BÀI NGHIÊN CỨU GVHD: PGS.TS Lê Thị Lanh
Nhóm 4_ NH Đêm 1_K22_3 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
KHOA: NGÂN HÀNG
*
BÀI NGHIÊN CỨU
TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC VỐN ĐẾN GIÁ TRỊ CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP CHẾ BIẾN THUỶ SẢN VIỆT NAM
GVHD : PGS.TS Lê Thị Lanh
Nhóm TH : Nhóm 4_NH Đêm 1_K22_3
TPHCM, tháng 09/2013
BÀI NGHIÊN CỨU GVHD: PGS.TS Lê Thị Lanh
DANH SÁCH NHÓM
STT HỌ VÀ TÊN
1 Trần Ngọc Lan
Nhóm 4_ NH Đêm 1_K22_3 2
BÀI NGHIÊN CỨU GVHD: PGS.TS Lê Thị Lanh
2 Trần Thị Thanh Loan
3 Nguyễn Ngọc Tiệp
4 Nguyễn Thị Diệu Trang
5 Trương Tuấn Anh
6 Nguyễn Thị Quỳnh Diễm
7 Hà Thị Thanh Xuân
8 Lê Thị Thanh Hòa
9 Đỗ Thị Hoàng Linh
10 Bùi Thị Thu Hoài
11 Võ Thị Bông
MỤC LỤC
Nhóm 4_ NH Đêm 1_K22_3 3
BÀI NGHIÊN CỨU GVHD: PGS.TS Lê Thị Lanh
[26], Mollik (2005) [29], Gulnur Muradoglu và Sheeja Sivaprasad (2006) [20], Pornsit
Jiraporn và Yixin Liu (2007) [36], Walaa Wahid ElKelish (2007) [50], Andreas Stierwald
(2009) [1]).
Kết quả của những nghiên cứu này chỉ ra rằng giá trị doanh nghiệp và cấu trúc vốn là một
hàm tuyến tính, có nghĩa là độ dốc của giá trị doanh nghiệp là không đổi trong tất cả các
tỷ lệ nợ khác nhau. Có nghĩa là hàm hồi quy là giống hệt nhau trên tất cả các quan sát
trong một mẫu. Nhưng trên thực tế với mỗi tỷ lệ nợ khác nhau, nó ảnh hưởng đến giá trị
công ty khác nhau - nó có thể tác động tích cực hay tiêu cực đến giá trị công ty (Chien-
Chung Nieh, Hwey-Yun Yau, và Wen-Chiến Liu (2008) [8], Tsangyaao Chang, Kuei-Chiu
Lee, Yao-Men Yu và Chia-Hào Lee (2009) [41], Yu Shu-Cheng, Yi-Pei Liu và Chu
Dương Chiến (2010) [43]).
Việt Nam có nhiều ưu điểm vượt trội để phát triển ngành công nghiệp chế biến thủy sản.
