Website: Email : Tel (: 0918.775.368
MỞ ĐẦU
Ngày nay, khi mà toàn cầu hoá ngày càng phát triển thì hội nhập Kinh
tế quốc tế là xu hướng tất yếu đối với mỗi một quốc gia.Việt Nam cũng không
nằm ngoài xu hướng chung đó.Từ sau đổi mới đến nay đến nay,Việt Nam đã
mở rộng quan hệ với rất nhiều quốc gia khác trên thế giới. Nhờ vậy mà trình
độ phát triển kinh tế ở nước ta tăng nhanh trong những năm qua.Và Nhật Bản
được xác định là một trong những thị trường hàng đầu trong quan hệ Thương
mại quốc tế của Việt Nam đó chính là Nhật Bản.
Việt Nam và Nhật Bản là hai quốc gia có nhiều nét tương đồng về bề
dày lịch sử ,văn hoá ,bởi vậy từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao đã
có những bước phát triển đầy ấn tượng. Nhật Bản hiện là đối tác Thương mại
lớn nhất,nhà cung cấp vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) lớn nhất và là
nhà đầu tư hàng đầu của Việt Nam.Với những cơ sở đó, Nhật Bản luôn được
xem là thị trường xuất nhập khẩu số một của Việt Nam. Một trong những mặt
hàng xuất khẩu chủ đạo của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản chính là mặt
hàng thuỷ sản. Xuất khẩu thuỷ sản đã đạt được những thanh tựu to lớn, góp
phần thúc đẩy phát triển kinh tế của đất nước.Tuy nhiên hoạt động xuất khẩu
thuỷ sản của nước ta sang thị trường Nhật Bản còn gặp nhiều khó khăn bởi
Nhật Bản là một thị trường lớn và rất khắt khe, đòi hỏi sản phẩm phải có chất
lượng cao. Hơn thế hàng thuỷ sản của Việt Nam gặp phải rất nhiều đối thủ
cạnh tranh lớn trên thị trường Nhật Bản.
Các doanh nghiệp Việt Nam khi tiếp cận thị trường Nhật bản, đã có
một số doanh nghiệp vận dụng lý thuyết chuỗi giá trị vào hoạt động xuất khẩu
thuỷ sản của doanh nghiệp mình.Tuy nhiên, việc vận dụng lý thuyết chuối giá
trị của các doanh nhiệp còn chưa mang tính hệ thống, mới chỉ là nghĩ đến đâu
thì vận dụng đến đó. Những doanh nghiệp này chưa hiểu một cách đầy đủ và
sâu sắc về cách vận dụng lý thuyết chuỗi giá trị như thế nào cho hiệu quả.
1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Còn hầu hết các doanh nghiệp còn lại vẫn vận dụng lý thuyết chuỗi giá trị
THUỶ SẢN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
1.1. Lý thuyết chuỗi giá trị
Môi trường kinh doanh là tổng hợp các yếu tố bên trong và bên ngoài
doanh nghiệp. Trong đó Môi trường bên ngoài bao gồm các yếu tố tự nhiên,
kinh tế, chính trị, văn hoá,xã hội…Môi trường bên ngoài còn bao gồm cả môi
trường quốc gia và môi trường quốc tế. Môi trường bên trong là tổng hợp các
yếu tố nội tại của doanh nghiệp, bao gồm các yếu tố về nhan lực, công nghệ,
tài chính, bộ máy quản lý, yếu tố văn hoá, triết lý kinh doanh của doanh
nghiệp…Như vậy môi trường kinh doanh là một tổng thể các quan hệ phức
tạp.Các doanh nghiệp khi tiến hành kinh doanh thì chịu sự tác động trực tiếp
của môi trường kinh doanh. Do vậy việc phân tích môi trường kinh doanh là
việc làm hết sức quan trọng và cần thiết đối với mỗi doanh nghiệp khi họ tiến
hành kinh doanh. Việc phân tích môi trường kinh doanh giúp cho các doanh
nghiệp có thể tránh được những rủi ro có thể xảy ra, đồng thời tạo điều kiện
cho họ xây dựng và thực hiện chiến lược thành công cũng như điều chỉnh
chiến lược cho phù hợp. Các công cụ phân tích môi trường kinh doanh bao
gồm các mô hình phân tích môi trường hiện tại của doanh nghiệp. Một trong
những mô hình rất quan trọng và được sử dụng phổ biến ở các doanh nghiệp
đó chính là lý thuyết chuỗi giá trị .
