luận văn thạc sĩ Một số bất cập về kế toán thuế GTGT - Pdf 26

1
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
tác giả. Số liệu trong luận văn là trung thực. Nội dung của luận văn chưa được công
bố tại bất cứ công trình khoa học nào.
Hà nội, ngày tháng Năm 2013
Tác giả
Nguyễn Thị Nhạn

2
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến Cán bộ nhân viên, Thầy cô
giáo trong Khoa Sau Đại Học trường Đại học Thương Mại, đã giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại trường, để tôi có được nền tảng kiến thức
vững chắc phục vụ quá trình nghiên cứu đề tài luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ rất tận tình, chu đáo và khoa học của Cô
giáo PGS.TS. Nguyễn Phú Giang, giảng viên khoa Kế Toán – Kiểm Toán, Trường đại
học Thương mại, người trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi cũng xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ của kế toán trưởng, giám đốc,
nhân viên kế toán tại Công ty TNHH Thép Kim Sơn, Công ty cổ phần Metech,
Công ty Cổ phần môi trường quốc tế rainbow đã hỗ trợ tôi rất nhiều trong quá
trình điều tra, khảo sát, thu thập và cung cấp thông tin của đơn vị làm cơ sở cho việc
phân tích, tổng hợp và hoàn thành luận văn cao học này.
Trân trọng cảm ơn!
Hà nội, ngày tháng Năm 2013
Tác giả

Nguyễn Thị Nhạn
3
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN

2.1. Đặc điểm tổ chức hoạt động kinh doanh, tổ chức quản lý và tổ chức công
tác kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa trên địa bàn Hà Nội.
2.1.1. Tổng quan về các công ty khảo sát.
2.1.2. Đặc điểm tổ chức công tác kế toán tại các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và
vừa trên địa bàn Hà Nội.
2.2. Ảnh hưởng của nhân tố môi trường đến kế toán thuế GTGT tại các doanh
nghiệp sản xuất nhỏ và vừa trên địa bàn Hà Nội
2.3. Thực trạng kế toán thuế GTGT tại các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa
trên địa bàn Hà Nội.
2.3.1. Kế toán thuế GTGT đầu vào.
2.3.2. Kế toán thuế GTGT đầu ra phải nộp
2.3.3. Kế toán thuế GTGT giảm trừ
2.3.4. Kế toán kê khai, quyết toán thuế GTGT
2.3.5. Kế toán hoàn thuế GTGT
CHƯƠNG III: CÁC KẾT LUẬN QUA NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ
CÁC ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN KẾ TOÁN THUẾ GTGT TẠI CÁC DOANH
NGHIỆP SẢN XUẤT NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI.
3.1. Các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu thực trạng kế toán thuế GTGT
tại các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa trên địa bàn Hà Nội.
3.1.1. Về mặt lý thuyết
3.1.2. Về mặt thực tế tại các doanh nghiệp khảo sát.
3.1.2.1. Kế toán thuế GTGT
3.1.2.2. Tổ chức bộ máy quản lý.
3.1.2.3. Tổ chức công tác kế toán tại các doanh nghiệp khảo sát
5
3.2. Các dự báo triển vọng và quan điểm giải quyết vấn đề kế toán thuế GTGT
tại các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa trên địa bàn Hà Nội.
3.2.1. Dự báo triển vọng
3.2.2. Quan điểm giải quyết
3.3. Các đề xuất, kiến nghị nhằm giải quyết và hoàn thiện kế toán thuế GTGT