Đây là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực, đóng góp khoảng 4% GDP của nền
kinh tế trong năm 2010. Hiện nay, sản phẩm thủy sản của Việt Nam đã được xuất khẩu
sang 155 thị trường trên thế giới, trong đó ba thị trường chính là EU, Mỹ và Nhật Bản,
chiếm 60,6% kim ngạch xuất khẩu. EU chiếm 26% thị phần xuất khẩu của Việt Nam,
Nhật Bản và Hoa Kỳ chiếm khoảng 17,8% và 16,9%. Đặc điểm của các doanh nghiệp
chế biến thủy sản của Việt Nam có quy mô nhỏ, mới được thành lập, bán thủ công lao
động, công nghệ chế biến lạc hậu. Số lượng niêm yết các doanh nghiệp trên thị trường
Nhóm 4_ NH Đêm 1_K22_3 5
BÀI NGHIÊN CỨU GVHD: PGS.TS Lê Thị Lanh
chứng khoán còn ít. Hơn nữa, ngành này khả năng sinh lời thấp, nguy cơ phá sản cao
(Cường (2010) [35]) thị trường đầu ra có nhiều rào cản, hạn chế về vốn và nhiều lý do
khác. Với doanh nghiệp có vay nợ thì lãi phải trả là lý do. Với sự gia tăng của lãi suất như
hiện nay, chi phí tài chính đã tăng đáng kể trong năm nay, dẫn đến giảm lợi nhuận của
ngành công nghiệp thủy sản trong năm 2010, nhiều doanh nghiệp đã phải đóng cửa và
tuyên bố phá sản. Từ thực tiễn trên, nghiên cứu tác động của cấu trúc vốn đến giá trị
doanh nghiệp sẽ giúp các doanh nghiệp SEA đưa ra quyết định cấu trúc vốn phù hợp. Cụ
thể, làm thế nào để sử dụng nợ một cách hợp lý, khi nào thì cần gia tăng các khoản nợ để
gia tăng giá trị doanh nghiệp, khi nào thì cần giới hạn vay nợ để giảm thiểu rủi ro, giảm
bằng cách kết hợp những lợi ích thuế doanh nghiệp như yếu tố quyết định cấu trúc vốn
của doanh nghiệp. Các tính năng chính của thuế là sự ghi nhận quan tâm là chi phí được
khấu trừ thuế. Một công ty đóng thuế nhận được một phần bù đắp từ "lá chắn thuế" trong
bản chất của việc đóng thuế thấp. Nói cách khác, giá trị công ty được tăng lên thông qua
việc sử dụng nợ trong cấu trúc vốn, do thuế
khấu trừ các khoản thanh toán lãi vay. Đây là một sự thừa nhận ngầm trong đó cấu trúc
vốn ảnh hưởng đến giá trị công ty. Do đó, Modigliani và Miller (1963) đề xuất, các công
ty nên sử dụng vốn vay càng nhiều càng tốt để tối đa hóa giá trị của họ.
Tương tự như đề xuất của Modigliani và Miller (1963), Miller (1977) đã kết hợp cả hai
loại thuế doanh nghiệp và thuế cá nhân vào mô hình của mình. Theo Miller (1977), giá trị
của công ty phụ thuộc vào mức độ tương đối của từng mức thuế suất, so với hai người
kia. Miller (1977) chỉ ra rằng mức độ tương đối của từng mức thuế suất xác định giá trị
doanh nghiệp, và đạt được từ việc sử dụng nợ có thể là nhỏ hơn so với những gì đã được
đề xuất theo Modigliani và Miller (1963). Trong một nghiên cứu gần đây, Graham (2000)
cho rằng các lợi ích về thuế vốn hóa các khoản nợ là bằng 10 phần trăm của giá trị công
ty và hình phạt thuế cá nhân làm giảm lợi ích này xuống xấp xỉ khoảng hai phần ba trước
khi có Đạo luật cải cách thuế năm 1986 và thấp hơn một chút so với một nửa trước kia
sau khi cải cách.
Những lý thuyết khác đã được cải tiến để giải thích cấu trúc vốn của công ty bao gồm
chi phí phá sản,lý thuyết đại diện, và lý thuyết xã hội. Những lý thuyết này đã được thảo
luận lần lượt.
Theo lý thuyết Cân bằng tĩnh được phát triển bởi Myers vào năm 1977. Myers (1977) cho
thấy rằng cấu trúc vốn tối ưu không tồn tại. Tối đa hóa giá trị doanh nghiệp sẽ tìm thấy
một cấu trúc vốn tối ưu bằng cách kinh doanh ra lợi ích và chi phí vay nợ. Do đó,giá
Nhóm 4_ NH Đêm 1_K22_3 7
BÀI NGHIÊN CỨU GVHD: PGS.TS Lê Thị Lanh
trịcông tysẽ là giá trị củacông tynếusử dụng vốn vaycộng với giá trịhiện tại củalá chắn
thuếtrừ đi giá trịhiện tại củachi phí phá sảnvàchi phí đại diện.
