- 1 -
Mở ĐầU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, hoạt động của bọn tội phạm cớp giật tài sản
trên phạm vi cả nớc diễn biến rất phức tạp, có chiều hớng gia tăng đáng lo ngại.
Đây là một loại tội phạm hình sự nguy hiểm thuộc nhóm tội phạm từ nghiêm
trọng đến đặc biệt nghiêm trọng theo Bô luật Hình sự năm 1999, thờng do bọn
lu manh chuyên nghiệp gây ra, hoạt động của bọn chúng chủ yếu theo băng,
nhóm và có tính manh động cao, gây ra nhiều thiệt hại nghiêm trọng về tài sản,
gây tâm lý hoang mang trong nhân dân, ảnh hởng lớn đến ANTT. Địa bàn tỉnh
Bình Dơng có tốc độ phát triển kinh tế rất nhanh, đã thu hút nhiều ngời lao động
từ các tỉnh, thành phố trong cả nớc nhập c đến tỉnh Bình Dơng để lao động và
sinh sống từ đó tạo ra áp lực rất lớn về ANTT nhất là lĩnh vực TTATXH. Các
năm gần đây tình hình tội phạm hình sự trên địa bàn Bình Dơng, trong đó loại
tội phạm cớp giật tài sản diễn biến phức tạp và có xu hớng gia tăng về số vụ và
nghiêm trọng về tính chất. Trong khoảng thời gian từ năm 2002 đến năm 2005
số vụ cớp giật tài sản xảy ra dao động từ 31 vụ đến 45 vụ hàng năm, nhng năm
2006 số vụ cớp giật tài sản tăng đột biến với 86 vụ.
Trớc tình hình đó, những năm qua, thực hiện Nghị quyết 09/1998/NQ-CP
ngày 31-7-1998 của Chính phủ về Chơng trình Quốc gia phòng chống tội phạm,
Tổng cục CSND đã đặc biệt coi trọng công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội
phạm cớp giật tài sản, coi đây là một trong những công tác trọng tâm của lực l-
ợng CSND. Cục CSHS (nay là Cục CSĐT tội phạm về TTXH) thờng xuyên tập
hợp, ra thông báo về tình hình tội phạm cớp giật tài sản để chỉ đạo lực lợng
CSHS (nay là CSĐT tội phạm về TTXH) các địa phơng trong công tác phòng
chống cớp giật tài sản theo chuyên đề. Công an tỉnh Bình Dơng cũng ra nhiều
kế hoạch chỉ đạo công tác đấu tranh với loại tội phạm này. Lực lợng CSHS (nay
là CSĐT tội phạm về TTXH) Công an tỉnh Bình Dơng cũng có nhiều kế hoạch
- 2 -
mở nhiều đợt tấn công tội phạm trong đó có tập trung lực lợng, áp dụng nhiều
biện pháp nghiệp vụ, nỗ lực đấu tranh với loại tội phạm cớp giật tài sản mang lại
- Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thu thập, bảo quản và xử
lý vật chứng trong điều tra các vụ án buôn lậu trên địa bàn Thành phố Hồ Chí
Minh, luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Trọng Tân, bảo vệ năm 2000.
- Chiến thuật truy tìm vật chứng trong hoạt động điều tra các vụ án hình
sự của cơ quan điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh luận văn thạc sĩ của
tác giả Nguyễn Văn Tuấn, bảo vệ năm 2001.
- Hoạt động thu thập, bảo quản và xử lý vật chứng trong điều tra các vụ
án hình sự theo chức năng của lực lợng Cảnh sát nhân dân công an tỉnh Thanh
Hóa - Thực trạng và giải pháp luận văn thạc sĩ của tác giả Hoàng Trung Thực,
bảo vệ năm 2005
Ngoài ra, còn một số bài đăng trên các tạp chí khoa học CAND, khoa học
giáo dục trật tự xã hội và trong kỷ yếu một số hội thảo của Bộ Công an. Tuy
nhiên, các đề tài nghiên cứu trên mới đề cập đến công tác thu thập, bảo quản và
xử lý vật chứng trong điều tra một loại án cụ thể khác hay ở một địa phơng hoặc
đề cập chiến thuật truy tìm vật chứng trong điều tra vụ án nói chung mà cha có
tác giả nào nghiên cứu đề tài: Nâng cao hiệu quả hoạt động phát hiện, thu thập,
bảo quản và xử lý vật chứng trong điều tra các vụ án cớp giật tài sản trên địa
bàn tỉnh Bình Dơng. Vì vậy, đây là đề tài không trùng lập với các đề tài đã
công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
-Mục đích nghiên cứu: Làm rõ và hoàn thiện lý luận; khảo sát và
đánh giá đúng thực trạng, tìm ra nguyên nhân, trên cơ sở đó đề xuất một số giải
- 4 -
pháp nâng cao hiệu quả về hoạt động phát hiện, thu thập, bảo quản và xử lý vật
chứng trong điều tra các vụ án cớp giật tài sản trên địa bàn tỉnh Bình Dơng của
lực lợng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội trong thời gian tới.