SXKD Sản xuất kinh doanh
QLDN Quản lí doanh nghiệp
7
PHẦN MỞ ĐẦU
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài.
Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, thuế giá trị gia tăng giúp
hệ thống chính sách thuế, sắc thuế tương đồng với Luật thuế Nhà nước và phù hợp
với thông lệ quốc tế. Kể từ khi luật thuế GTGT chính thức được thực thi, Chính
phủ và Bộ Tài chính đã ban hành các văn bản pháp quy để hướng dẫn sửa đổi bổ
sung. Thuế GTGT đã và đang từng bước được hoàn thiện, khắc phục những tồn tại
vốn có trong thời kỳ chuyển đổi và ngày một phát huy vai trò trong nền kinh tế thị
trường đầy biến động. Trong các doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng (GTGT) đầu ra
là trách nhiệm của doanh nghiệp phải nộp cho ngân sách nhà nước, thuế GTGT đầu
vào là quyền lợi được trừ hay được hoàn lại của doanh nghiệp. Vấn đề đặt ra hiện
nay là làm thế nào để Luật thuế GTGT được thực hiện theo đúng quy định đảm bảo
nguồn thu cho ngân sách nhà nước, đảm bảo quyền lợi cho các doanh nghiệp.
Những vấn đề đó phần lớn được thực hiện thông qua công tác kế toán thuế GTGT.
Kế toán là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống các công cụ quản lý kinh
tế, tài chính, có vai trò tích cực trong việc quản lý, điều hành và kiểm soát các hoạt
động kinh tế. Vì vậy kế toán có vai trò đặc biệt quan trọng không chỉ với hoạt động
tài chính của Nhà Nước, mà còn vô cùng cấp thiết và quan trọng đối với hoạt động
của doanh nghiệp. Kế toán thuế GTGT là công cụ quan trọng để thực hiện Luật thuế
mới vì nó liên quan tới tất cả các phần hành kế toán, từ việc sử dụng các chứng từ
hóa đơn đến nội dung phương pháp hạch toán, lập bảng kê và kê khai thuế hàng
tháng. Kết quả hạch toán thuế GTGT sẽ có ảnh hưởng trược tiếp đến kết quả của
các phần hành kế toán khác. Cho đến nay đã có một hệ thống văn bản pháp quy khá
đầy đủ quy định hướng dẫn hạch toán thuế GTGT. Đồng thời các quy định pháp
luật về thuế GTGT lần lượt được cập nhật, bổ sung khá đầy đủ và hoàn thiện giúp
cho người làm công tác kế toán thuế GTGT đỡ gặp phải khó khăn, vướng mắc. Tuy

song trên thực tế lại nảy sinh những bất cập , gây trở gại cho doanh nghiệp và hộ
kinh doanh.
9
Trên website . có đăng bài viết : “ Để quản lý tốt thuế Giá trị
gia tăng” ra ngày 09/07/2011 mới đưa ra một số bất cập :“Thuế giá trị gia tăng
(VAT) là sắc thuế có tỷ trọng thu cao trong tổng nguồn thu ngân sách nhà nước, kể
cả hiện tại lẫn tương lai. Vì VAT có cơ sở đánh thuế là giá trị tăng thêm của hàng
hóa dịch vụ nên có cơ sở thu vững chắc và lâu dài. Thế nhưng, hiện sắc thuế này đã
nảy sinh một số bất cập cần khắc phục”
Bài viết này đã nêu lên sự tồn tại của quá nhiều mức thuế suất và sự bất bình
đẳng trong xác định thuế giữa hai nhóm đối tượng nộp thuế theo phương pháp khâu
trừ và phương pháp trực tiếp, đồng thời đưa ra biện pháp là nên để ngân hàng bảo
lãnh khi doanh nghiệp hoàn thuế.
Hơn nữa qua khảo sát tôi nhận thấy hệ thống chứng từ, sổ sách kế toán, công
tác hạch toán, kê khai, quyết toán và hoàn thuế GTGT của một số công ty còn có
nhiều bất cập, khó khăn.
Chế độ hóa đơn chứng từ thuế GTGT ở các doanh nghiệp hiện nay còn nhiều
bất cập như: Chứng từ không hợp lệ, thiếu chữ ký của người mua hàng, thiếu địa
chỉ, mã số thuế của người bán, người mua. Trong thực tế vẫn còn nảy sinh hiện
tượng lợi dụng trong mua bán, sử dụng hóa đơn bất hợp pháp để khai man thuế
GTGT đầu vào để khấu trừ hoặc gian lận trong hoàn thuế.
Một số doanh nghiệp hiên nay kế toán vẫn xác định sai thời điểm xác định
thuế GTGT. Lập hóa đơn ở thời điểm nào thì doanh nghiệp đó phải kê khai thuế ở
thời điểm đó…
Vì vậy tôi nhận thấy việc nghiên cứu kế toán thuế GTGT để từ đó hoàn thiện
những hạn chế, tồn tại đáp ứng nhu cầu xử lý thông tin nhanh hơn, chính xác hơn,
phong phú hơn là vấn đề cấp thiết, là tất yếu của mọi doanh nghiệp muốn đứng
vững trong thời buổi cạnh tranh.
2. Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài
Với nhận thức kế toán thuế GTGT là khâu đặc biệt quan trọng trong công tác