Lý thuyếttự do phân tích được đề xuất bởiMyers(1984) vàMyersvàMajluf(1984) cho thấy
rằng có mộthệ thống phân cấpưu đãiđối với cáccông tytài chính cho cáckhoản đầu tưcủa
hệ giữatổng nợvà tỷ lệlợi nhuận, kết quả cho thấymộtliên kếttích cựcđáng kểgiữatỷ lệtổng
nợtrên tổng tài sảnvà lợi nhuận trênvốn chủ sở hữu. Mallik(2005) [35], người phát hiện
rarằng có mộtmối liên hệ thuậngiữađòn bẩyvà hiệu suất.
PornsitJirapornvàYixinLiu(2007)phân tíchmối quan hệ giữa cấu trúc vốn, Staggered
Boardsvà giá trịCông ty. Kết quả nghiên cứukhông cótác động tiêu cựcđáng kể đếngiá trị
công tydođòn bẩyquá mức.WalaaWahidElKelish(2007)điều tratác động củacơ cấu tài
chínhtrêngiá trị công ty. Kết quả thực nghiệmcho thấy,tỷ suất nợtrên vốn chủ sở
hữukhông ảnh hưởng đếngiá trị công ty.
Giá trị của công ty vì vượt qua mức đòn bẩy tài chính. Walaa Wahid ElKelish (2007)
[42] tìm hiểu và nghiên cứu khía cạnh cấu trúc tài chính ảnh hưởng đến giá trị công ty.
Kết quả thực nghiện cho thấy tỉ lệ nợ không ảnh hưởng đến giá trị công ty. Chien-Chung
Nieh, Hwey-Yun Yau, và Wen-Chien Liu (2008) [8] cho thấy một hệ số nợ tối ưu. Kết
quả cho thấy các công ty ngành điện niêm yết trên thị trường chứng khoán Đài loan
không nên có tỷ lệ nợ vượt quá 51.57% và không nên nhó hơn 12.37% để đảm bảo tăng
giá trị công ty tỷ lệ nợ nên ở mức 12.37% đến 28.70%. Yu-Shu Cheng, Yi-Pei Liu and
Chu-Yang Chien (2010) [43] phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và giá trị công ty ở
Trung Quốc. Nghiên cứu này sử dụng mô hình hồi quy ngưỡng để kiểm tra tỷ lệ đòn bẩy
tài chính giữa 650 chứng khoán hạng A niêm yết trong khoảng thời gian 2001 đến 2006.
Nghiên cứu này sử dụng tỷ lệ ROE (Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu) như việc đại diện
cho giá trị công ty và tỷ lệ nợ trên tài sản như là biến ngưỡng. Kết quả thực nghiệm
khẳng định mạnh mẽ rằng có 3 ngưỡng tỷ lệ nợ ảnh hưởng đến giá trị công ty. Bên cạnh
đó mối tương quan giữ tỷ lệ nợ dưới 53.97% làm tăng giá trị công ty, mức tăng giá trị
công ty vẫn tồn tại ở tỷ lệ nợ khoảng giữa 53.97% và 70.48%. Giá trị công ty bắt đầu
giảm xuống ở ngưỡng 70.48% đến 75.26% và trên mức 75.26% mở rộng vấn đề của
nghiên cứu là tỷ lệ đòn bẩy tài chính và giá trị công ty nên ở dưới mức 70.48% là tối ưu
cho việc làm tăng giá trị công ty.
