TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
TẠI NGÂN HÀNG Á CHÂU – CHI NHÁNH NGÔ GIA TỰ
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG Á CHÂU
VÀ CHI NHÁNH NGÔ GIA TỰ
1.1 GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG Á CHÂU:
1.1.1Qúa trình hình thành và phát triển:
1.1.1.1 Lịch sử thành lập:
Bối cảnh thành lập:
Pháp lệnh về Ngân hàng Nhà nước và pháp lệnh về NHTM, hợp tác xã tín
dụng và công ty tài chính được ban hành vào tháng 5/1990, đã tạo dựng một khung
pháp ký cho hoạt động NHTM tại Việt Nam. Trong bối cảnh đó, NHTM Á CHÂU đã
được thành lập theo Giấy phép số 0032/NH-GP do NHNN cấp ngày 24/04/1993, Giấy
phép số 533/GP-UP do Ủy ban Nhân dân TP.Hồ Chí Minh cấp ngày 13/05/1993.
Ngày 04/06/1993, ACB chính thức đi vào hoạt động.
Tên gọi : Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu.
Tên giao dịch quốc tế : Asia Commercial Bank
Tên viết tắt : ACB
Trụ sở chính : 442 Nguyễn Thị Minh Khai, Q.3, Tp.Hồ Chí Minh.
Điện thoại : (84.8) 929 0999
Website : www.acb.com.vn
Logo :
Vốn điều lệ : 2.630.059.960.000 (12/12/2007)
Tầm nhìn:
GVHD: Th.S NGUYỄN QUỐC ANH
SVTH : NGŨ VẠN ĐĂNG
1
TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
TẠI NGÂN HÀNG Á CHÂU – CHI NHÁNH NGÔ GIA TỰ
Ngay từ ngày đầu hoạt động, ACB đã xác định tầm nhìn là trở thành
NHTMCP bán lẻ hàng đầu Việt Nam. Trong bối cảnh kinh tế xã hội Việt Nam vào
thời điểm đó “ Ngân hàng bán lẻ với khách hàng mục tiêu là khách hàng cá nhân,
Đa dạng hóa:
Đa dạng hóa là một chiến lược tăng trưởng khác mà ACB quan tâm thực hiện.
ACB đã có Công ty TNHH Chứng Khoán ACB(ACBS), Công ty Quản lý nợ và Khai
thác tài sản ACB(ACBA), Công ty Cho thuê tài chính Ngân hàng Á Châu(ACBL) và
đang thành lập Công ty Quản lý quỹ. Với vị thế cạnh tranh đã được thiết lập khá vững
chắc trên thị trường, trong thời gian sắp tới, ACB có thề xem xét thực hiện chiến lược
đa dạng hóa tập trung để từng bước trở thành nhà cung cấp dịch vụ tài chính toàn diện
thông qua các hoạt động sau đây:
Cung cấp và tăng cường quan hệ hợp tác với các công ty bảo hiểm để
phối hợp cung cấp các giải pháp tài chính cho khách hàng.
Nghiên cứu thành lập công ty thẻ (phát triển từ trung tâm thẻ hiện
nay), công ty tài trợ mua xe.
Nghiên cứu khả năng thực hiện hoạt động dịch vụ ngân hàng đầu tư.
1.1.1.2 Phát triển:
Ngành nghề kinh doanh:
Huy động vốn ngắn, trung và dài hạn theo các hình thức tiền gửi tiết
kiệm, tiền gửi thanh toán, chứng chỉ tiền gửi, tiếp nhận vốn ủy thác đầu tư; nhận vốn
từ các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước, cho vay ngắn, trung và dài hạn; chiết
khấu thương phiếu, công trái và giấy tờ có giá; đầu tư vào chứng khoán và các tổ
chức kinh tế; làm dịch vụ thanh toán giữa các khách hàng; kinh doang ngoại tệ, vàng
bạc; thanh toán quốc tế,môi giới và tư vấn đầu tư chứng khoán; lưu ký, tư vấn tài
GVHD: Th.S NGUYỄN QUỐC ANH
SVTH : NGŨ VẠN ĐĂNG
3
TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
TẠI NGÂN HÀNG Á CHÂU – CHI NHÁNH NGÔ GIA TỰ
chính doanh nghiệp và bảo lãnh phát hành; cung cấp các dịch vụ về đầu tư,quản lý nợ
và khai thác tài sản, cho thuê tài chính và các dịch vụ ngân hàng khác.