và thông qua các phiếu điều tra, khảo sát, phỏng vấn để tìm hiểu thực trạng kế toán
thuế GTGT tại các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa trên địa bàn Hà Nội.
11
• Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu nhằm mục tiêu chủ yếu là góp phần hoàn thiện lý luận về kế
toán thuế GTGT, hoàn thiện việc hạch toán nghiệp vụ kế toán thuế GTGT. Đánh giá
thực trạng kế toán thuế GTGT tại các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa trên địa
bàn Hà Nội từ đó phát hiện những ưu, nhược điểm trong công tác kế toán thuế
GTGT tại các công ty. Đề xuất một số giải pháp khắc phục các hạn chế nhằm hoàn
thiện kế toán thuế GTGT tại các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa trên địa bàn Hà
Nội. Với những nội dung như trên tôi hi vọng qua đề tài này có thể giúp công tác kế
toán thuế GTGT tại các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa trên địa bàn Hà Nội
giải quyết được những vướng mắc và hoàn thiện hơn, giúp cho người làm kế
toán thực hiện tốt công việc nhằm đánh giá đúng hiệu quả hoạt động tại công ty
của mình.
4. Các câu hỏi được đặt ra trong nghiên cứu.
- Thuế GTGT, kế toán thuế GTGT được quy định trong luật thuế, các thông tư nghị
định, chế độ kế toán… như thế nào?
- Việc tuân thủ các quy định trong luật thuế GTGT và chế độ kế toán về thuế GTGT
tại các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa trên địa bàn Hà Nội như thế nào? có gặp
vướng mắc, khó khăn gì không?
- Cách giải quyết những khó khăn, bất cập nhằm hoàn thiện kế toán thuế GTGT tại
các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa trên địa bàn Hà Nội?
5. Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung đề tài nghiên cứu là về kế toán thuế GTGT tại một số doanh nghiệp sản
xuất nhỏ và vừa trên địa bàn Hà Nội theo quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ban hành
ngày 14/09/2006, quyết đinh 15/2006/QĐ/BTC ban hành ngày 20/03/2006 … và
một số thông tư, văn bản pháp luật có liên quan. Đề tài tập trung nghiên cứu thực
trạng thuế GTGT tại một số doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa trên địa bàn Hà Nội,
để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa về kế toán thuế GTGT trong