Nhóm 4_ NH Đêm 1_K22_3 9
BÀI NGHIÊN CỨU GVHD: PGS.TS Lê Thị Lanh
Tóm lại, không có một lý thuyết chung nào cho sự lựa chọn tỷ lệ nợ. Có các nhìn khác
nhau liên quan đến lựa chọn cấu trúc tài chính. Bài nghiên cứu này sử dụng mô hình hổi
it
I(q
it
≤ ) + ß’
2
x
it
I(q
it
≤ ) +
it (1)
Trong đó I là một hàm bởi vậy mô hình sẽ được nhấn mạnh như sau:
Giả sử , ) mô hình có thể viết lại như sau
y
it
= µ
i
+ ß’x
it
( ) +
it (2)
công thức trên, chúng ta biết rằng khi biến ngưỡng q
t
nhỏ hơn hoặc lớn hơn biến mẫu
chia thành 2 nhóm , .
Nhóm 4_ NH Đêm 1_K22_3 10
BÀI NGHIÊN CỨU GVHD: PGS.TS Lê Thị Lanh
Từ
1 2
biến độc lập x
= ,
i
= và
i
( ) = =
Hàm (2) – Hàm (3) ta có :
y
*
i
= ß
*
x
*
i
( ) +
*
i
trong đó y
*
i
= y
it
-
i
Nhóm 4_ NH Đêm 1_K22_3 11
BÀI NGHIÊN CỨU GVHD: PGS.TS Lê Thị Lanh
x
*
i
( ) = ( ) -
phương các lỗi được tính như sau:
(7)
Theo Chan (1993) và Hansen (1999) thì để ước tính γ, cách đơn giản nhất là tối thiểu hóa
tổng bình phương các lỗi(7). Theo đó, ước tính bình phương nhỏ nhất của γ là:
Nhóm 4_ NH Đêm 1_K22_3 12
( )
1
* * * *
ˆ
( ) ( ) ( ) ( )X X X Y
β γ γ γ γ
−
′ ′
=
* * *
ˆ
ˆ
( ) ( )e Y X
γ β γ
= −
( )
(
)
1
* * * * * * * *
1
ˆ ˆ
( ) ( ) ( ) ( ) ( ) ( ) ( )S e e Y I X X X X Y
γ γ γ γ γ γ γ
−
điểm này, tỷ số hợp lý của giả thiết không được tính như sau:
Nhóm 4_ NH Đêm 1_K22_3 13
1
ˆ
argmin ( )S
γ
γ γ
=
ˆ
( )
γ
ˆ
( )
γ
ˆ
( )
γ
ˆ ˆ
ˆ
( )
β β γ
=
* *
ˆ
ˆ ˆ
( )e e
γ
=
2 * *
1
it
e
* *
0
ˆ ˆ
( )
it it
S e e
′
=
BÀI NGHIÊN CỨU GVHD: PGS.TS Lê Thị Lanh
(12)
Phân phối tiệm cận của F
1
không chuẩn, và kiểm soát chặt việc phân phối . Hansen
(1996) đã thu thập được phân phối tiệm cận cấp 1 bằng phương pháp Boostrapping và
thấy rằng P-value đạt giá trị hiệu quả. Do đó, phân phối tiệm cận F
1
của giả thiết không
bằng việc sử dụng phương pháp Boostrapping hoàn toàn phụ thuộc vào P-value. Khi P-
value nhỏ hơn giá trị ngưỡng, giả thiết không bị bác bỏ.
3.1.4 Phân phối tiệm cận giá trị ngưỡng ước tính
Trong trường hợp có tác động của giá trị ngưỡng (β
1
≠β
2
), Chen (1993) và Hansen (1999)
đã chỉ ra rằng γ nhất quán với γ
0
(giá trị thực của γ) và phân phối tiệm cận không chuẩn.
= β
2
, dùng để kiểm định
xem giá trị ngưỡng có tồn tại hay không.