Các cột mốc đáng ghi nhớ:
Năm 1996: ACB là ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên của Việt
Năm 2003: ACB xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn
ISO 9001: 2000 và được công nhận đạt tiêu chuẩn trong lĩnh vực (i) huy động vốn,
(ii) cho vay ngắn hạn và trung dài hạn,(iii) thanh toán quốc tế và (iv) cung ứng nguồn
lực tại Hội Sở.
Năm 2005: ACB và Ngân hàng Standard Charterd (SCB) ký kết thỏa
thuận hỗ trợ kỹ thuật toàn diện; và SCB trở thành cổ đông chiến lược của ACB. ACB
triển khai giai đoạn hai của chương trình hiện đại hóa công nghệ ngân hàng, bao gồm
các cấu phần (i) nâng cấp máy chủ, (ii) thay thế phần mềm xử lý giao dịch thẻ ngân
hàng bằng một phần mềm mới có khả năng tích hợp với nền công nghệ lõi hiện nay,
và (iii) lắp đặt hệ thống máy ATM.
Ngày 21/11/2006, cổ phiếu ACB chính thức giao dịch tại Trung tâm
Giao dịch chứng khoán Hà Nội.
Thành tích và sự công nhận:
Với tầm nhìn và chiến lược đúng đắn, chính xác trong đầu tư công nghệ
và nguồn nhân lực, nhạy bén trong điều hành và tinh thần đoàn kết nội bộ, trong điều
kiện ngành ngân hàng có những bước phát triển của nền kinh tế Việt Nam, ACB đã
có những bước phát triển nhanh và ổn định, an toàn và hiệu quả. Vốn điều lệ của
ACB ban đầu là 20 tỷ đồng, đến ngày 30/9/2007 đã đạt trên 2.530 tỷ đồng, tăng hơn
126,5 lần so với ngày thành lập. Tổng tài sản năm 1994 là 164 tỷ đồng, tính đến thời
điểm 30/09/2007 đạt 25.376 tỷ đồng, tăng 154,7 lần. Lợi nhuận trước thuế cuối năm
1994 là 7,4 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đầu năm 2007 là 1.253 tỷ đồng.
GVHD: Th.S NGUYỄN QUỐC ANH
SVTH : NGŨ VẠN ĐĂNG
5
TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
TẠI NGÂN HÀNG Á CHÂU – CHI NHÁNH NGÔ GIA TỰ
ACB với hơn 200 sản phẩm dịch vụ được khách hàng đánh giá là một
trong các ngân hàng cung cấp sản phẩm dịch vụ ngân hàng phong phú nhất, dựa trên
nền công nghệ thông tin hiện đại. ACB vừa tăng trưởng nhanh vừa thực hiện quản lý
rủi ro hiệu quả. Trong môi trường kinh doanh nhiều khó khăn thử thách, ACB luôn
thiểu là 8% được quy định trong Thỏa ước Basel II của Ngân hàng thanh toán Quốc
tế(BIS – Bank for international Settlements) mà NHNN áp dụng. Đặc biệt là tỷ lệ nợ
xấu trong những năm qua luôn dưới 1%, cho thấy tính chất an toàn và hiệu quả của
ACB.
Nhìn nhận và đánh giá của các định chế tài chính quốc tế và cơ quan
thông tấn tài chính ngân hàng:
Năm 1997,ACB được tạp chí Euromoney chọn là Ngân hàng tốt nhất
Việt Nam.
Trong 04 năm liền 1997 – 2000, ACB được tổ chức chuyển tiền nhanh
Western Union chọn là Đại lý tốt nhất khu vực Châu á.
Năm 1998, ACB được chọn triển khai Chương trình Tài trợ các doanh
nghiệp vừa và nhỏ(SMEDF) do liên minh Châu Âu tài trợ.