Lý thuyết chuỗi giá trị được sử dụng để xác định một cách có hệ thống
các thế mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp. Thông qua việc đánh giá những
thế mạnh và điểm yếu đó mà các nhà quản lý có thể hiểu sâu hơn về khả năng
của doanh nghiệp. Mô hình được xây dựng dựa trên cơ sở giả định rằng mục
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
tiêu kinh tế cơ bản của doanh nghiệp là tạo ra giá trị. Lượng giá trị ở đây được
tính bằng tổng doanh thu của doanh nghiệp. Theo cách phân Chuỗi giá trị, các
hoạt động khác nhau của doanh nghiệp có tác dụng làm tăng thêm giá trị. Khi
các doanh nghiệp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì thì họ phải tién
hành một loạt các hoạt động, từ hậu cần đầu vào, sản xuất, hậu cần đầu ra,
Doanh
thu và
lợi
nhuận
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Các hoạt động hậu cần đầu vào rất quan trọng, nó được thể hiện ở mức
độ chắc chắn và ổn định của việc cung cấp nguồn nguyên liệu và hệ
thống kiểm soát dự trữ. Hoạt động hậu cần đầu vào là khâu đầu tiên
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Có thể nói hoạt động hậu cần
đầu vào của doanh nghiệp có tốt hay không sẽ quyết định hoạt động
sản xuất của doanh nghiệp.Nếu hoạt động hậu cần đầu không được
thẹc hiện tốt thì nó sẽ làm gián đoạn quá trình sản xuất của doanh
nghiệp,từ đó mà ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả kinh doanh của doanh
nghiệp.
- Các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp được thể hiện ở việc so
sánh năng suất của thiết bị với năng suất của các đối thủ cạnh tranh chủ
yếu, mức độ tự động hoá của các quá trình sản xuất, hiệu quả của hệ
thống điều hành sản xuất trong việc nâng cao chiến lược sản phẩm và
giảm giá thành, hiệu quả của mặt bằng sản xuất và bố trí nơi làm
việc.Hoạt động sản xuất rát quan trọng trong việc tạo ra chuỗi giá trị
của doanh nghiệp.
- Các hoạt động hậu cần đầu ra thể hiện ở tính chính xác và hiệu quả
của hoạt động giao hàng và cung ứng dịch vụ, hiệu quả của hoạt động
dự trữ sản phẩm.Hoạt động hậu cần đầu ra có thể làm cho khách hàng
được thoả mãn hơn.Nếu hoạt động này được làm tốt thì sẽ tăng thêm
giá trị trong chuỗi giá trị mà doanh nghiệp mang lại cho khách hàng.
- Các hoạt động Marketing và bán hàng bao gồm các hoạt động nghiên
cứu thị trường để xác định khối khách hàng và nhu cầu, hoạt động xúc
tiến và quảng cáo sản phẩm, hoạt động đánh giá các kênh phân phối,
khả năng của đội ngũ bán hàng, việc phát triển thương hiệu cũng như
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nguyên vật liệu phải nhanh chóng, đúng hạn, với chi phí thấp nhất
có thể và có chất lượng đảm bảo.Phải tạo mối quan hệ lâu dài với
các nhà cung cấp đáng tin cậy. Hoạt động thu mua nguyên vật liệu
có tốt hay không đóng góp rất nhiều vào chất lượng sản phẩm sau
này.
- Cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp bao gồm khả năng thu hút các
nguồn vốn với chi phí thấp để đầu tư và bổ xung vào nguồn vốn lưu
động , hệ thống thông tin hỗ trợ ra quyết định ngắn hạn và dài hạn,
tính kịp thời và chính xác của thông tin quản lý về môi trường cạnh
tranh, mối quan hệ với người hoạch định chính sách.Ngoài ra, cơ sở
hạ tầng của doanh nghiệp còn bao gồm khả năng phát hiện ra các cơ
hội về thị trường sản phẩm mới và các đe doạ tiềm tàng từ môi
trường, chất lượng của hệ thống kế hoạch hoá chiến lược để đạt mục
tiêu của doanh nghiệp.
