Tiểu luận Tài chính công Xem xét lại những tác động của chính sách tài khóa lên tổng thể kinh tế vĩ mô một phân tích tách biệt sử dụng kỹ thuật SVAR - Pdf 26

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
KHOA SAU ĐẠI HỌC

BỘ MÔN TÀI CHÍNH CÔNG
TIỂU LUẬN
Xem xét lại những tác động của
chính sách tài khóa lên tổng thể kinh tế vĩ mô:
một phân tích tách biệt sử dụng kỹ thuật SVAR

GVHD: PGS.TS SỬ ĐÌNH THÀNH
DANH SÁCH NHÓM 3:
(Lớp Ngân Hàng Đêm 5)
1. TRẦN THỊ THU VÂN
2. TRẦN ĐỨC
3. NGUYỄN NGỌC TRÍ
TPHCM, tháng 07 năm 2012
Tóm tắt
Nhóm 3 – Ngân hàng Đêm 5 – K20 1
Bài viết này mô tả những tác động của thuế ròng và các cú sốc chi tiêu của chính phủ lên
giá, lãi suất, GDP và các thành phần của GDP ở bốn quốc gia OECD bằng cách sử dụng
một cách tiếp cận VAR cấu trúc (structural VAR). Đầu tiên trong bài viết này, tôi đề nghị
phân tách tổng thuế ròng thành bốn thành phần: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu
nhập, thuế gián thu và thuế bảo hiểm xã hội (social insurance taxes). Bài viết đưa ra ước
tính về những phản ứng của tổng thể kinh tế vĩ mô khi có những cải cách trong các thành
phần thuế ròng. Các kết luận chính của phân tích có thể được tóm tắt như sau: 1) phân
tách những cải cách của từng thành phần riêng trong thuế ròng, cho thấy các thành phần
này có tác động khác nhau lên các biến số kinh tế; 2) quy mô và tính lâu dài của những
hiệu ứng khác nhau giữa các quốc gia. Sự khác nhau này phụ thuộc vào sức mạnh của
nền kinh tế, các hiệu ứng thay thế, hiệu ứng thu nhập. Qua đó phản ánh cấu trúc của các
nền kinh tế; 3) các số nhân thuế dương trong các nghiên cứu trước đây chỉ được tìm thấy
đối với thuế thu nhập doanh nghiệp ở Mỹ, Canada, và Pháp và thuế an sinh xã hội ở Mỹ;