13
6.2. Phương pháp phân tích dữ liệu
Phương pháp phân tích chủ yếu là phương pháp tổng hợp dữ liệu. Phương
pháp này được sử dụng để tổng hợp kết quả của các câu hỏi điều tra phỏng vấn,
từ đó đưa ra những kết luận, đánh giá cụ thể phục vụ cho công tác kế toán thuế
GTGT tại công ty.
Áp dụng phương pháp điều tra phỏng vấn, khi phân tích thực hiện theo các
bước sau:
- Khảo sát tình hình kế toán thuế GTGT tại công ty thông qua các phiếu điều tra
phỏng vấn
- Thu thập các thông tin sau khi điều tra phỏng vấn do những người được khảo sát
cung cấp. Tổng hợp lại các thông tin thu thập được.
- Qua khảo sát và tài liệu thu thập được tại công ty để đưa ra các nhận xét về kế toán
thuế GTGT tại các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa trên địa bàn Hà Nội.
Trước hết, qua thời gian tìm hiểu, tôi đã tìm ra được những điểm bất cấp,
những tồn tại của các công ty, từ đó đặt ra những câu hỏi xoay quanh những tồn tại
đó để làm câu hỏi điều tra. Mỗi câu hỏi đưa ra sẽ nhằm mục đích giải đáp những
vấn đề nghiên cứu trong đề tài. Truớc khi điều tra, tôi sẽ lập một kế hoạch cụ thể và
tiến hành tại các công ty.
Kết quả điều tra sẽ được tổng hợp lại. Mỗi câu trả lời sẽ giải quyết một vấn đề
nghiên cứu và tổng hợp những câu trả lời cùng giải quyết một vấn đề thành kết quả
nghiên cứu. Sau khi tổng hợp xong, tôi sẽ tiến hành phân tích các dữ liệu đó, tìm ra
những mâu thuẫn cũng như bất cập trong lý thuyết cũng như thực tế, tìm ra những
tồn tại mà công ty chưa giải quyết được, sau đó đưa ra các giải pháp phù hợp.
7. Kết cấu luận văn
Luận văn có kết cấu gồm phần mở đầu và 3 chương:
Phần mở đầu: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Nội dung phần mở đầu là tìm ra tính cấp thiết của đề tài dựa trên hai mặt lý
thuyết và thực tế còn tồn tại những vấn đề bất cập và cần giải quyết từ đó dẫn tới lý
14

TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.1. Tổng quan về thuế GTGT
1.1.1. Khái niệm, vai trò của thuế GTGT
 Khái niệm
Thuế giá trị gia tăng có nguồn gốc từ thuế doanh thu và Pháp là nước đầu tiên
trên thế giới ban hành Luật thuế giá trị gia tăng - vào năm 1954. Thuế giá trị gia
tăng theo tiếng Pháp gọi là: Taxe Sur La Valeur Ajou tée (viết tắc là TVA), tiếng
Anh gọi là Value Added Tax (viết tắc là VAT), dịch ra tiếng Việt là thuế giá trị gia
tăng. Khai sinh từ nước Pháp, thuế giá trị gia tăng đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều
nước trên thế giới. Ngày nay, các quốc gia thuộc khối Liên minh Châu Âu, châu
Phi, châu Mỹ La Tinh và một số quốc gia Châu Á trong đó có Việt Nam đã chính
thức áp dụng thuế giá trị gia tăng. Các quốc gia khác cũng đang trong thời kỳ
nghiên cứu loại thuế này. Tính đến nay đã có khoảng 130 quốc gia áp dụng thuế giá
trị gia tăng.
Ở nước ta, tại kỳ họp lần thứ 11 Quốc hội khoá 9, Quốc hội nước ta đã thông
qua Luật thuế giá trị gia tăng và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-01-1999.
Theo quy định của Luật thuế giá trị gia tăng thì thuế giá trị gia tăng là một loại thuế
gián thu đánh trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá
trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và được nộp vào ngân sách Nhà nước
theo mức độ tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ.
Ðây là một loại thuế doanh thu đánh vào mỗi giai đoạn sản xuất, lưu thông sản
phẩm hàng hoá, từ khi còn là nguyên liệu thô sơ cho đến sản phẩm hoàn thành, và
cuối cùng là giai đoạn tiêu dùng. Chính vì vậy mà chúng ta còn gọi là thuế doanh
thu có khấu trừ số thuế đã nộp ở giai đoạn trước. Thuế giá trị gia tăng được cộng
vào giá bán hàng hoá, dịch vụ, và do người tiêu dùng chịu khi mua hàng hoá, sử
dụng dịch vụ.
16
 Vai trò của thuế giá trị gia tăng
Luật thuế doanh thu quy định doanh thu phát sinh là cơ sở để thực hiện chế độ
thu nộp thuế. Do đó Nhà nước đánh thuế trên toàn bộ doanh thu phát sinh của sản

