006 trong 100 đồng doanh thu thì
lợi nhuận sau thuế là 21.24 đồng), con số này tăng tuy không cao nhưng cũng đã
phần nào cho thấy được sự tăng trưởng hiệu quả trong kinh doanh của Ngân hàng.
Sang năm 2010 thì tỷ suất lợi nhuận của ngân hàng tăng lên đến 33.97%, tức tăng
hơn 10% so với năm 2009, có nghĩa là lợi nhuận có được sau thuế trong 100 đồng
doanh thu thu về của Ngân hàng tăng lên hơn 10 đồng so với năm 2009; điều này
chứng tỏ tình hình hoạt động của Ngân hàng đã có bước phát triển cao trong năm
Tiền gửi của tổ chức tín dụng khác 143 484 560 341 238.46 76 15.70
Tiền gửi có kỳ hạn 100,868 218,653 924,074 117,785 116.77 705,421 322.62
1. Tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng 61,561 169,099 791,176 107,538 174.69 622,077 367.88
Dưới 12 tháng của khách hàng 0 440 70,317 440 69,877 15881.14
Dưới 12 tháng 57,261 04,259 156,659 46,998 82.08 52,400 50.26
Dưới 12 tháng của tổ chức tín dụng khác 4,300 64,400 564,200 60,100 1397.67 499,800 776.09
2. Tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng 39,307 49,554 132,898 10,247 26.07 83,344 168.19
Trên 12 tháng của khách hàng 0 2,000 2,000 2,000 0 0
Trên 12 tháng 39,307 47,554 70,898 8,247 20.98 23,344 49.09
Trên 12 tháng của các tổ chức tín dụng
khác
0 0 60,000 0 60,000
Ký quỹ bảo lãnh 152 0 152
Tổng 108,282 234,327 953,474 126,045 116.40 719,147 306.90
(Nguồn: Phòng kế hoạch chi nhánh NHCT Bình Xuyên )
Nhìn vào bảng số liệu ở bảng 3 ta thấy nguồn vốn huy động của chi nhánh
NHCT Bình Xuyên tăng trưởng cao qua từng năm. Cụ thể:
- Năm 2008 tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng là 108,282 triệu đồng,
đến năm 2009 tổng nguồn vốn này tăng lên 234,327 triệu đồng tức tăng 126,045
triệu đồng so với năm 2008 với tốc độ tăng là 116.4%. Trong đó huy động từ tiền
20
gửi không kỳ hạn tăng 8,260 triệu đồng (111.41%), huy động từ tiền gửi có kỳ hạn
dưới 12 tháng tăng 107,538 triệu đồng và số tiền huy động từ tiền gửi tiết kiện có kỳ
hạn trên 12 tháng tăng 10,247 triệu đồng; và trong số các loại tiền gửi này thì tiền
gửi của các tổ chức tín dụng có thời hạn dưới 12 tháng tăng cao nhất – tăng 60,100
triệu đồng từ 4,300 triệu đồng năm 2005 lên đến 64,400 triệu đồng năm 2006 với
tốc độ rất cao 1397.67%.
- Năm 2010 tổng nguồn vốn huy động được của Ngân hàng tiếp tục được
tăng cao tăng lên 306.9% từ 234,327 triệu đồng lên đến 953,474 triệu đồng, tăng
thêm 719,147 triệu đồng; trong đó tốc độ tăng của các loại tiền gửi lần lượt là: tiền
tiền gửi không kỳ hạn chỉ chiếm 6.85% tổng nguồn vốn huy động được trong năm,
còn lại là tiền gửi có kỳ hạn.
- Năm 2009, số tiền Ngân hàng huy động được từ tiền gửi có kỳ hạn tiếp tục
chiếm tỷ trọng cao (93.31%), cao hơn tỷ trọng của nguồn vốn huy động từ tiền gửi
không kỳ hạn rất nhiều.
- Năm 2010 cơ cấu này vẫn không thay đổi tuy tỷ trọng có sự tăng giảm; tiền
gửi không kỳ hạn giảm xuống còn 3.07%, tiền gửi có kỳ hạn tăng lên 96.92% ngoài
ra còn có sự góp mặt của nguồn vốn huy động từ loại hình ký quỹ bảo lãnh tuy
không đáng kể chỉ chiếm có 0.01% tổng nguồn vốn huy động trong năm.
Như vậy từ năm 2008 đến 2010, qua số liệu từ thực tế ta thấy được rằng khả
năng huy động của Ngân hàng qua từng năm đã đạt hiệu quả cao cho thấy uy tín của
chi nhánh NHCT Bình Xuyên đã tạo nên sự tin tưởng cho khách hàng, tạo nên cơ sở
vững chắc cho việc huy động vốn phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của
tỉnh, có được kết quả này là do một số nguyên nhân sau:
- Từ khi được nâng cấp lên chi nhánh cấp 1, Ngân hàng ngày càng mở rộng mạng
lưới hoạt động, mở thêm các phòng giao dịch, nâng cấp các điểm giao dịch khang
trang hơn, có thái độ và phong cách phục vụ chuyên nghiệp vừa để tiếp thị cho
Ngân hàng vừa để tạo thêm nhiều điều kiện thuận lợi cho khách hàng; Ngân hàng
đã thực hiện việc quảng bá và tiếp thị rộng rãi hình ảnh của mình trong và ngoài
tỉnh. Bên cạnh đó, Ngân hàng còn thực hiện các chính sách đối với khách hàng là
các tổ chức kinh tế nhằm duy trì được khách hàng là các tổ chức kinh tế có lượng
tiền gửi cao và ổn định; Thu hút khách hàng cá nhân gửi tiền tiết kiệm bằng uy tín
và sự chuyên nghiệp của Ngân hàng và thực hiện đồng thời với lãi suất ưu đãi.
2.2.2. Tình hình sử dụng vốn
Song song với công tác huy động vốn thì nghiệp vụ sử dụng vốn có vai trò
hết sức quan trọng trong quá trình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, nếu coi
như huy động vốn là điều kiện cần thì sử dụng vốn được coi là điều kiện đủ, quyết
định đến sự sống còn của Ngân hàng. Ngân hàng huy động vốn để cho vay nên nếu
huy động vốn được nhiều mà không cho vay thì dẫn đến hậu quả "ách tắc vốn"
22