Mô hình chuỗi giá trị được sử dụng để đánh giá tác động của các yếu tố chủ
yếu của môi trường bên trong của doanh nghiệp.Từ đó mà các nhà quản lý có
thể hiểu hơn về khả năng của doanh nghiệp.
1.2.Vận dụng lý thuyết Chuỗi giá trị vào hoạt động xuất khẩu thuỷ sản
Thuỷ sản là một trong những ngành kinh tế quan trọng đối với các quốc
gia trên thế giới. Thuỷ sản đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực
phẩm cho nhân loại, tạo ra công ăn việc làm cho nhiều người, đặc biệt là
những cư dân vùng ven biển.Xuất khẩu thuỷ sản mang lại giá trị kinh tế cao
góp phần tăng trưởng cho nền kinh tế quốc dân của quốc gia xuất khẩu.
1.2.1. Đối với các hoạt động hỗ trợ
1.2.1.1.Hoạt động hậu cần đầu vào
7
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Hoạt động hậu cần đầu vào của ngành thuỷ sản là việc bảo đamr nguồn
thuỷ sản cho sản xuất và xuất khẩu của các doanh nghiệp. Để hoạt động hậu
một số cơ sở chế biến, đổi mới công nghệ, đổi mới trang thiết bị, tạo điều kiện
làm việc tốt nhất cho nhân viên, nâng công suất chế biến, đảm bảo an toàn vệ
sinh thực phẩm và chất lượng sản phẩm xuất khẩu.
Ngoài ra đối với mặt hàng thuỷ sản, đặc biệt là đối với hoạt động xuất
khẩu thuỷ sản của các doanh nghiệp thì vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm là
vô cùng quan trọng.Nó ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của người tiêu dung.
Vì vậy đối với hàng thuỷ sản thì tiêu chuẩn về an toàn vệ sinh là rất khắt khe.
Nhiều nước còn lấy tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm như là rào cản đối
với hàng thuỷ sản nhập khẩu vào nước đó. Nếu sản phẩm sản xuất ra mà
không đúng với tiêu chuẩn thì sản phẩm đó sẽ không được thị trường chấp
nhận. Đây là khó khăn đối với hầu hết các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản.
Vì vậy các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản cần chú ý sản xuất đúng với tiêu
chuẩn chất lượng mà đối tác yêu cầu.
1.2.1.3. Đối với hoạt động hậu cần đầu ra
Trong ngành thuỷ sản thì hoạt động hậu cần đầu ra là rất quan
trọng.Hoạt động hậu cần đầu ra bao gồm các hoạt động đóng gói, bao bì, vận
chuyển. Vì đặc điểm của hàng thuỷ sản là tươi sống, ko để được trong thời
gian dài. Vì vậy trong hoạt động này cần chú ý nhất đến công tác bảo quản dự
trữ thuỷ sản. Nhất là đối với hoạt động xuát khẩu, khi mà thuỷ sản được xuất
khẩu ra khỏi biên giới quốc gia, thời gian vận chuyển lâu thì hoạt động bảo
quản càng quan trọng. Do hàng thuỷ sản không thể dự trữ được lâu nên cần
phải giao hàng nhanh chóng và kịp thời. Ngoài ra việc lựa chọn phương tiện
vận chuyển cũng rất quan trọng. Phương tiện vận chuyển phải vừa thuận tiện ,
vừa nhanh lại vừa có thể bảo quản tốt để hàng thuỷ sản khỏi bị hỏng. Lựa
9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
chọn bao bì đóng gói hàng thuỷ sản cũng rất quan trọng.Nó vừa bảo đảm an
toàn cho hàng thuỷ sản, vừa phải phù hợp với đặc tính của từng loại hàng. Ví
dụ bao bì phải được làm bằng chất chống thấm để sản phẩm không bị nhanh
hỏng. Nhất là khi các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản thì bao bì đóng gói
và nhanh chóng. Giao hàng đúng chất lượng mà đối tác yêu cầu, có như vậy
mới tạo được uy tín với phía đối tác. Đồng thời để cho thuận lợi trong quá
trình vận chuyển thì cần phải nâng cấp hệ thống tầu thuyền, có phương pháp
bảo quản phù hợp,xây dựng hệ thống cầu cảng đáp ứng được nhu cầu cảu các
tầu về chỗ trú đậu, làm cho việc giao hàng được thuận lợi hơn.