- Để đạt đợc mục đích trên, đề tài đi sâu giải quyết các nhiệm vụ cơ bản
sau đây:
+ Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận có liên quan đến tội phạm cớp
giật tài sản; hoạt động phát hiện, thu thập, bảo quản và xử lý vật chứng trong
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài luận văn
- ý nghĩa lý luận: Nghiên cứu đề tài góp phần hoàn thiện về mặt lý luận,
làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo giảng dạy trong các trờng CAND.
- ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần nâng cao
nhận thức và quy trình, biện pháp công tác đối với cán bộ, chiến sĩ Công an tỉnh
Bình Dơng nhằm nâng cao hiệu quả phát hiện, thu thập, bảo quản và xử lý vật
chứng trong trong điều tra vụ án cớp giật tài sản trên địa bàn tỉnh Bình Dơng và
có thể tham khảo cho Công an các đơn vị, địa phơng trong toàn quốc.
8. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục
đề tài đợc cấu trúc thành 03 chơng.
- 6 -
Chơng 1. Nhận thức chung về tội phạm cớp giật tài sản và hoạt động phát
hiện, thu thập, bảo quản và xử lý vật chứng trong điều tra các vụ án cớp giật tài
sản.
Chơng 2. Thực trạng Tình hình tội phạm cớp giật tài sản và hoạt động
phát hiện, thu thập, bảo quản và xử lý vật chứng trong điều tra các vụ án cớp
giật tài sản trên địa bàn tỉnh Bình Dơng.
Chơng 3. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phát hiện, thu thập, bảo
quản và xử lý vật chứng trong điều tra vụ án cớp giật tài sản trên địa bàn tỉnh
Bình Dơng
Chơng 1
Nhận thức chung về tội phạm cớp giật tài sản và
hoạt động phát hiện, thu thập, bảo quản và xử lý
- 7 -
vật chứng trong điều tra vụ án cớp giật tài sản
1.1. Nhận thức chung về tội phạm cớp giật tài sản
1.1.1. Khái niệm tội phạm cớp giật tài sản
Tội phạm cớp giật tài sản đợc quy định tại Điều 136 Bộ luật Hình sự n-
ớc Cộng hoà XHCN Việt Nam năm 1999 nh sau:
Trong điều luật không mô tả hành vi cớp giật tài sản đợc thực hiện nh
thế nào, nhng căn cứ vào lý luận và thực tiễn điều tra và xét xử thì cớp giật tài
sản đợc hiểu là hành vi công khai, nhanh chóng giật lấy tài sản trên ngời của
ngời khác hoặc đang trong sự quản lý của ngời có trách nhiệm quản lý đối với
tài sản đó rồi nhanh chóng tẩu thoát mà không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng
vũ lực hoặc bất cứ thủ đọan nào nhằm uy hiếm tinh thần của ngời quản lý tài
sản. Nh vậy, có thể rút ra định nghĩa tội phạm cớp giật tài sản nh sau: Cớp giật
tài sản là hành vi nhanh chóng giật lấy tài sản của ngời khác một cách công
khai rồi nhanh chóng tẩu thoát. Tội phạm cớp giật tài sản có các đặc điểm
pháp lý nh sau:
* Khách thể của tội phạm: Tội phạm cớp giật tài sản xâm hại trực tiếp
đến quyền sở hữu tài sản của ngời khác đợc luật hình sự bảo vệ, mặt khác
trong nhiều trờng hợp các vụ cớp giật tài sản đã gây ra nhhững hậu quả
nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe của ngời bị hại nh các vụ cớp giật tài
sản của ngời đang điều khiển xe môtô làm cho họ ngã xe gây thơng tích, rất
nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của họ. Mặc dù những hiệt hại về tính
- 9 -
mạng, sức khỏe không phải là đối tợng mà ngời phạm cớp giật tài sản nhằm
vào, nhng trớc khi thực hiện hành vi cớp giật tài sản ngời phạm tội nhận thức
đợc tính chất nguy hiểm của hành vi và hậu quả nguy hiểm của hành vi nhng
vẫn thực hiện, muốn ra sao thì ra. Do vậy Bộ luật Hình sự năm 1999 đa vào
trong cấu thành tội phạm dấu hiệu về thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của
ngới khác và coi đây là những tình tiết định khung hình phạt. Nh vậy khách
thể của tội phạm cớp giật tài sản cùng một lúc xâm hại đến hai khách thể là
quan hệ sở hữu và quan hệ nhân nhân, nhng chủ yếu là xâm hại quan hệ sở
hữu về tài sản của ngời khác .