nên tạo được nguồn thu lớn và tương đối ổn định cho ngân sách nhà nước.
Thuế tính trên giá bán hàng hoá hoặc giá dịch vụ nên không phải đi sâu xem xét,
phân tích về tính hợp lý, hợp lệ cuả các khoản chi phí, làm cho việc tổ chức quản lý
thu tương đối dễ dàng hơn các loại thuế trực thu.
Ðối với hàng xuất khẩu không những không nộp thuế giá trị gia tăng mà còn
được khấu trừ hoặc được hoàn lại số thuế giá trị gia tăng đầu vào nên có tác dụng
giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo điều kiện cho hàng
xuất khẩu có thể cạnh tranh thuận lợi trên thị trường quốc tế.
Thuế giá trị gia tăng cùng với thuế nhập khẩu làm tăng giá vốn đối với hàng
nhập khẩu, có tác dụng tích cực bảo hộ sản xuất kinh doanh hàng nội địa.
Tạo điều kiện thuận lợi cho việc chống thất thu thuế đạt hiệu quả cao. Việc khấu trừ
thuế giá trị gia tăng được thực hiện căn cứ trên hoá đơn mua vào đã thúc đẩy người
mua phải đòi hỏi người bán xuất hoá đơn, ghi doanh thu đúng với hoạt động mua
bán; khắc phục được tình trạng thông đồng giữa người mua và người bán để trốn
lậu thuế ở khâu bán lẻ thường xảy ra trốn lậu thuế. Người tiêu dùng không cần đòi hỏi
hoá đơn, vì đối với họ không còn xảy ra việc khấu trừ thuế. Tuy vậy, ở khâu bán lẻ
cuối cùng, giá trị tăng thêm thường không lớn, số thuế thu ở khâu này không nhiều.
Thuế giá trị gia tăng thường có ít thuế suất, bảo đảm sự đơn giản, rõ ràng. Với ít
thuế suất, loại thuế này mang tính trung lập, vì về cơ bản không can thiệp sâu vào
mục tiêu khuyến khính hay hạn chế sản xuất, kinh doanh dịch vụ, tiêu dùng, theo
ngành nghề cụ thể; không gây phức tạp trong việc xem xét từng mặt hàng, ngành
nghề có thuế suất chênh lệch nhau nhiều.
Nâng cao được tính tự giác trong việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người
nộp thuế. Thông thường, trong chế độ kê khai nộp thuế giá trị gia tăng, cơ quan thuế
tạo điều kiện cho cơ sở kinh doanh tự kiểm tra, tính thuế, kê khai và nộp thuế. Từ
18
đó, tạo tâm lý và cơ sở pháp lý cho đơn vị kinh doanh không phải hiệp thương, thoả
thuận về mức doanh thu, mức thuế với cơ quan thuế. Việc kiểm tra thuế giá trị gia
tăng cũng có mặt thuận lợi vì đã buộc người mua, người bán phải nộp và lưu giữ
chứng từ, hoá đơn đầy đủ nên việc thu thuế tương đối sát với hoạt động kinh doanh