1.2.2. Đối với các hoạt động hỗ trợ
1.2.2.1.Hoạt động quản trị nguồn nhân lực
Hoạt động quản trị nguồn nhân lực bao gồm các hoạt động đào tạo
trong và ngoài nước cho cán bộ nghiên cứu, cán bộ quản lý và kỹ thuật về
công nghệ mới trong sản xuất giống, nuôi cao sản, khai thác, bảo quản sau thu
hoạch và về quản lý chuyên ngành, đồng thời tăng cường đào tạo công nhân
kỹ thuật về nuôi, khai thác, bảo quản, chế biến và nhân viên tiếp thị. Cũng
như các ngành khác, trong ngành thuỷ sản thì hoạt động quản trị nguồn nhân
lực là rất quan trọng. Con người chính là nhân tố quyết định sự thành công
của doanh nghiệp. Vì vậy việc nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ là việc làm
cần thiết và quan trọng.
1.2.2.2.Phát triển công nghệ
Đối với hoạt động phát triển công nghệ thì chủ yếu là tập trung nghiên
cứu công nghệ cao về di truyền, chọn giống, nhân giống, công nghệ sinh học,
công nghệ xử lý môi trường, công nghệ chuẩn đoán phòng trừ dịch bệnh,
công nghệ chế biến, bảo quản sau thu hoạch. Ngoài ra doanh nghiệp có thể
nhập khẩu các bí quyết công nghệ, công nghệ cao từ các nước phát triển; đầu
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
tư nghiên cứu ứng dụng các công nghệ mới về nuôi trồng, khai thác và chế
biến xuất khẩu. Việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào ngành thuỷ sản có vai trò
nâng cao năng suất và chất lượng hàng thuỷ sản.
1.2.2.3. Hoạt động đảm bảo nguyên liệu
Hoạt động đảm bảo nguyên liệu là tất cả các hoạt động nhằm đảm bảo
cho tiến trình sản xuất được diễn ra liên tục.Hoạt động này bao gồm các hoạt
- Các chỉ tiêu dinh dưỡng như đạm, mỡ, muối, nước, khoáng chất ? bắt
buộc phải đạt theo mức hoặc tỷ lệ nhất định, nhằm đảm bảo dinh dưỡng
theo yêu cầu cho người sử dụng hoặc yêu cầu riêng biệt cho một nhóm đối
tượng tiêu dùng (như trẻ em, người ăn kiêng ?).
- Các quy định về chủng loại, kích cỡ, khối lượng, cách chế biến,
phương pháp ghi nhãn, kiểu cách bao gói, nhằm thoả mãn yêu cầu sử dụng
và ngăn chặn việc gian lận thương mại.
- Việc nuôi trồng, đánh bắt nguyên liệu để chế biến ra sản phẩm đó phải
không phương hại đến các loài động vật quý hiếm và không làm phương
hại đến môi sinh và môi trường.
Còn hàng rào vệ sinh- SPS bao gồm các quy định:
- Gồm những quy định về các loại mầm dịch bệnh không được phép có
trong thuỷ sản xuất khẩu, nhập khẩu và quá cảnh, nhằm ngăn chặn các dịch
bệnh có trong sản phẩm lây lan vào môi trường nuôi của nước nhập khẩu.
- Những quy định về ngăn chặn các mối nguy làm cho thực phẩm thuỷ
sản không an toàn vệ sinh.Các mối nguy ở đây bao gồm có mối nguy vật lý,
mối nguy sinh học, mối nguy hoá học :
Mối nguy vật lý : Bao gồm những vật cứng, sắc, nhọn có thể gây thương
tích cho hệ tiêu hoá của người tiêu dùng.
Mối nguy sinh học : Bao gồm các loại ký sinh trùng, các loại virut và các
loại vi sinh vật gây bệnh.
Mối nguy hoá học : Là các hoá chất độc hại đến sức khoẻ người tiêu dùng
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
có sẵn trong môi trường tự nhiên hoặc do con người vô tình hay cố ý làm
nhiễm vào thực phẩm.
Việt Nam là quốc gia có nhiều tiềm năng để phát triển ngành thuỷ sản.