Năm 1999, ACB được tạp chí Global Finance(Hoa Kỳ) chọn là Ngân
hàng tốt nhất Việt Nam.
Năm 2001 và 2002, chỉ có ACB lá NHTMCP hội đủ điều kiện để cơ
quan định mức tín nhiệm Fitch Ratings đánh giá xếp hạng.
Năm 2002, ACB được chọn triển khai Dự án tài trợ các doanh nghiệp
nhỏ và vừa(SMEFP) do Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản(JBIC) tài trợ.
GVHD: Th.S NGUYỄN QUỐC ANH
SVTH : NGŨ VẠN ĐĂNG
7
TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
TẠI NGÂN HÀNG Á CHÂU – CHI NHÁNH NGÔ GIA TỰ
Năm 2003, ACB đoạt được Giải thưởng Chất lượng Châu Á Thái bình
Dương hạng xuất sắc của Tổ chức Chất lượng Châu Á Thái Bình Dương(APQO).
Đây là lần đầu tiên một tổ chức tài chính của Việt Nam nhận được giải thưởng này.
Năm 2005, ACB được tạp chí The Banker thuộc Tập đoàn Finance
Times, Anh Quốc, bình chọn là Ngân hàng tốt nhất Việt Nam(Bank of the year) năm
2005.
Năm 2006, ACB được tổ chức The Asian Banker chọn là Ngân hàng
8
TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
TẠI NGÂN HÀNG Á CHÂU – CHI NHÁNH NGÔ GIA TỰ
Sơ đồ tổ chức của ACB đến ngày 15/10/2007
`
1.1.4 Mục tiêu cho năm 2008:
GVHD: Th.S NGUYỄN QUỐC ANH
SVTH : NGŨ VẠN ĐĂNG
9
Đại hội đồng
cổ đông
Hội đồng quản trị
Ban kiểm soát
Tổng giám đốc
Văn phòng HĐQT
Ban kiểm soát nội bộ
KH
CN
Các hội đồng
KHDN NQ
PTKD GSĐH
QT
NL
CN
TT
P.thẩm định
giá TS
P.đầu tư Ban đảm bảo
chất lượng
lớn nhất nước, với mật độ dân cư dày đặt và nhiều tổ chức kinh tế, tạo ra nhiều
thuận lợi cho hoạt động ngân hàng và cũng sẽ rất khó khăn khi nơi này luôn
thu hút nhiều ngân hàng, tao ra sự cạnh tranh gây gắt trên thị trường tài chính
tại Thành phố Hồ Chí Minh. Chi nhánh Ngô gia tự là một trong 30 chi nhánh
của Ngân hàng Á Châu tại thành phố Hồ Chí Minh, được thành lập vào tháng
10/2007, tại địa chỉ 90 – 92 Ngô gia tự - quận 10. Mới đi vào hoạt động nên
chi nhánh còn gặp nhiều khó khăn nhưng với chỉ đạo tận tình của Ban Giám
GVHD: Th.S NGUYỄN QUỐC ANH
SVTH : NGŨ VẠN ĐĂNG
10
TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
TẠI NGÂN HÀNG Á CHÂU – CHI NHÁNH NGÔ GIA TỰ
đốc và sự đồng lòng của toàn thể nhân viên, chi nhánh đã cố gắng thực hiện
ngay và nhanh chóng các mục tiêu của hội sở giao, và ngày càng tạo ra sự thân
thiện, quen thuộc trong lòng khách hàng.
1.2.2 Cơ cấu tổ chức tại chi nhánh:
Sơ đồ chi nhánh Ngô gia tự:
- Giám đốc Chi nhánh: là người điều hành mọi hoạt động kinh doanh tại Chi
nhánh; là Trưởng ban tín dụng Chi nhánh.
Thực hiện chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh hàng năm do Tổng giám đốc
giao.Chịu trách nhiệm quản lý và phát triển nguốn nhân lực của Chi nhánh.
Lập kế hoạch đào tạo và cử đi học nghiệp vụ, sản phẩm, dịch vụ tín dụng
cho nhân viên.