- Sản phẩm là giống vật nuôi, giống cây trồng, bao gồm trứng giống, con giống, cây
giống, hạt giống, tinh dịch, phôi, vật liệu di truyền.
- Tưới, tiêu nước; cày, bừa đất; nạo vét kênh, mương nội đồng phục vụ sản xuất nông
nghiệp; dịch vụ thu hoạch sản phẩm nông nghiệp.
- Sản phẩm muối được sản xuất từ nước biển, muối mỏ tự nhiên, muối tinh, muối i-
ốt.
- Nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước do Nhà nước bán cho người đang thuê.
- Chuyển quyền sử dụng đất
- Bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm người học, bảo hiểm vật nuôi, bảo hiểm cây trồng và
tái bảo hiểm.
- Dịch vụ y tế, dịch vụ thú y, bao gồm dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, phòng bệnh
cho người và vật nuôi.
- Dịch vụ bưu chính, viễn thông công ích và In-ter-net phổ cập theo chương trình của
Chính phủ.
- Dịch vụ phục vụ công cộng về vệ sinh, thoát nước đường phố và khu dân cư; duy trì
vườn thú, vườn hoa, công viên, cây xanh đường phố, chiếu sáng công cộng; dịch vụ
tang lễ.
- Duy tu, sửa chữa, xây dựng bằng nguồn vốn đóng góp của nhân dân, vốn viện trợ
nhân đạo đối với các công trình văn hóa, nghệ thuật, công trình phục vụ công cộng,
cơ sở hạ tầng và nhà ở cho đối tượng chính sách xã hội.
- Dạy học, dạy nghề theo quy định của pháp luật.
- Phát sóng truyền thanh, truyền hình bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước
- Xuất bản, nhập khẩu, phát hành báo, tạp chí, bản tin chuyên ngành, sách chính trị,
sách giáo khoa, giáo trình, sách văn bản pháp luật, sách khoa học – kỹ thuật, sách in
20
bằng chữ dân tộc thiểu số và tranh, ảnh, áp phích tuyên truyền cổ động, kể cả dưới
dạng băng hoặc đĩa ghi tiếng, ghi hình, dữ liệu điện tử; in tiền.
- Vận chuyển hành khách công cộng bằng xe buýt, xe điện.
- Vũ khí, khí tài chuyên dùng phục vụ quốc phòng, an ninh.
1.1.3. Căn cứ tính thuế, phương pháp tính thuế

h) Đối với hoạt động kinh doanh bất động sản là giá bán bất động sản chưa có
thuế giá trị gia tăng, trừ giá chuyển quyền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất phải nộp
ngân sách nhà nước;
i) Đối với hoạt động đại lý, môi giới mua bán hàng hóa và dịch vụ hưởng hoa
hồng là tiền hoa hồng thu được từ các hoạt động này chưa có thuế giá trị gia tăng;
k) Đối với hàng hóa, dịch vụ được sử dụng chứng từ thanh toán ghi giá thanh
toán là giá đã có thuế giá trị gia tăng thì giá tính thuế được xác định theo công thức sau:
Giá chưa có thuế giá trị gia tăng =
Giá thanh toán
1 + thuế suất của hàng hóa, dịch vụ (%)
- Giá tính thuế đối với hàng hóa, dịch vụ bao gồm cả khoản phụ thu và phí thu
thêm mà cơ sở kinh doanh được hưởng.
- Giá tính thuế được xác định bằng đồng Việt Nam. Trường hợp người nộp
thuế có doanh thu bằng ngoại tệ thì phải quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá giao
dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam công bố tại thời điểm phát sinh doanh thu để xác định giá tính thuế.
Thuế suất thuế GTGT:
Nguyên tắc áp dụng thuế suất thuế GTGT (thuế suất GTGT) là áp dụng thống
nhất theo loại hàng hóa, dịch vụ ở các khâu nhập khẩu, sản xuất gia công hay kinh
doanh thương mại. Hiện hành các mức thuế suất GTGT gồm có 0%, 5 % và 10 %.
Việc quy định các mức thuế suất khác nhau thể hiện chính sách thuế điều tiết thu
nhập và hướng dẫn tiêu dùng đối với hàng hóa, dịch vụ. Thuế suất thuế GTGT đối
với hàng hóa, dịch vụ quy định cụ thể như sau:
22
1. Mức thuế suất thuế GTGT 0% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu,
vận tải quốc tế và hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng quy định tại
Điều 5 Luật thuế giá trị gia tăng khi xuất khẩu, trừ các trường hợp chuyển giao công
nghệ, chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ ra nước ngoài; dịch vụ tái bảo hiểm ra
nước ngoài; dịch vụ cấp tín dụng, chuyển nhượng vốn, dịch vụ tài chính phái sinh;
dịch vụ bưu chính, viễn thông; sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai

Trong đó:
a) Số thuế giá trị gia tăng đầu ra bằng tổng số thuế giá trị gia tăng của hàng
hoá, dịch vụ bán ra ghi trên hoá đơn giá trị gia tăng.
Thuế giá trị gia tăng ghi trên hoá đơn giá trị gia tăng bằng giá tính thuế của
hàng hoá, dịch vụ chịu thuế bán ra nhân (x) với thuế suất thuế giá trị gia tăng của
hàng hoá, dịch vụ đó.
Trường hợp sử dụng chứng từ ghi giá thanh toán là giá đã có thuế GTGT thì
thuế GTGT đầu ra được xác định bằng giá thanh toán trừ (-) giá tính thuế .
Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng tính thuế theo phương pháp khấu trừ thuế khi bán
hàng hóa, dịch vụ phải tính và thu thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ bán ra. Khi lập
hoá đơn bán hàng hóa, dịch vụ, cơ sở kinh doanh phải ghi rõ giá bán chưa có thuế,
thuế GTGT và tổng số tiền người mua phải thanh toán. Trường hợp hoá đơn chỉ ghi
giá thanh toán (trừ trường hợp được phép dùng chứng từ đặc thù), không ghi giá
24
chưa có thuế và thuế GTGT thì thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ bán ra phải tính
trên giá thanh toán ghi trên hoá đơn, chứng từ.
Cơ sở kinh doanh phải chấp hành chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo quy
định của pháp luật về kế toán, hoá đơn, chứng từ. Trường hợp hoá đơn ghi sai mức
thuế suất thuế giá trị gia tăng mà cơ sở kinh doanh chưa tự điều chỉnh, cơ quan thuế
kiểm tra, phát hiện thì xử lý như sau:
Đối với cơ sở kinh doanh bán hàng hoá, dịch vụ: Nếu thuế suất thuế GTGT
ghi trên hoá đơn cao hơn thuế suất đã được quy định tại các văn bản quy phạm pháp
luật về thuế GTGT thì phải kê khai, nộp thuế GTGT theo thuế suất đã ghi trên hoá
đơn; Nếu thuế suất thuế GTGT ghi trên hoá đơn thấp hơn thuế suất đã được quy
định tại các văn bản quy phạm pháp luật về thuế GTGT thì phải kê khai, nộp thuế
GTGT theo thuế suất thuế GTGT quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật về
thuế GTGT.
b) Thuế GTGT đầu vào bằng (=) tổng số thuế GTGT ghi trên hoá đơn GTGT
mua hàng hóa, dịch vụ (bao gồm cả tài sản cố định) dùng cho sản xuất, kinh doanh
hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT, số thuế GTGT ghi trên chứng từ nộp thuế của

doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT và không chịu thuế GTGT thì được khấu
trừ toàn bộ.
Thuế GTGT đầu vào của tài sản cố định trong các trường hợp sau đây không
được khấu trừ mà tính vào nguyên giá của tài sản cố định: tài sản cố định chuyên
dùng phục vụ sản xuất vũ khí, khí tài phục vụ quốc phòng, an ninh; tài sản cố định,
máy móc, thiết bị của các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp kinh doanh tái bảo hiểm,

Trích đoạn Thực trạng kế toán thuế GTGT tại các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa trên địa bàn Hà Nội. Về mặt lý thuyết Về mặt thực tế tại các doanh nghiệp khảo sát. Dự báo triển vọng Quan điểm giải quyết
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status