Schiantarelli (2002) điều tra những ảnh hưởng của một sự thay đổi trong chính sách tài
khóa lên đầu tư tư nhân bằng cách sử dụng nhóm các nước OECD. Phát hiện của họ bao
gồm sự gia tăng thuế có tác động làm giảm sản lượng giống với những phát hiện của
Blanchard và Perotti (2002). Ngoài ra, kết luận sau này cho rằng sự gia tăng tiêu dùng tư
nhân gia tăng theo sự gia tăng trong mức thuế suất.
Cả hai nghiên cứu chứng minh rằng bất cứ sự gia tăng thuế nào cũng sẽ làm giảm đầu tư
tư nhân. Hơn nữa, Perotti (2004) chỉ ra rằng của tác động của chính sách thuế trên GDP
và các thành phần của nó giảm dần theo thời gian. Mountford và Uhlig (2008) cố gắng
phân biệt các tác động của những cú sốc chính sách tài khoá đến nền kinh tế Mỹ giữa
năm 1955 và 2000. Họ đặt ra ba kịch bản khác nhau: một sự gia tăng chi tiêu với thâm
hụt tài chính, sự gia tăng chi tiêu với ngân sách cân bằng, và cắt giảm thuế với thâm hụt
tài chính. Họ kết luận rằng trong số ba kịch bản này, việc cắt giảm thuế với thâm hụt tài
chính là cách thức hiệu quả nhất để giúp gia tăng GDP. Gần đây hơn, bằng cách sử dụng
một cơ sở dữ liệu mới, Burriel et al (2010) phân tích tác động của chính sách tài khoá đến
nền kinh tế Mỹ và tổng thể khu vực châu Âu. Họ nhận thấy rằng phản ứng với những cú
sốc chi tiêu của chính phủ, GDP và lạm phát ở cả hai khu vực đều gia tăng mặc dù số
nhân sản lượng rất tương đồng và tăng đều đặn sau năm 2000. Nguyên nhân có thể là do
"dư thừa tiết kiệm toàn cầu" ở cả hai khu vực.
Ngoài ra, Burnside et al. (2004), Pappa (2009) và Ramey (2007) báo cáo thất nghiệp
giảm khi cú sốc chi tiêu gia tăng. Mặt khác, một vài nghiên cứu xem xét phản ứng của
tiền lương thực tế sau sự gia tăng chi tiêu chính phủ. Trong số đó, Pappa (2009) dẫn
chứng một sự gia tăng, còn Burnside et al. (2004) thì báo cáo tiền lương thực tế giảm.
Một số các thực tế được nêu ở trên có mâu thuẫn hoặc với lý thuyết tân cổ điển, mô hình
chu kỳ kinh doanh thực sự (RBC) hoặc với cách tiếp cận Keynes. Nói cách khác, dấu
hiệu và cường độ của tác động của chính sách tài khoá tùy nghi lên nền kinh tế vĩ mô
thường đưa ra các kết luận ngược nhau. Ví dụ, sau một cú sốc chi tiêu chính phủ dương,
Nhóm 3 – Ngân hàng Đêm 5 – K20 3
lý thuyết Keynes mới có xu hướng dự đoán sản lượng, lương thực tế và lãi suất sẽ gia
tăng, trong khi đó tiêu dùng và đầu tư tư nhân sẽ giảm sút. Tuy nhiên, trong các mô hình
RBC (chu kỳ kinh doanh thực tế), các chính sách tài chính mở rộng sẽ dẫn đến tiền lương

các cấu trúc kinh tế khác nhau. Trong bối cảnh này, những cú sốc thuế thu nhập doanh
nghiệp, ví dụ, sẽ có một tác động rất khác nhau mô lên các chỉ số kinh tế vĩ mô hơn mô
Nhóm 3 – Ngân hàng Đêm 5 – K20 4
một sự đổi thuế gián thu. Do đó, quan trọng là chúng ta hiểu được mức độ tác động của
việc gia tăng thuế ròng do một cú sốc này hay một cú sốc khác gây ra, trước khi quan tâm
đến phản ứng thuộc về chính sách có thể có của chính chúng ta.
Các kết luận chính của phân tích có thể được tóm tắt như sau: 1) sự phân tách của những
đổi mới tổng thuế ròng cho thấy các thành phần thuế ròng có tác động khác nhau lên các
biến số kinh tế; 2) Quy mô và sự bền bỉ của các tác động khác nhau giữa các quốc gia
phụ thuộc vào những tác động khác nhau (tức là, hiệu ứng sản lượng và sự giàu có âm,
hiệu ứng thay thế và hiệu ứng thu nhập) kết quả từ cấu trúc của nền kinh tế; 3) số nhân
thuế tích dương báo cáo trong các nghiên cứu trước đây chỉ được phát hiện cho thuế thu
nhập doanh nghiệp ở Mỹ, Canada và Pháp và thuế an sinh xã hội ở Mỹ; 4) Về những lý
thuyết vĩ mô liên quan, chúng đây thấy rằng đầu tư tư nhân bị hất ra bởi thuế và chi tiêu
chính phủ ở Anh và Mỹ, điều này là phù hợp với một mô hình tân cổ điển. Ngược lại, kết
quả của chúng tôi đối với Pháp, và một phần của Canada cho thấy có những tác động
ngược lại của tăng thuế và chi tiêu đầu tư tư nhân, phù hợp với lý thuyết của Keynes; và
5) tiêu dùng tư nhân bị đẩy vào bởi chi tiêu chính phủ ở tất cả các nước ngoại trừ Anh và
bị hất ra do thuế trong tất cả các nước ngoại trừ Pháp. Trong khi kết quả trước đây là phù
hợp với một mô hình Keynes, thì sau này là phù hợp với lý thuyết tân cổ điển.
Phần còn lại của bài viết được tổ chức như sau. Phần II tập trung vào việc xác định các cú
sốc liên quan cấu trúc. Phần III mô tả dữ liệu. Phần IV nghiên cứu những tác động của
các cú sốc được xác định tại Mục II lên nền kinh tế vĩ mô của bốn quốc gia. Phần V phân
tích sự vững chắc của các kết quả và mục VI kết luận.
2. Mô hình
Chiến lược xác định của chúng tôi theo Blanchard và Perotti (2002). Biểu thị các vector
của các biến nội sinh bởi Xt và vector phần dư hình thức giảm bởi Ut, hình thức VAR
giảm có thể được biểu diễn như là
X
t