Đề xuất, thực hiện và quản lý các kế hoạch về nguồn lực và ngân sách
hoạt động hàng năm của chi nhánh. Nghiên cứu, đề xuất và thực hiện mở
GVHD: Th.S NGUYỄN QUỐC ANH
SVTH : NGŨ VẠN ĐĂNG
PGĐ
Trần
hoài
quy trình nghiệp vụ của ACB.
Nghiên cứu, tìm hiểu nhu cầu khách hàng và sản phẩm dịch vụ của các
ngân hàng cạnh tranh nhằm xác định mục tiêu, kế hoạch phát triển sản
phẩm dịch vụ cho các đơn vị kinh doanh.
Đàm phán, ký kết và thực hiện các hợp đồng với các khách hàng của các
đơn vị kinh doanh.
Tổ chức bộ máy thực hiện cung ứng các sản phẩm và dịch vụ cho khách
hàng.
Tiếp nhận và xử lý các thông tin phản hồi từ phía khách hàng về chất
lượng sản phẩm dịch vụ.
Tổ chức giới thiệu, quảng bá sản phẩm dịch vụ ACB.
Tham gia đào tạo và tập huấn nghiệp vụ cho nhân viên mới.
GVHD: Th.S NGUYỄN QUỐC ANH
SVTH : NGŨ VẠN ĐĂNG
12
TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
TẠI NGÂN HÀNG Á CHÂU – CHI NHÁNH NGÔ GIA TỰ
Góp ý, đề xuất cải tiến sản phẩm dịch vụ của ACB phù hợp với định
hướng khách hàng.
Thực hiện các thông báo, chỉ thị của các cấp có thẩm quyền liên quan đến
quy trình, nghiệp vụ và công việc của Phòng.
-Phòng giao dịch ngân quỹ: Thực hiện công việc hướng dẫn khách hàng mở tài
khoản, tiếp nhận các giao dịch về tiền gửi, các dịch chi trả kiều hối. Thực hiện giải
ngân tiền vay khi hồ sơ khách hàng thông qua.
-Phòng kiểm soát nôi bộ, thanh toán quốc tế, pháp lý chứng từ và quản lý
tài sản:
Xây dựng, triển khai thực hiện kế hoạch kiểm tra, kiểm toán nội bộ định
kỳ hàng năm và bất thường.
Kiểm tra tính tuân thủ các quy định về nguyên tắc, quy trình nghiệp vụ,
thủ tục quản lý của toàn bộ cũng như của từng khâu công việc của từng bộ phận trong
Tiêu chí phân loại doanh nghiệp là vừa và nhỏ ở các nước là không giống
nhau. Một số nước chỉ dựa trên tiêu chí duy nhất là số lao động (nhỏ hơn hoặc bằng
250 người). Có nước lại căn cứ vào mức doanh thu hàng năm. Một số khác đặt ra các
tiêu chí khác nhau cho các ngành công nghiệp khác nhau.
Ở nước ta Nghị định số 90/2001/NÐ-CPcủa Chính phủ ngày 23 tháng 11 năm
2001 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, tại Điều 3 của Nghị định
này định nghĩa như sau:
Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký
kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số
lao động trung bình hàng năm không quá 300 người.
GVHD: Th.S NGUYỄN QUỐC ANH
SVTH : NGŨ VẠN ĐĂNG
14
TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
TẠI NGÂN HÀNG Á CHÂU – CHI NHÁNH NGÔ GIA TỰ
Căn cứ vào tình hình kinh tế - xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong quá
trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng
thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên.
Và theo điều 4 của nghị định này các đối tượng áp dụng là:
- Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.
- Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước.
- Các hợp tác xã thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã.
- Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày03
tháng 02 năm 2000 của Chính phủ về Đăng ký kinh doanh.