*Mặt khách quan của tội phạm: Có các dấu hiệu sau:
- Hành vi giật tài sản một cách công khai: Đây là hành vi đặc trng của
tội phạm cớp giật tài sản, thể hiện là giằng mạnh lấy tài sản về mình một cách
nhanh chóng, tức thì. Hành vị giật tài sản nhanh chóng đã tạo ra yếu tố bất ngờ
tội cớp giật tài sản, dấu hiệu này để phân biệt với trờng hợp phạm tội công
nhiên chiếm đoạt tài sản.
Nhiều trờng hợp ngời phạm tội lúc đầu chỉ có ý định cớp giật tài sản nh-
ng trog quá trình thực hiện hành vi bị ngời quản lý tài sản chống cự giữ lấy
hoặc giằng lấy lại tài sản, ngời phạm tội đã có hành vi dung vũ lực hoặc đe
dọa dùng vũ lực ngay tức khắc để chiếm đoạt bằng đợc tài sản thì hành vi
phạm tội không còn là hành vi cớp giật tài sản mà hành vi này đã là hành vi c-
ớp tài sản (đây là sự chuyển hóa từ tội phạm này sang tội phạm cớp tài sản)
Do đặc trng là nhanh chóng giật tài sản, nhanh chóng tẩu thoát nên đối
tợng của tội phạm cớp giật tài sản thờng là những tài sản gọn nhẹ, có giá trị,
dễ giật lấy và dễ mang đi khi tẩu thoát nh: Túi sách, dây chuyền, bông tai,
đồng hồ. Tuy nhiên cũng có trờng hợp ngời phạm tội cớp giật tài sản cả
những tài sản kồng kền nh: Xe môtô, xe đạp nhng tài sản này cũng dể mang đi
- 11 -
vì sau khi giật đợc loại tài sản này thì ngời phạm tội lại dùng ngay hừng tài
sản giật đợc làm phơng tiện tẩu thoát.
- Hậu quả của tội phạm cớp giật tài sản trớc hết là những thiệt hại về tài
sản, ngoài ra còn có những thiệt hại về tính mạng sức khỏe hoặc những thiệt
hại khác. Tuy điều luật không quy định, nhng về mặt lý luận tội phạm cớp giật
tài sản có cầu thành vật chất, do đó chỉ khi đã cớp giật đợc tài sản thì tội phạm
cớp giật tài sản mới hoàn thành, nếu có hành vi giật nhng cha giật đợc tài sản
thì thuộc trờng hợp phạm tội cha đạt. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt không phải
là hấu hiệu cấu thành tội phạm cớp giật tài sản nh đối với tội trộm cắp, tội
công nhiên chiếm đoạt, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sảnDo đó ngời phạm tội
cớp giật tài sản có giá trị lớn hay giá trị rất nhỏ vẫn là phạm tội cớp giật tài
sản. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt và các thiệt hại về tính mạng, sức khỏe hoặc
các thiệt hại khác chỉ là tình tiết định khung tăng nặng hình phạt thuộc các
Khoản 2, Khoản 3 hoặc Khoản 4, Điều 136 Bộ luật hình sự.