t
,u
y
t
,u
p
t
,u
r
t
]'
Nhóm 3 – Ngân hàng Đêm 5 – K20 5
Tôi bắt đầu bằng cách thể hiện sự đổi mới hình thức giảm trong phương trình những thuế
ròng và chi tiêu chính phủ dưới dạng sự kết hợp tuyến tính của những cú sốc tài khoá về
cấu trúc e
g
t
and e
T
t
đến các biến này và cải tiến mới của các phương trình hình thức giảm
khác của các VAR, cụ thể là: u
y
t
, u
p
t
và u
i
t

g
t
sẽ
là zero: những hệ số sẽ chỉ thể hiện những phản ứng tự động đến hoạt động kinh tế.
Bởi vì các phần dư hình thức giảm có tương quan với e
t
, nó không thể ước tính bởi
bình phương tối thiểu thông thường.
Vì vậy, chúng tôi cần phải xây dựng các độ co giãn của biến tài khoá i đối với biến kinh
tế vĩ mô j nhằm tính toán những cú sốc chính sách tài khoá hình thức giảm điều chỉnh
theo chu kỳ:
Nhóm 3 – Ngân hàng Đêm 5 – K20 6
Bước tiếp theo, để quyết định trật tự tương đối của các biến số tài khoá được dùng nhằm
xác định các cú sốc thuộc về cấu trúc đối với các biến này. Trong khi áp đặt = 0 mặc
nhiên công nhận các ưu tiên của các quyết định thuế, có thể được thiết lập bằng 0 nếu
quyết định chi tiêu chính phủ được coi là đầu tiên. Khó để tìm lý lẽ xác đáng đầy đủ biện
minh cho bất kỳ trật tự nào. Trong các đặc điểm kỹ thuật cơ bản giả định sau được sử
dụng. Trật tự đảo ngược không ảnh hưởng đến kết quả tương quan thấp cho trước giữa
hai cú sốc tài khoá hình thức giảm.
Kết quả là có thể tính bằng OLS từ công thức những sau:
Cuối cùng những hệ số của các biến kinh tế vĩ mô trong công thức sẽ được tính bằng
trung bình của những hồi quy biến công cụ. Công thức sau sẽ được sử dụng tính GDP
thực.
Sử dụng e
T
t và e
g
t như là công cụ tương ứng với u
T
t và u