2.1.2 Các DNNVV ở Việt Nam:
Ở Việt Nam các DNNVV được chia làm 3 nhóm như sau:
1. Doanh nghiệp Siêu nhỏ: Gồm không quá 9 nhân công.
2. Doanh nghiệp Nhỏ: Gồm không quá 49 nhân công.
3. Doanh nghiệp Vừa: Gồm không quá 299 nhân công.
GVHD: Th.S NGUYỄN QUỐC ANH
2007 58.908 1 8404 50.504
Tổng số
266.323 97 9.880
256.347
(Nguồn: Trung tâm Thông tin Doanh nghiệp (Cục Phát triển DNNVV-Bộ Kế hoạch và
Đầu tư, 2008)
•
(BẢNG 4)Phân bố doanh nghiệp và DNNVV theo vùng và lãnh thổ (năm
2002)
GVHD: Th.S NGUYỄN QUỐC ANH
SVTH : NGŨ VẠN ĐĂNG
16
TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
TẠI NGÂN HÀNG Á CHÂU – CHI NHÁNH NGÔ GIA TỰ
Quy mô Tổng số
Đồng
bằng
sông
Hồng
Đông
Bắc Tây bắc
Duyên
hải bắc
Trung Bộ
Duyên
hải Nam
Trung
Bộ
Tây
10,889 3,056 992 186 954 944 353 3,431
770
% doanh
nghiệp quy
mô vừa
0.39 0.41 0.46 0.28 0.42 0.32 0.72
0.15
>= 300
2,471 626 194 19 93 205 114 954
141
% doanh
nghiệp lớn
0.08 0.08 0.05 0.03 0.09 0.10 0.20
0.03
(Nguồn: Kết quả Tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp của Tổng cục Thống
kê năm 2002 )
• (BẢNG 5)Cơ cấu nội bộ nhóm doanh nghiệp siêu nhỏ chia theo quy mô
Số cơ sở
Tỉ lệ phần trăm trên
tổng số doanh nghiệp
siêu nhỏ (%)
Tỉ lệ phần trăm trên tổng số các cơ sở kinh doanh (%)
GVHD: Th.S NGUYỄN QUỐC ANH
SVTH : NGŨ VẠN ĐĂNG
17
TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
TẠI NGÂN HÀNG Á CHÂU – CHI NHÁNH NGÔ GIA TỰ
Tổng số 2,660,439 100 97.8
Cơ sở 1
328,122,227 5,273,034 4,906,853 42,958,185 166,538,466 108,445,689
Tổng tài
sản cố
định bình
120.61 2 100 920 15,294 43,887
GVHD: Th.S NGUYỄN QUỐC ANH
SVTH : NGŨ VẠN ĐĂNG
18
TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
TẠI NGÂN HÀNG Á CHÂU – CHI NHÁNH NGÔ GIA TỰ
quân cơ
sở *
Tài sản cố
định
BQĐN
39 1 14 48 136 57
Tổng đầu
tư
mới2001(t
rđ)
92,698,894 2,065,203 3,197,707 14,390,596 47,406,966 25,638,422
Đầu tư
mới bình
quân cơ
sở*
34 0.8 65 308 4,354 10,376
Đầu tư
mới bình
quân đầu
người*
Bắc
Tây
bắc
Duyên
hải bắc
Trung
Bộ
Duyên
hải
Nam
Trung
Bộ
Tây
Nguyên
Đông
Nam Bộ
Đồng bằng
sông Cửu
Long
Tổng số
2,619,341 754,889 232,950 38,221 332,993 217,464 107,009 450,309 485,506
<= 5
2,570,243 738,986 229,948
37,862 329,366 214,092 106,048 436,891 477,050
6-9
30,880 9,014 1,976
180 2,306 2,150 643 8,696 5,915
10-49
17,741 6,641 1,023
170 1,303 1,203 314 4,582 2,505
nhà doanh nghiệp lập các công ty mới. Số lượng doanh nghiệp tư nhân, và đặc biệt là
các doanh nghiệp SME, đã tăng mạnh.Cần lưu ý là 86,5% doanh nghiệp ngoài quốc
doanh được đăng ký thành lập mới là các doanh nghiệp nhỏ và vừa(SME). Khi phân
loại theo số lao động, 99,7% là các doanh nghiệp SME, còn khi phân loại theo vốn
đăng ký thì 99,6% là các doanh nghiệp SME.
