TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA QUẢN LÝ ĐÀO TẠO QUỐC TẾ
TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI: NHỮNG ẢNH HƯỞNG TỪ TƯ TƯỞNG
NHÂN TRỊ CỦA NHO GIÁO TRONG QUẢN TRỊ
KINH DOANH TẠI VIỆT NAM
HÀ NỘI- 05/2010
Khi được Trọng Cung hỏi thế nào là “nhân”, Khổng Tử nói: “Kỷ sở bất
dục, vật thi ư nhân- Điều gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác”
(sách Luận ngữ). Việc nhân trị đối với người quân tử xưa là vô cùng quan
trọng, bởi lẽ sức mạnh của một quốc gia phụ thuộc vào dân, vào những bậc
hiền tài; có yêu người và coi người như bản thân mình mới mong bình ổn xã
tắc. Có lẽ, những giá trị sâu sắc từ tư tưởng triết học này đã ảnh hưởng sâu
sắc tới nước ta cho tới tận bây giờ, nhất là trong lĩnh vực quản trị kinh
doanh- lĩnh vực “dùng người”.
Nho giáo, hay còn được gọi là Khổng giáo, là một hệ thống đạo đức,
triết lý và tôn giáo do Khổng Tử phát triển nhằm xây dựng xã hội chính trị.
Cơ sở của Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự đóng
góp của Chu Công Đán (Chu Công). Đến thời Xuân Thu, Khổng Tử- một
nhà triết học hiền tài- đã phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa và
tích cực truyền bá tư tưởng đó. Cũng chính vì lẽ đó mà người đời sau coi
ông là người sáng lập ra Nho giáo.
Nội dung cơ bản của Nho giáo là xây dựng học thuyết chính trị nhằm tổ
chức xã hội. Người được coi là quân tử trong Nho giáo là người được đào
tạo để trở thành “người cai trị kiểu mẫu”. Để trở thành người quân tử, con
người ta trước hết phải “tự đào tạo”, phải “tu thân”. Sau khi tu thân xong
phải có bồn phận ‘hành đạo”- cai trị, và kim chỉ nam cho mọi hoạt động của
người quân tử trong việc cai trị là hai phương châm: nhân trị và chính danh.
Ở đây, ta bàn sâu hơn về tư tưởng nhân trị và sự áp dụng tư tưởng này trong
quản trị kinh doanh tại Việt Nam- một trong số các nước châu Á chịu ảnh
hưởng nhiều nhất từ Nho giáo. Nước ta từ xưa đến nay đã chứng kiến bao
trong kinh doanh. “Nhân trị” thể hiện trong quản trị kinh doanh của nước ta,
nói một cách khái quát, ở chỗ trong công việc phải có sự rõ ràng trong quan
hệ giữa người làm quản trị và người được quản trị, nói một cách dễ hiểu, là
“sếp” và “nhân viên” là hai thành phần khác nhau, có địa vị cũng như quyền
lợi khác nhau trong doanh nghiệp; tuy nhiên không vì thế mà “sếp” lơ là đời
sống của “nhân viên” mà thực tế họ luôn tìm hiểu, giúp đỡ nhân viên trong
công việc cũng như tạo cơ hội cho họ phát triển năng lực; bởi suy cho cùng,
mục đích chung vẫn là kinh doanh hiệu quả, thu được lợi ích cao nhất. Hiện
nay, ở nước ta, các chủ công ty, doanh nghiệp…- những nhà quản trị kinh
doanh luôn mở rộng phạm vi tìm kiếm nhân viên; sau khi đã tìm được những
người đủ điều kiện, họ trực tiếp tham gia phỏng vấn để có cái nhìn trực quan
hơn về năng lực của những “ứng cử viên”; sau đó quyết định tuyển những
người mà họ cần và có thể tạo cơ hội cho những cá nhân chưa đủ điều kiện
nhưng có khả năng trong công việc nếu được qua đào tạo sâu hơn. Mặc dù là
một quốc gia đang phát triển, nền kinh tế có phần chậm tiến hơn so với
nhiều nước khác trong khu vực châu Á nói riêng và thế giới nói chung, việc
thành lập các công ty liên doanh, các công ty có vốn đầu tư nước ngoài…
đang chiếm tỉ lệ cao, nhưng có một thực tế rằng, làm việc tại các công ty,
doanh nghiệp…- các tổ chức kinh tế của nước ta, ít có sự phân biệt và
khoảng cách quá lớn giữa người làm quản trị và những người thuộc “cấp
dưới” của họ. Có rất nhiều ví dụ để minh họa cho điều này. Sự quan tâm lẫn
nhau không chỉ trong công việc mà còn cả trong đời sống đã thể hiện phần
nào sự ảnh hưởng của tư tưởng nhân trị trong quản trị kinh doanh của nước
ta. Ví dụ như, ngoài việc nâng cao năng lực các cá nhân, trao cơ hội và giúp
đỡ họ thể hiện khả năng hết mình trong công việc như cử họ đi học tập tại
nước ngoài, mở lớp bồi dưỡng năng lực làm việc…, các nhà quản trị còn
quan tâm đến đời sống tinh thần của mỗi nhân viên, bởi họ biết nguồn nhân
4
lực là một tài nguyên quý giá, cũng là thành phần chủ chốt trong kinh doanh.
Tại nước ta, các dịp lễ, Tết đặc biệt trong năm, nhân viên luôn nhận được