*Mặt chủ quan: Tội phạm đợc thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp với động
cơ, mục đích vụ lợi, ngời phạm tội nhận thức đợc tính chất nguy hiểm của
sau xe máy hoặc xe đạp làm cho nạn nhân bị ngã
Năm là, hành hung để tẩu thoát: Đây là trờng hợp sau khi giật đợc tài
sản, ngời phạm tội bị đuổi bắt hoặc đã bị bắt đã có hành vi dùng vũ lực sức
mạnh chống lại việc bắt giữ của ngời quản lý tài sản hoặc ngời khác để tẩu
thoát. Việc chống trả này không đòi hỏi có gây thơng tích đáng kể không, mục
đích chống trả là nhằm tẩu thoát. Nếu dùng vũ lực chống lại ngời quản lý tài
sản hoặc ngời khác nhằm để chiếm đoạt bằng đợc tài sản vừa cớp giật đợc thì
đã chuyển hóa sang tội cớp tài sản.
- 13 -
Sáu là, gây thơng tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của ngời khác mà tỉ lệ
thơng tật từ 11% đến 30%: Đây là trờng hợp không chỉ do thực hiện hành vi
giật tài sản gây thơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của ngời quản lý tài
sản mà bao gồm cả trờng hợp sau khi giật đợc tài sản, ngời phạm tội có hành
vi hành hung để tẩu thoát nên đã gây thơng tích hoặc tổn hại đến sức khoẻ của
ngời quản lý tài sản hoặc của ngời khác và phải có tỷ lệ từ thơng tật từ 11%
đến 30 %.
Bảy là, chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng đến dới 200 triệu đồng:
Việc xác định giá trị tài sản là căn cứ vào giá thị trờng vào thời điểm phạm tội.
Trong trờng hợp các cơ quan tiến hành tố tụng không tự mình xác định đợc giá
trị tài sản thì phải trng cầu giám định (định giá).
Tám là, gây hậu quả nghiêm trọng: Khi xác định cần căn cứ vào các
thiệt hại về thể chất, về tài sản, phi vật chất do hành vi cớp giật tài sản gây ra.
Đây là trờng hợp do hành vi phạm tội cớp giật tài sản nên đã gây những thiệt
hại khác ngoài những thiệt hại đã đợc quy định là yếu tố định tội hoặc định
khung hình phạt. Hậu quả nghiêm trọng do hành vi cớp giật tài sản gây ra nh:
Gây thơng tích hoặc gây tổn hai sức khỏe cho nhiều ngời với tỉ lệ thơng thơng
tật mỗi ngời dới 11%, nhng tổng tỉ lệ thơng tật của tất cả những ngời này từ
11% đến 30%; gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mơi triệu đồng chó đến
duới hai trăm triệu đồng, nhng không phải là giá trị tài sản mà ngời phạm tội
cớp giật; các thiệt hại phi vật chất nh ảnh hởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn
có ý nghĩa rất quan trọng, bởi vì kết quả chứng minh có thể dẫn đến đình chỉ
điều tra nếu vụ án cớp giật khi trên thực tế không xảy ra. Trong giai đoạn này
Cơ quan điều tra phải khẩn trơng xác minh làm rõ có hành vi cớp giật tài sản
xảy ra hay không, hay chỉ là vụ báo cớp giật tài sản giả tạo để nhằm chiếm đoạt
- 15 -
tài sản của cơ quan đơn vị, cá nhân khác hoặc do các lý do khác. Điều tra viên
phải tiến hành nhiều biện pháp điều tra nh khám nghiệm hiện trờng, lấy lời
khai ngời làm chứng, ngời bị hại để thu thập những tài liệu chứng cứ chứng
minh có hay không có hành vi công khai nhanh chóng giật lấy tài sản đang do
ngời khác quản lý rồi tẩu thoát.
- Thời gian và địa điểm xảy ra: Điều tra viên cần phải làm rõ thời gian
và địa điểm cụ thể đã xảy ra hành vi cớp giật tài sản . Việc làm rõ vấn đề này
là cơ sở để tiến hành các hoạt động điều tra ban đầu, các biện pháp trinh sát hỗ
trợ đồng thời là cơ sở phục vụ cho công tác phòng ngừa tội phạm cớp giật
tài sản
- Phơng thức, thủ đoạn gây án: Điều tra viên tiến hành các biện pháp
điều tra để làm rõ thủ phạm đã thực hiện hành vi phạm tội cớp giật tài sản
bằng phơng thức, thủ đoạn nào, qua các giai đoạn phạm tội nh thế nào, tính
chất, mức độ nguy hiểm của hành vi đó
- Công cụ, phơng tiện và vũ khí gây án: Trong quá trình điều tra phải làm
rõ các đối tợng đã sử dụng các loại công cụ, phơng tiện và vũ khí gì để thực hiện
hành vi phạm tội, làm rõ đặc điểm, chủng loại, nguồn gốc của các loại công cụ,
phơng tiện và vũ khí đó. Bên cạnh đó cần phải nhanh chóng phát hiện và thu giữ để
làm chứng cứ chứng minh sự thật của vụ án.