Hiện nay thuỷ sản đang là một trong những ngành xuất khẩu mũi nhọn của
nước ta.Cùng với khai thác các nguồn lợi cá và hải sản biển, Việt Nam còn có
một tiềm năng phong phú về các nguồn lợi thuỷ sản nước ngọt và nước lợ đã
trồng hiện nay là đẩy mạnh thâm canh, hạn chế mở rộng diện tích, đặc biệt
diện tích rừng ngập mặn nhằm bảo vệ và phục hồi nơi cư trú tự nhiên ven
biển.Nuôi biển cũng phát triển, tuy chưa mạnh, với hình thức nuôi lồng bè và
nuôi quây lưới là phổ biến. Một số nơi do mật độ nuôi dầy, thức ăn dư thừa
tích lại gây dịch bệnh. Tình trạng này đã được khắc phục kịp thời, tuy chưa
triệt để.
Khai thác thuỷ hải sản vẫn tập trung chủ yếu ở vùng nước nông ven bờ,
đến độ sâu 50m. Ở đây tập trung rất nhiều tàu thuyền nhỏ hoạt động đánh bắt
khiến cho nguồn lợi có biểu hiện suy giảm, mức độ đánh bắt về cơ bản đã
vượt ngưỡng cho phép. Vì vậy, Chính phủ đã chủ trường đẩy mạnh đánh bắt
xa bờ, tăng cường nuôi trồng thuỷ sản ven biển để giảm nhẹ sức ép vào vùng
ven bờ, tạo điều kiện phục hồi nguồn lợi.Ngoài ra, hiện tượng đánh bắt hải
sản ở các vùng rạn san hô bằng các phương tiện huỷ diệt vẫn còn tồn tại như
dùng mìn, xung điện, hoá chất độc, lưới mắt nhỏ . Vì vậy Chính phủ cần có
biện pháp mạnh để xử lý tình trạng trên nếu không các rạn san hô sẽ rơi vào
tình trạng nguy hiểm. Tuy nhiên Việt Nam chưa phát triển nuôi trồng thuỷ sản
công nghiệp nên còn nhiều tiềm năng đất đai để phát triển nuôi trồng. Vì vậy
mà chính phủ luôn khuyến khích phát triển nuôi trồng để lấy nuôi trồng bù
đắp cho đánh bắt. Việc đưa thành công kỹ thuật nuôi hải sản trên các vùng cát
ven biển đã mở rộng triển vọng mới cho việc phát triển vùng nuôi tôm và các
hải sản khác theo phương thức nuôi công nghiệp, nhát là vùng duyên hải dọc
theo bờ miền Trung.
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.3.2. Vận dụng lý thuyết chuỗi giá trị nhằm thúc đẩy xuất khẩu thuỷ sản
ở Việt Nam
Trong thời gian qua, và cả trong tương lai, ngành thuỷ sản ở Việt Nam
vẫn lấy xuất khẩu làm động lực phát triển, coi xuất khẩu thuỷ sản là hướng
phát triển mũi nhọn và ưu tiên số một. Xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam ngoài
việc tập trung vào các thị trường truyền thống còn phải đẩy mạnh tìm kiếm thị
Sản xuất thuỷ sản là chế biến thuỷ sản. Chế biến thuỷ sản được hiểu là
chế biến tất cả các loài thuỷ sản nước ngọt, nước lợ và nước mặn thu hoạch từ
hoạt động khai thác thuỷ sản và nuôi trồng thuỷ sản. Chế biến thuỷ sản được
phân thành hai nhóm sau:
Chế biến phục vụ tiêu dùng nội địa là hoạt động chế biến thuỷ sản
nhằm phục vụ nhu cầu tiêu thụ trong nước. Những năm trước đây, do phải
nhập dây chuyền đồng bộ từ nước ngoài nên chi phí cho hoạt động chế biến
nội địa tương đối cao, giá thành sản phẩm không phù hợp với sức mua của
người dân trong nước. Gần đây, ngành thuỷ sản đã chủ động phát triển công
nghiệp cơ điện lạnh phục vụ thiết bị cho chế biến thuỷ sản nội địa nên tình
trạng này đã được khắc phục. Mặt khác, do mức thu nhập tăng nên nhu cầu
tiêu thụ cũng tăng theo, nhiều sản phẩm thuỷ sản chế biến đã không còn phân
biệt ranh giới giữa tiêu dùng nội địa và xuất khẩu.