Cục Phân tích kinh tế cho Mỹ và từ OECD World Economic Outlook đối với các nước
còn lại.
3.2 Đặc điểm kỹ thuật:
Phương trình (1) được ước tính bởi (OLS) và số lượng của độ trễ được thiết lập theo
thông tin được cung cấp bởi sự kiểm định hệ số khả năng (LR), tiêu chuẩn thông tin
Akaike, Schwarz và Hannan-Quinn và các lỗi dự báo cuối cùng nói chung.
Nhóm 3 – Ngân hàng Đêm 5 – K20 8
Để có được các phản ứng của tổng hợp kinh tế vĩ mô tới sự đổi mới chính sách thuế, thì
các đặc điểm kỹ thuật VAR được mô tả trong phần trước đó được ước tính. Mỗi mô hình
bao gồm các biến sau: chi tiêu chính phủ (gt), thuế doanh thu (Tt) (đo bằng doanh thu
thuế của nhóm thuế thứ i), tổng sản phẩm quốc nội GDP (yt), số giảm phát GDP (pt), và
giá trị Hối phiếu kho bạc (rt). Sau khi ước tính mô hình chuẩn (với tổng số thuế ròng và
chi tiêu chính phủ), chúng tôi ước tính các phản ứng của sự đổi mới tổng hợp kinh tế vĩ
mô trong các nhóm thuế khác nhau bằng cách thay thế tổng số thuế ròng với mỗi thành
phần thuế riêng biệt. Thêm nữa, chúng tôi ước tính một số chi tiết kỹ thuật khác, mà GDP
thay thế lần lượt bởi các thành phần cá nhân (tiêu dùng và đầu tư).
Sau khi nghiên cứu, độ co giãn của thuế đối với GDP xây dựng từ các dữ liệu được cung
cấp bởi OECD World Economic Outlook, chúng tôi giả định rằng, trong dữ liệu hàng
quý, độ co giãn hiện tại của chi tiêu chính phủ đối với lượng hàng sản xuất là bằng
không. Giả định rằng, việc chi trả lãi đối với các khoản nợ của chính phủ được loại trừ ra
khỏi định nghĩa chi tiêu và thuế ròng của chính phủ, độ co giãn của hai biến đối với lãi
suất và bằng 0. Hơn nữa, độ co giãn của các biến tài chính đối với tiêu dùng và
đầu tư tư nhân thực tế bằng độ co giãn đối với thành phần GDP thực tế trong tổng số của
cả hai. Cuối cùng, theo Tenhofen et al (2006), độ co giãn GDP giảm phát chỉ đơn giản là
độ co giãn GDP thực của biến tài chính trừ đi 1.
Bảng 1 cung cấp một cái nhìn tổng quan về độ co giãn hàng quý đang được sử dụng.
4.Kết quả thực nghiệm.
Chúng tôi tính toán ảnh hưởng của các cú sốc khác nhau của chính sách tài chính trên
cơ sở mô hình ước tính SVAR. Các số liệu phản ánh các kết quả hiển thị một sự gia tăng
1% ngoại sinh trong biến tài chính. Trong mọi trường hợp, phản ứng được báo cáo trong

Canada, sản lượng sau khi tăng ban đầu, thì giảm sút, trong khi ở Mỹ sản lượng gia tăng
liên tục. Tại Anh, phản ứng tiêu cực của GDP là không đáng kể, phù hợp với kết quả của
Perotti (2004).
Ngoài ra, các hành vi tiêu dùng cá nhân khá giống với GDP: về cơ bản làm tăng tác động
ở Mỹ, Canada và Pháp, nhưng giảm ở Anh. Trong khi kết quả trước đây là phù hợp với
một mô hình Keynes, sau này là phù hợp với lý thuyết tân cổ điển.
Những chi tiêu đột biến của Chính phủ có tác động tăng lãi suất ở ba
nước (Canada, Pháp và Anh) và về cơ bản không có hiệu lực tác động ở Mỹ. Đáng lưu ý
ở đây là: kết quả trước đây có thể hòa hợp với cả hai mô hình tân cổ điển và mô hình
Keynes.
Hình (9) - (12) thể hiện các tác động của sự đột biến kinh tế vĩ mô đến sự đóng góp an
sinh xã hội. Như được biết đến một cách rộng rãi, thuế an sinh xã hội đối với lao động là
một biên chế thuế. Do đó, sự thay đổi sản lượng phụ thuộc vào hai hiệu ứng: thay thế và
thu nhập.
Nhóm 3 – Ngân hàng Đêm 5 – K20 10
Đổi mới thuế an sinh xã hội bằng tính thuế thêm cho mỗi giờ làm việc, làm giảm chi phí
cho việc vui chơi giải trí, sẽ dẫn đến giảm đối tượng nộp thuế. Vì vậy, các cá nhân sẽ
làm việc ít hơn để nộp thuế thấp hơn. Đây là hiệu ứng thay thế (SE). Mặt khác, giảm tiền
lương thực tế sẽ làm giảm thu nhập của hộ gia đình. Vì vậy, họ sẽ không đủ khả năng chi
tiêu cho vui chơi giải trí và kết quả là, sẽ cung cấp nhiều lao động hơn. Đây là hiệu ứng
thu nhập (IE). Cường độ tương đối của hai hiệu ứng phụ thuộc vào các tình huống như độ
co giãn của cung cầu lao động. Do đó, giờ làm việc có thể tăng, giảm hoặc vẫn giữ
nguyên sau khi đổi mới thuế. Ở Mỹ, IE chiếm ưu thế hơn SE. Đáng chú ý là biến diễn
của đầu tư tư nhân và tiêu dùng tư nhân: nó thường gia tăng tác động ở đất nước này. Đối
với Canada, Pháp và Anh, mức thuế an sinh xã hội cao hơn làm giảm sản lượng đáng kể,
đặc biệt giảm nghiêm trọng và kéo dài trong năm năm tại Pháp.
Nói chung, theo như các thành phần GDP có liên quan, đầu tư và tiêu dùng tư nhân,
tương tự như GDP. Tuy vậy, một vài khác biệt nhỏ có thể thấy được, đặc biệt là biến diễn
trong ngắn hạn. Mức giá tại Canada sẽ giảm đáng kể sau 4 quý và vẫn duy trì đáng kể
trong 5 năm do cầu giảm để đáp ứng với một sự đổi mới thuế an sinh xã hội ở đất nước