Hansen (1999) chỉ ra rằng khi giả thiết H
0
: γ = γ
0
chuẩn và gặp tiệm cận LR
1
(γ) → ,
khi n→∞, là một biến ngẫu nhiên của một phân bổ xác suất:
(14)
Nhóm 4_ NH Đêm 1_K22_3 14
0 1
1
2
ˆ
( )
ˆ
S S
F
γ
σ
−
=
2
k
χ
( )
(giá trị thực của γ) và phân phối tiệm cận thì bất chuẩn cao. Hansen
(1999) tranh cãi rằng cách tốt nhất để thiết lập độ tin cậy cho γ là thiết lập “miền không
bác bỏ” sử dụng thông số tỷ lệ hợp lý để kiểm tra γ. Khi giá trị của LR1 (γ
0
) đủ lớn để P-
value vượt ra ngoài độ tin cậy, điều đó có nghĩa rằng chúng ta đủ cơ sở để bác bỏ giả
thuyết H
0
. Điều này có nghĩa rằng giá trị γ ngưỡng ước lượng không ngang bằng với giá
trị ngưỡng thực tế γ
0
. Phương pháp kiểm tra như sau:
Bước đầu tiên là kiểm tra giả thuyết rỗng H
o
: γ = γ
0
, và khoảng ước lượng tối đa là:
Ghi chú rằng công thức thông số (1) đang kiểm tra một giả thuyết khác biệt từ công thức
thông số (12) đã được giới thiệu ở phần trước. LR1 (γ
0
) đang kiểm tra giả thuyết H
0
: γ =
γ
0
. Nói cách khác khác, nó dùng để kiểm tra liệu ngưỡng giá trị ước lượng có ngang bằng
với ngưỡng giá trị thật. Trong khi F1 thì để kiểm tra liệu giả thuyết H
0
: β1 = β2. Nói cách
khác, nó được dùng để kiểm tra liệu tác động ngưỡng có tồn tại hay không. Hansen
BÀI NGHIÊN CỨU GVHD: PGS.TS Lê Thị Lanh
Khi giá trị ngưỡng γ 1= γ2 . Có thể mở rộng phương pháp của mô hình hai ngưỡng
thành mô hình nhiều ngưỡng (γ 1, γ 2, γ 31, …, γ n).
a.Mô hình ước lượng đa ngưỡng:
Khi (γ1, γ2) được biết, đường tham số độ dốc (β1, β2, β3) có thể được ước lượng với
OLS (ordinary least square) – phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất để tính tổng
bình phương của lỗi S(γ1, γ2). Tuy nhiên, quá trình thì quá phức tạp và nó đòi hỏi xấp xỉ
N2 = (nT)
2
để dần xác định bằng Grid search.
Một lý thuyết đáng chú ý cho phép chúng tôi thoát khỏi gánh nặng tính toán này. Nó
được tìm ra (Chong, 1994 [6]; Bai, 1997 [2]; Bai and Perron, 1998 [3]) trong mô hình đa
điểm thay đổi rằng ước lượng liên tục là phi mâu thuẫn. Phương pháp thực hiện như sau:
Bước thứ nhất, để cho S1(γ) là tổng ngưỡng đơn của bình phương lỗi như đã xác định ở
(7) và để γ1^ là ước lượng ngưỡng mà tối thiểu S1(γ). Phân tích của Chong và bai đề
nghị rằng γ1^ sẽ phi mâu thuẫn với hoặc γ1 hoặc γ2 (tuỳ theo cái nào ảnh hưởng mạnh
hơn)
Sau khi cố định bước thứ nhất, sự ước lượng là γ1^. Sự lựa chọn điều kiện của ngoo trong
bước hai như sau:
Ước lượng ngưỡng của bước thứ hai như sau:
Nhóm 4_ NH Đêm 1_K22_3 17
BÀI NGHIÊN CỨU GVHD: PGS.TS Lê Thị Lanh
Ước lượng không thể chấp nhập quá ít quan sát trong bất cứ khoảng nào. Do đó, trong
công thức (2), một điều kiện để giới hạn số quan sát tối thiểu trong ba khoảng đã được
thêm vào. Bai (1997) tìm ra rằng, γ
r
2
^ nắm giữ tác động dần trong khi γ1^ không như
vậy. Điều này là do γ1^ được suy ra bằng cách tính toán sự dôi ra của tổng bình phương
trong mô hình đơn ngưỡng. Do đó, để điều này tác động đến một ngưỡng là lôi thôi và
ngưỡng như sau:
Nhóm 4_ NH Đêm 1_K22_3 18
BÀI NGHIÊN CỨU GVHD: PGS.TS Lê Thị Lanh
Khi thông số F
2
bác bỏ giả thuyết rỗng, có nghĩa là hai ngưỡng có tồn tại.