Chế biến sản phẩm xuất khẩu là hoạt động chế biến thuỷ sản nhằm mục
tiêu xuất khẩu thu ngoại tệ. Hệ thống các nhà máy chế biến xuất khẩu năm
2001 là 272 nhà máy với năng lực thu hút nguyên liệu khoảng 500 nghìn
tấn/năm. Nhờ Áp dụng các công nghệ tiên tiến trên thế giới như công nghệ
bảo quản sau thu hoạch, công nghệ surimi, công nghệ ngủ đông trong vận
chuyển thuỷ sản tươi sống, công nghệ đông rời IQF… nên xuất khẩu thuỷ sản
đã tăng nhanh trong những năm qua. Đông thời nhờ việc tích cực áp dụng hệ
thống quản lý chất lượng và an toàn thực phẩm, đến năm 2003 đã có 273
doanh nghiệp đạt các điều kiện an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn Việt Nam,
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
153 doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản được công nhận vào danh sách I xuất
khẩu thuỷ sản vào thị trường EU, 255 cơ sở đạt tiêu chuẩn xuất khẩu vào
Thuỵ Sỹ và Ca na đa, 248 đơn vị đạt tiêu chuẩn của Hoa Kỳ, v.v... Việt Nam
tạo được thế đứng vững chắc trên thị trường thuỷ sản thế giới.
Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản thì phần lớn thuỷ sản sản
xuất ra là nhằm mục đích xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. Chỉ có một số ít
trường và tiếp thị chuyên nghiệp ở các doanh nghiệp, để giữ vững và ổn định
thị trường truyền thống, đặc biệt là thị trường Nhật Bản, đồng thời mở rộng
hơn nữa các mặt hàng Việt Nam có khả năng phát triển để xuất ra các thị
trường lớn như : Liên minh Châu Âu (EU), Mỹ, Trung Quốc...; giảm tỷ trọng
các thị trường trung gian, tăng nhanh tỷ trọng các thị trường tiêu thụ trực
tiếp.Riêng đối với thị trường lớn như thị trường Nhât bản cần tăng tỷ trọng
các mặt hàng thủy sản tinh chế và hàng phối chế đóng gói nhỏ cho siêu thị,
tôm sống, cá ngừ tươi và đông và các đặc sản khác, đưa tỷ trọng các mặt hàng
thủy sản xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản chiếm từ 38% đến 40% trong
tổng sản phẩm xuất khẩu .Còn đối với thị trường khối liên minh Châu Âu
(EU) và một số thị trường mới khác ngoài các thị trường trên đây, cần nâng
cao hơn nữa chất lượng sản phẩm đáp ứng theo yêu cầu của các thị trường
này nhằm mở rộng thị trường cho hàng thuỷ Việt Nam.
1.3.2.5. Hoạt động dịch vụ khách hàng
Trong nghành xuất khẩu thuỷ sản ở nước ta, hầu như hoạt động dịch vụ
khách hàng là chưa có. Bởi vì hầu hất các doanh nghiệp xuât khẩu thuỷ sản
mới chỉ xuất khẩu qua trung gian, chưa tạo được kênh phân phối trực tiếp trên
thị trường nước ngoài.Vì vậy khi vận dụng lý thuyế chuỗi giá trị vào hoạt
động xuất khẩu thuỷ sản ở Việt nam, các doanh nghiệp cần phải chú ý hơn
19
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nữa đến hoạt động dịch vụ khách hang. Có như vậy mới tăng them giá trị
trong chuỗi giá trị tạo ra cho khách hang.