và do đó tác động đến tiêu dùng, đầu tư và sản lượng là âm. Đối với Pháp, mặc dù tác
động đến sản lượng và đầu tư là âm, sản lượng gia tăng đều đặn, và có một sự gia tăng
không đáng kể trong đầu tư từ quý thứ ba. Mặt khác, cần lưu ý rằng tiêu dùng tăng đáng
kể ở Canada và Pháp. Có một số cách để giải thích điều này. Ví dụ, Linnemann (2006) áp
dụng một hàm hữu dụng riêng biệt trong tiêu dùng và giải trí trong một thiết lập RBC,
trong đó tiêu dùng và giải trí thay thế nhau. Tác động thu nhập giảm khiến người lao
động tăng giờ làm và giảm giải trí. Hữu dụng biên của tiêu dùng, do đó, gia tăng. Để làm
giảm bớt tác động tiêu cực của giảm thu nhập, cá nhân sẵn sàng làm việc nhiều hơn và
tiêu dùng nhiều hơn, điều này sẽ dẫn đến sự gia tăng trong tiêu dùng.
Hình (21) - (24) hiển thị những phản ứng của các chỉ số kinh tế vĩ mô khi có sự đổi mới
về thuế thu nhập doanh nghiệp. Các phản ứng cho thấy một sự thay đổi đồng biến đáng
kể của ở tất cả các nước, ngoại trừ Anh. Điều này có thể, một lần nữa, được giải thích bởi
hiệu ứng tài sản và hiệu ứng đầu ra âm. Ở đây, các hiệu ứng tài sản chiếm ưu thế hơn
hiệu ứng thu nhập ở Canada, Pháp và Mỹ. Hơn nữa, cần tiếp tục lưu ý rằng sự gia tăng
thuế thu nhập từ vốn sẽ được phản ánh vào giá. Nó sẽ làm giảm sức mua của tiền lương
thực sau thuế và do đó tác động tích cực đến sản lượng. Kết quả là, sự gia tăng thuế thu
nhập doanh nghiệp sẽ dẫn đến một hiệu ứng tác động tăng lên GDP và tất cả các thành
phần tư nhân của GDP. Như vậy, sau khi tăng tác động, tiêu dùng tư nhân và đầu tư tư
nhân sẽ giảm trong trung và dài hạn ở Mỹ. Tuy nhiên, tác động tích cực đáng kể về đầu
tư kéo dài gần ba năm ở Canada trong khi tiêu dùng gia tăng không đáng kể. Ở đây, lưu ý
rằng kết quả của chúng tôi là phù hợp với Arin và Koray (2006) và Heppke-Falk et al.
(2006). Điều cũng đáng nói đến là đổi mới thuế thu nhập doanh nghiệp có tác động tích
cực đến lãi suất danh nghĩa trong ba quốc gia (Canada, Pháp và Mỹ) do sự gia tăng trong
thu nhập và đầu tư; và hiệu ứng tác động không đáng kể ở Vương quốc Anh.
5. Kiểm tra thô
Nhóm 3 – Ngân hàng Đêm 5 – K20 12
Tôi thực hiện một loạt các kiểm tra thô với 5 đặc điểm kỹ thuật VAR. Đầu tiên, sử dụng
một trật tự khác nhau của các biến chi phí khi xác định các đột biến. Cho đến nay, chi
tiêu chính phủ được xếp vị trí đầu tiên. Tuy nhiên, không có cơ sở cho việc lựa chọn quá
trình tìm kiếm các vector trực giao đối với những cái còn lại như đã đề cập trong Perotti