Theo số liệu thống kê về vốn đăng ký của các doanh nghiệp SME, vốn đăng ký bình
quân ở mức 0,92 tỷ đồng vào năm 2000, 2,4 tỷ đồng vào năm 2001, và 3,4 tỷ đồng
vào năm 2002. Những con số này cho thấy các doanh nghiệp SME, đặc biệt các
doanh nghiệp sản xuất, đã tăng vốn điều lệ để mở rộng hoạt động dưới hình thức đầu
tư vào nhà xưởng, trang thiết bị và vốn lưu động. Nguyên nhân có thể là việc vay vốn
ngân hàng không phải là một lựa chọn thực tế đối với các doanh nghiệp SME mới
thành lập và các doanh nghiệp này hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn vốn tự có của
mình.
Sự ra đời của khu vực kinh tế tư nhân đã thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế
Việt Nam. Như số liệu tại đồ thị 1, các doanh nghiệp tư nhân trong nước đã đóng góp
khoảng 50% GDP, trong khi các doanh nghiệp nhà nước đóng góp khoảng 40%. Khu
vực tư nhân cũng tạo thêm công ăn việc làm mặc dù với tốc độ không nhanh, trong
khi số lượng việc làm trong khu vực doanh nghiệp nhà nước vẫn giữ ở mức 3,5 triệu
người (đồ thị 2). Theo ước tính của Ban Chỉ đạo Thực hiện Luật Doanh nghiệp
(SGELI), các doanh nghiệp tư nhân mới thành lập đã tạo ra 300.000 nghìn việc làm
mới trong vòng một năm kể từ khi ban hành Luật Doanh nghiệp vào năm 2000. Quá
trình đổi mới, sắp xếp lại DNNN ước đoán sẽ giảm mạnh số lượng lao động trong
khu vực này trong tương lai. Do đó, khu vực tư nhân sẽ đóng góp đánh kể vào việc
tạo thêm việc làm. Bên cạnh đó, một khảo sát về môi trường kinh doanh do JBIC thực
hiện đã nghiên cứu tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu trong
tổng doanh thu của các doanh nghiệp sản xuất và cho
GVHD: Th.S NGUYỄN QUỐC ANH
SVTH : NGŨ VẠN ĐĂNG
21
%0
1992
1
9
93
1
9
94
1
9
95
1
9
96
1
9
97
1998
1999
2000
200
1
SOE -non SOE
( )Thousands Persons
Đồ thị 2: Số lượng lao động theo loại hình DN
Nguồn: Tổng cục thống kê (2003)
TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
TẠI NGÂN HÀNG Á CHÂU – CHI NHÁNH NGÔ GIA TỰ
thấy DNNN có tỷ trọng xuất khẩu cao hơn các doanh nghiệp tư nhân (đồ thị 3.). Kết
quả này có thể là do sự thiếu cơ hội tiếp cận các khoản tín dụng thương mại đã buộc
nhiều doanh nghiệp SME tư nhân sử dụng DNNN làm đơn vị xuất nhập khẩu ủy thác.
2.1.4 Đặc điểm của các doanh nghiệp nhỏ và vừa:
Doanh nghiệp nhỏ và vừa dễ thành lập, hoạt động có hiệu quả với chi
phí đầu tư thấp:
Để thành lập một doanh nghiệp với quy mô nhỏ và vừa chỉ cần một số vốn đầu
tư ban đầu tương đối nhỏ, mặt bằng sản xuất nhỏ hẹp, quy mô nhà xưởng không lớn.