c. Xây dựng khoảng tin cậy:
Rất cần thiết để xây dựng khoảng tin cậy cho 2 ngưỡng (threshold) tham số(γ
1
,γ
2
).
Bai(1997) sử dụng “mô hình điểm thay đổi” và thấy rằng những dự đoán
ngưỡng(threshold) ban đầu và rằng mô hình 1 ngưỡng (threshold) tin cậy giống với phân
phối tiệm cận. vì vậy, khoảng tin cậy nên được xây dựng theo cách của mô hình 1
ngưỡng. Do đó,
LR
2
r
(γ)= S
2
r
(γ) - S
2
r
(γ)
2
r
))/σ2 hay LR
1
chính nâng lên để bù đắp ảnh hưởng của tỷ lệ nợ đến giá trị doanh nghiệp. Vì vậy mục
đích của bài nghiên cứu này là kiểm tra liệu có ảnh hưởng của ngưỡng tồn tại giữa cấu
trúc vốn và giá trị doanh nghiệp hay không. Chúng tôi giả định rằng có ba tỷ lệ nợ tối ưu
nhất tồn tại và cố gắng để sử dụng mô hình ngưỡng để dự đoán tỷ lệ này, cái mà có thể
thể hiện mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và giá trị doanh nghiệp cũng như giúp những nhà
quản lý tài chính đưa ra cấu trúc vốn doanh nghiệp thích hợp hơn.
Bài nghiên cứu này áp dụng mô hình hồi quy ngưỡng của Hessen (1999) (24) và tham
chiếu nghiên cứu thực nghiệm của Chen Chung Nieh, Hwen-Yun Yau, và Wen Chien Liu
(2008) (8), Yu Shu Cheng, Yi Pei Liu và Chu Yang Chien (2010) (43) để xây dựng mô
Nhóm 4_ NH Đêm 1_K22_3 19
BÀI NGHIÊN CỨU GVHD: PGS.TS Lê Thị Lanh
hình hồi quy ngưỡng phân phối để nghiên cứu về ảnh hưởng của cấu trúc vốn và giá trị
doanh nghiệp thủy sản ở Việt Nam
Chúng tôi xây dựng mô hình như sau:
ROE
it
= {µ
i
+ θ’h
it-1
+β
1
D
it-1
+ ε
it
if D
it
≤γ
µ
nghiệp. Có ba biến kiểm soát gồm SIZE
it -1
: quy mô doanh nghiệp, SG
it-1
: tỷ lệ tăng
trưởng của doanh thu,
1 2
đại diện cho những giả định hệ số tương quan về
những biến kiểm soát. µ
i
là một ảnh hưởng đã được cố định để hiểu thấu về lý thuyết
những công ty khác nhau dưới những điều kiện hoạt động khác nhau, β
1
là ngưỡng tương
quan khi giá trị ngưỡng thì cao hơn γ; sai số ε
it
phải tuân theo giả định iid(
eit
∼iid(0,σ
2
)), ở
đó trung bình là bằng 0, và phương sai là σ
2
, I đại diện cho cho những doanh nghiệp khác
nhau và t đại diện cho khoảng thời gian khác nhau.
Nếu có tồn tại 2 ngưỡng, thì mô hình có thể được xác định như sau:
Mô hình 26:
ROE
it
= {µ
i
+ θ’h
it-1
+β
3
D
it-1
+ ε
it
if D
it
≥γ
2
Điều này có thể được mở rộng với (γ1, γ2, γ3, γ4…….γn).