Nhóm 3 – Ngân hàng Đêm 5 – K20 13
thuế ròng và kiểm tra tác động của chúng đối với tổng thể nền kinh tế, cung cấp một hình
ảnh chính xác hơn so với việc xem thuế ròng như một chính sách tài khóa.
Các kết luận chính của phân tích có thể được tóm tắt như sau:
1) Phân tách sự đổi mới tổng số thuế ròng cho thấy các thành phần thuế ròng có tác động
khác nhau về các biến số kinh tế;
2) Quy mô và độ bền của những tác động khác nhau giữa các quốc gia tùy thuộc vào tác
động khác nhau (ví dụ sự giàu có tiêu cực và tác động sản lượng, tác động thay thế và tác
động thu nhập) tùy thuộc cấu trúc của các nền kinh tế;
3) Số nhân thuế dương báo cáo trong các nghiên cứu trước đây chỉ được tìm thấy cho
thuế thu nhập doanh nghiệp ở Mỹ, Canada và Pháp và thuế an sinh xã hội ở Mỹ;
4) Khi xem xét các lý thuyết vĩ mô liên quan, một mặt, chúng tôi thấy rằng ở Anh và Mỹ,
đầu tư tư nhân bị hất ra bởi do tăng thuế và chi tiêu của chính phủ ở Anh và Mỹ là phù
hợp với mô hình tân cổ điển. Mặt khác, kết quả của chúng tôi ở nước Pháp và một phần
Canada chỉ ra rằng có những tác động ngược lại thuế và chi tiêu làm gia tăng đầu tư tư
nhân là phù hợp với lý thuyết Keynes.
5) Tiêu dùng tư nhân được tăng do giảm chi tiêu chính phủ cho tất cả các quốc gia ngoại
trừ Anh, và giảm do tăng thuế tại tất cả các quốc gia, ngoại trừ Pháp. Trong khi kết quả
trước đây là phù hợp với một mô hình Keynes, kết quả sau này là phù hợp với thuyết tân
cổ điển.
Các phân tích làm sáng tỏ việc giải thích của số nhân thuế ròng dương tìm thấy trong các
tài liệu hiện có. Phân tách của sự đổi mới thuế ròng sẽ giúp chúng tôi đánh giá tốt hơn tác
động của những cú sốc chính sách tài khóa lên nền kinh tế vĩ mô, và, do đó, quan trọng là
chúng ta hiểu được mức độ mà tăng thuế ròng được quyết định bởi một cú sốc này hay
một cú sốc khác.
Những phát hiện trong bài viết này cũng cho thấy phương pháp tiếp cận mô hình tài
chính hiện thời phải được xem xét lại. Đầu tiên, kết quả cho thấy việc áp dụng các lý
thuyết kinh tế vĩ mô hiện tại dựa trên giả định những thay đổi của "tổng" thuế có thể
không rõ ràng. Khi kiểm tra cơ chế truyền tải của những cú sốc chính sách tài khóa, kết
quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy xem xét những cú sốc thuế ròng như truyền thống


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status