1.3.2.6. Đối với các hoạt động hỗ trợ
Đối với hoạt động quản trị nguồn nhân lực thì ngành thuỷ sản ở nước ta
rất chú trọng phát triển nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng. Yêu cầu
kinh tế kỹ thuật ngày càng cao đòi hỏi mỗi người lao động trong ngành thuỷ
sản phải cố gắng nâng cao trình độ của mình và phải được bồi dưỡng kỹ năng
nghề nghiệp. Vì vậy mà ngành thuỷ sản không chỉ chú trọng phát triển các
cán bộ kỹ thuật ,quản lý mà còn cả những người lao động trực tiếp. Các loại
THUỶ SẢN VIỆT NAM SANG NHẬT BẢN
2.1.Thực trạng xuất khẩu thuỷ sản của các doanh nghiệp Việt Nam sang
thị trường Nhật Bản
2.1.1Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản trong những năm
gần đây
Theo đánh giá của Thương vụ Việt Nam tại Nhật Bản, quan hệ thương
mại Việt-Nhật đang phát triển với tốc độ cao. Nhật luôn duy trì vị trí là một
trong 3 thị trường xuất khẩu trọng điểm của Việt Nam sau Mỹ và EU. Nếu
như kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Nhật Bản năm 2000 đạt
4,52 tỷ USD, thì năm 2005 kim ngạch xuất nhập khẩu 2 nước đã đạt hơn
8,163 tỷ USD, tăng gần 2 lần so với năm 2000. Trong quan hệ thương mại với
Nhật Bản, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong những năm gần đây luôn
đạt tốc độ phát triển khá cao, tăng trung bình từ 15-20% so với năm trước.
Trong cán cân thương mại, Việt Nam luôn là nước xuất siêu. Các số liệu
thống kê cho thấy cả năm 2005, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang
Nhật Bản đạt khoảng 4,56 tỷ USD, tăng 20,3% so với năm 2004 (từ năm 2001
đến nay, lần đầu tiên tốc độ tăng trưởng vượt qua con số 20%). Về nhập khẩu
năm 2005, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Nhật Bản đạt khoảng 3,6 tỷ
USD, tăng 15,3% so với 2004. Xuất siêu của Việt Nam sang Nhật Bản đạt
khoảng 960 triệu USD, tăng hơn 43% so với năm ngoái. Nếu trừ dầu thô Việt
Nam vẫn xuất siêu trên 370 triệu USD.
Không chỉ có vậy, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam không chỉ tăng về kim
ngạch đơn thuần mà đang có những bước phát triển tương đối rõ nét về cơ cấu
22
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
mặt hàng xuất khẩu. Gần đây, Việt Nam đã xuất khẩu được hoa tươi, hàng
may mặc cao cấp, thực phẩm chế biến... sang thị trường Nhật.
Cùng với sự phát triển về mặt hàng xuất khẩu, tỷ lệ gia công nội địa trong sản
phẩm xuất khẩu, tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu thành phẩm trong tổng kim ngạch
xuất khẩu cũng ngày càng được nâng cao (đặc biệt đối với sản phẩm thủy sản,
Bản tăng đột biến, cụ thể kim ngạch xuất khẩu đạt 585 triệu USD, tăng 58,6
% so với namư 2004. Tuy nhiên nước ta mới chỉ xuất khẩu dầu thô mà chưa
qua chế biến, thế nên giá trị vẫn chưa cao. Đây cũng là điều mà nhà nước cần
lưu ý để trong thời gian tới, có những chính sách đầu tư để có thể xuất khẩu
dầu đã qua chế biến.
Bảng 2.2 - 10 mặt hàng có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu lớn sang thị
trường Nhật Bản trong năm 2005
Mặt hàng Kim ngạch xuất khẩu (Triệu
USD)
Tăng so với năm
2004(%)
Gạo 27,3 184,3
Mạch điện tử tích hợp và
linh kiện điện tử
18,4 93,3
Đồ nhựa gia dụng 71,3 57,5
Than đá 207,6 51,8
Mô tơ loại nhỏ 35,2 47,6
Dây cáp điện 450,8 35,4
Cà phê 26,5 33,7
Tơ tằm 15,7 28,5
Giày dép 134 21,9
Đồ gỗ gia dụng 184 21
Nguồn – Trung tâm xúc tiến thương mại Nhật Bản
Nhìn vào bảng trên ta thấy,tốc độ tăng trưởng của các mặt hàng xuất khẩu vào
thị trường Nhật Bản ngày càng tăng nhanh. Vì vậy mà tổng kim ngạch xuất
khẩu hàng hoá vào thị trường Nhật Bản cũng tăng nhanh.
Trong năm 2005, gạo là mặt hàng có tốc độ tăng trưởng cao nhất, tăng
184,3% so với năm 2004. Nguyên nhân là do năm nay thời tiết thuận lợi cho
bà con nông dân, trúng mùa. Tuy nhiên kim ngạch xuất khảu gạo vẫn còn
25