Xây dựng mô hình ngưỡng đơn biến (25) và mô hình đa ngưỡng (26) là phù hợp hoàn
toàn với mô hình gốc của Hessen (1999) và nghiên cứu thực nghiệm cuả Chen Chung
Nieh, Hwen-Yun Yau, và Wen Chien Liu (2008) (8), Yu Shu Cheng, Yi Pei Liu và Chu
Yang Chien (2010). Mô hình (25) và (26) rớt vào loại của mô hình (1) đặt yit=ROEit,
qit=Dit, xit= Dit-1. Cũng có thể hồi quy thêm (SIZEit-1, SGit-1). Phần tiếp theo giới
Nhóm 4_ NH Đêm 1_K22_3 20
BÀI NGHIÊN CỨU GVHD: PGS.TS Lê Thị Lanh
thiệu về định nghĩa và cách đo lường các biến trong mô hình nghiên cứu.
3.2.2 Định nghĩa và cách đo lường các biến
a. Giá trị doanh nghiệp
Nghiên cứu về các đo lường về cấu trúc vốn và giá trị doanh nghiệp, để đo lường giá trị
doanh nghiệp , Yu Shu Cheng, Yi Pei, và Chu Yang (2010) (43) sử dụng ROE . Nghiên
cứu về những ảnh hưởng của cấu trúc vốn lên lợi nhuận , Joshua Abor(2005) (26) sử
dụng ROE để đo lường giá trị doanh nghiệp. Nghiên cứu bởi Chien Chung Nieh, Hwey
Yun Yau, và Wen Chien Liu (2008) (8) sử dụng ROE và và EPS để xác định giá trị doanh
nghiệp. Nói cách khác, nghiên cứu bởi Samy Ben Naceur và Mohamed Goaied (2002)
ngưỡng và biến giải thích, Yu-Shu Cheng, Yi-Pei Liu và Chu-Yang Chien (2010) [43] sử
dụng tổng nợ trên tổng tài sản (DA). Mặt khác, nghiên cứu của Chien-Chung Nieh,
Hwey-Yun Yau, và Wen-Chien Liu (2008) [8] dùng tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản để xác
định ngưỡng và biến giải thích.
Trong nghiên cứu này, cách tính ngưỡng và biến giải thích thông qua tỷ lệ nợ trên tài
sản . Về mặt lý thuyết, có 3 cách để tính tỷ lệ nợ: nợ ngắn hạn so với tổng tài sản, nợ dài
hạn so với tổng tài sản, tổng nợ so với tổng tài sản. Nên làm thế nào để tính được tỷ lệ nợ
ở các doanh nghiệp chế biến thủy sản Việt Nam? Rajan và Zingales (1995) [37] cho biết
rằng tỷ lệ nợ phù hợp nhất phụ thuộc vào mục đích của phân tích. Diamond (1991, 1993)
[13, 14], Demirguc-Kunt và Maksimovic (1999) [15] cho rằng những doanh nghiệp ở các
quốc gia đang phát triển phụ thuộc chủ yếu vào nợ ngắn hạn, nợ ngắn hạn có khả năng
được sử dụng nhiều hơn nợ dài hạn. Các doanh nghiệp chế biến thủy sản Việt Nam, nợ
ngắn hạn chiếm chủ yếu của tổng nợ. Đây là một trường hợp đặc biệt của các doanh
nghiệp chế biến thủy sản Việt Nam . Tranh cãi được nêu trước đề xuất rằng tỷ lệ nợ phù
hợp có thể được dựa vào nợ ngắn hạn. Tuy nhiên các doanh nghiệp chế biến thủy sản Việt
Nam có xu hướng duy trì tỷ lệ nợ ngắn hạn của họ, thậm chí là sau ngày kết thúc năm tài
chính để mà nợ ngắn hạn có thể dễ dàng trở thành nợ dài hạn quá hạn mặc dù chúng vẫn
còn được ghi nhận là nợ ngắn hạn trong bảng cân đối kế toán. Vì lý do này, tổng nợ được
sử dụng, hơn là sử dụng nợ ngắn hạn hay nợ dài hạn, để tính toán tỷ lệ nợ. Ngoài ra, đặc