Với ưu thế nhỏ gọn, năng động dễ quản lý, không cần nhiều vốn. Như vậy, các doanh
nghiệp nhỏ và vừa rất linh hoạt trong việc học hỏi, phát triển và tránh những thiệt hại
to lớn do môi trường khách quan tác động lên. Mặt khác, do một số doanh nghiệp nhỏ
và vừa được thành lập mang tính gia đình, bạn bè nên mỗi khi gặp hoàn cảnh khó
khăn, công nhân và chủ doanh nghiệp dễ dàng tự hạ thấp tiền lương, có tinh thần hỗ
trợ lúc gặp khó khăn. Điều đó giúp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa giảm được chi phí
cố định, tận dụng lao động để thay thế vốn bằng tiền dùng vào việc mua sắm máy
móc thiết bị và giá công lao động thấp, có thể đạt được hiểu quả kinh tế cao.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa năng động, nhạy bén và dễ thích ứng với sự thay
đổi của thị trường:
Với quy mô nhỏ, bộ máy quản lý gọn nhẹ, các SEM dễ dàng tìm kiếm và đáp
ứng những yêu cầu có hạn trong nhửng thị trường chuyên môn hóa. Mặt khác, các
SME thường có mối quan hệ trực tiếp với thị trường và người tiêu thụ nên có phản
ứng nhanh nhạy với sự biến động của thị trường. Với cơ sở vật chất kỹ thuật không
lớn, dễ dàng chuyển đổi sản xuất hoặc thu hẹp quy mô mà không gây ra những hậu
quả nặng nể cho xã hội.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa có khả năng tạo ra một lượng cung về hàng hóa và
dịch vụ đủ sức đáp ứng đầy đủ, kịp thời, với giá cả hợp lý các nhu cầu sản xuất và
GVHD: Th.S NGUYỄN QUỐC ANH
SVTH : NGŨ VẠN ĐĂNG
23
TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
TẠI NGÂN HÀNG Á CHÂU – CHI NHÁNH NGÔ GIA TỰ
tiêu dùng của xã hội. Chính nhờ tính linh hoạt, khả năng thích ứng với thị trường và
chấp nhận rủi ro của doanh nghiệp nhỏ và vừa mà loại hình doanh nghiệp này có
rủi ro tín dụng. Tuy nhiên, như đã thảo luận tại các phần trước, nhiều doanh nghiệp
SME không cung cấp thông tin tài chính đáng tin cậy. Điều này khiến cho doanh
nghiệp SME khó có thể có được các khoản vay từ ngân hàng.
Có hai giải thích cho thực trạng này là: thiếu năng lực hoặc hạch toán kế toán sai.
Trong thực tế, doanh nghiệp SME chuẩn bị ba bộ hồ sơ kế toán, một cho ngân hàng,
một cho phòng thuế và một cho chính doanh nghiệp. Tuy nhiên, cán bộ ngân hàng
hiểu rất rõ thực tế này, và đa số họ khẳng định rằng họ thường yêu cầu doanh nghiệp
xin vay vốn nộp bản sao báo cáo tài chính có dấu nhận hồ sơ của cục thuế, bởi vì các
báo cáo tài chính lập để gửi cơ quan thuế thường thể hiện kết quả hoạt động tài chính
xấu nhất. Cung cấp báo cáo tài chính có chất lượng là hết sức quan trọng đối với quá
trình xét duyệt cho vay vốn.
Trên thực tế việc chuẩn bị báo cáo tài chính đáng tin cậy và kế hoạch kinh doanh
khả thi cho hồ sơ xin vay vốn là rất khó đối với các chủ doanh nghiệp SME,
những người không có kiến thức cơ bản về tài chính.
Nhiều ngân hàng đang cố gắng tháo gỡ vấn đề này, kể cả tập trung vào các thông tin
phi tài chính. Một số ngân hàng cũng có đội chuyên gia hỗ trợ doanh nghiệp xin vay
vốn chuẩn bị tài liệu tài chính và pháp lý cần thiết cho việc đánh giá tín dụng.Do có
sự hỗ trợ của các chuyên gia trong quá trình chuẩn bị hồ sơ xin vay, hầu hết các chủ
doanh nghiệp SME cho biết họ không thuê các công ty tư vấn phát triển kinh doanh
(BDS). Thực trạng này xuất phát chủ yếu từ ý nghĩ về việc thiếu chất lượng của các
công ty tư vấn kinh doanh ở Việt Nam và phí tư vấn quá cao đối với các doanh
nghiệp SME. Mặc dù số lượng công ty tư vấn phát triển kinh doanh đang tăng, nhưng
dịch vụ của họ không phải lúc nào cũng được đảm bảo. Vấn đề nằm ở phía các doanh
nghiệp SME. Họ chưa có thói quen trả tiền cho dịch vụ (trái ngược với hàng hóa). Sự
GVHD: Th.S NGUYỄN QUỐC ANH
SVTH : NGŨ VẠN ĐĂNG
25