điểm của các doanh nghiệp chế biến thủy sản Việt Nam là số lượng các công ty niêm yết
Nhóm 4_ NH Đêm 1_K22_3 22
BÀI NGHIÊN CỨU GVHD: PGS.TS Lê Thị Lanh
trên thị sàn giao dịch chứng khoán còn hạn chế. Do đó, giá trị thị trường của nợ không
được áp dụng để tính toán tỷ lệ nợ mà sử dụng giá trị nợ sổ sách.Công thức tính tỷ lệ nợ
được xác định như sau:
DA =
c. Biến kiểm soát:
Dựa theo những nghiên cứu trước kia, hai biến kiểm soát được sử dụng trong bài nghiên
cứu này đó là quy mô của doanh nghiệp và sự tăng trưởng của doanh nghiệp. Các phần
sau đây sẽ phân tích các mối quan hệ nối liền với nhau giữa các biến có liên quan đến giá
(2008) [8], Yu-Shu Cheng, Yi-Pei Liu và Chu-Yang Chien (2010) [43] cho thấy
rằng doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng của doanh số hoạt động cao hơn
thường có giá trị doanh nghiệp cao hơn. Nghiên cứu này cho thấy mối quan hệ
đồng biến giữa biến kiểm soát (ở đây là tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp)
và giá trị doanh nghiệp
Mặt khác, nghiên cứu bởi Phong-Li Lin và Tsangyao Chang (2008) [18], Phong-Li Lin
(2010) [19] cho thấy tăng trưởng doanh số bán hàng không đáng kể liên quan đến giá trị
công ty.
Trong bài này chúng ta sẽ nghiên cứu tăng trưởng có thể có mối quan hệ tích cực với giá
trị công ty hoặc không có liên quan đáng kể đến giá trị công ty.
Để đo lường biến tang trưởng có nhiều cách đo khác nhau. Theo Joshua Abor (2005)
[26]; Chien-Chung Nieh, Hwey-Yun Yau, và Wen-Chiến Liu (2008) [8]; Phong-Li Lin và
Nhóm 4_ NH Đêm 1_K22_3 24
BÀI NGHIÊN CỨU GVHD: PGS.TS Lê Thị Lanh
Tsangyao Chang (2008) [18], Phong-Li Lin (2010) [19], cho rằng tăng trưởng được xác
định bởi tốc độ tăng trưởng trên hoạt động bán hàng. Còn nghiên cứu của Yu Shu-
Cheng, Yi-Pei Liu và Chu Dương Chiến (2010) [43] cho thấy tăng trưởng được xác định
bởi tốc độ tăng trưởng doanh thu hoạt động và tốc độ tăng trưởng tổng tài sản.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ sử dụng giá trị sổ sách trên tổng doanh thu để tính
toán tỷ lệ tăng trưởng.Cách đo lường tỷ lệ tăng trưởng được xác định như sau:
Total revenue (t) – Total revenue (t-1)
SG =
Total revenue (t-1)
3.2.3 Phương pháp đo lường
Bài nghiên cứu sử dụng mô hình ngưỡng hồi quy Hansen. Mô hình hồi quy ngưỡng
Hansen là một phần mở rộng của phương pháp truyền thống ước lượng bình phương,
trong thực tế. Nó đòi hỏi rằng các biến được xem xét trong mô hình là một biến chuỗi có
giá trị trung bình nhỏ và không có xu hướng lớn dần hay nhỏ dần theo thời gian. Biến
chuỗi tĩnh là khái niệm cơ bản và quan trọng trong lý thuyết Đồng liên kết. Vì thế, trong
khi ước lượng các tham số hoặc kiểm định giả thiết của các mô hình, nếu không kiểm