- Những tài sản bị chiếm đoạt: Bằng các biện pháp điều tra cần phải làm
rõ những tài sản nào đã bị chiếm đoạt và đặc điểm, số lợng, chủng loại, giá trị,
nguồn gốc của những tài sản đó. Mặt khác cũng cần phải kịp thời, nhanh
chóng phát hiện, thu hồi và trao trả lại tài sản cho ngời bị hại.
- Ai là ngời đã thực hiện hành vi phạm tội, có đồng phạm hay không:
Trong quá trình điều tra, điều tra viên cần phải chứng minh làm rõ ai là thủ
- 17 -
1.1.3.1. Giai đoạn điều tra ban đầu nhằm xác định tội phạm và ngời đã
thực hiện hành vi phạm tội: Giai đoàn này Cơ quan điều tra thực hiện các nội
dung nh sau:
*Tiếp nhận tin, kiểm tra và xử lý tin báo, tố giác về tội phạm cớp giật
tài sản nhằm xác định có tội phạm cớp giật tài sản xảy ra hay không, nếu có
tội phạm cớp giật tài sản xảy ra thì tiến hành khởi tố vụ án.
- Tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm cớp giật tài sản: Thực tiễn hoạt động
điều tra cho thấy, tin báo tố giác về vụ án cớp giật tài sản thờng từ những nguồn
sau:
+ Lời trình báo của ngời bị hại, ngời chứng kiến, ngời biết việc,
+ Tài liệu về vụ án cớp giật tài sản bị bắt quả tang,
+ Báo cáo của cán bộ chiến sỹ cảnh sát bảo vệ trật tự giao thông, trật tự
công cộng về những vụ cớp giật xảy ra,
+ Tài liệu về những vụ án cớp giật tài sản xảy ra thu đợc từ công tác điều
tra các vụ án khác.
- Kiểm tra và xử lý tin báo về cớp giật tài sản : Để đảm bảo tính chính
xác của nguồn tin, điều tra viên có thể tiến hành các biện pháp kiểm tra và thu
thập tài liệu nh:
+ Trực tiếp gặp ngời bị hại, hoặc ngời trình báo để lấy lời khai làm rõ về
diễn biến vụ án, đặc điểm đối tợng phạm tội, phơng thức thủ đoạn cớp giật tài
sản, đặc điểm và giá trị tài sản bị chiếm đoạt, công cụ phơng tiện thực hiện tội
phạm, những thơng tích tội phạm gây ra, có những ai chứng kiến, làm rõ những
mâu thuẫn trong lời trình báo của họ về nội dung cũng nh những tình tiết khác
của của vụ cớp giật tài sản đã xảy xảy ra.
+ Xác định và lấy lời khai ngời làm chứng làm rõ diễn biến vụ án, quan
sát sơ bộ hiện trờng vụ án, có thể tiến hành khám nghiệm hiện trờng.
- 18 -
- Tiến hành những biện pháp cấp bách: Sau khi tiếp nhận báo tố giác,
điều tra viên gọi điện thoại hoặc bằng các hình thức thích hợp khác đề nghị
+ Giả thuyết về tài sản bị chiếm đoạt, nơi cất giấu và tiêu thụ tài sản
chiếm đoạt đợc.
+ Giả thuyết về thủ phạm của vụ cớp giật: Số lợng, độ tuổi, tính chuyên
nghiệp, mối quan hệ của thủ phạm với địa bàn và ngời bị hại, có liên quan với
những vụ án cớp giật tài sản trớc đó hay không, có tiếp tục gây án hay không.
Tùy theo mức độ tài liệu, chứng cứ thu thập đợc mà đa ra ít hay nhiều giả
thuyết và chi tiết hoá những giả thuyết đó. Trên cơ sở những giả thuyết điều tra,
điều tra viên dự kiến những biện pháp điều tra phải tiến hành để kiểm tra từng
giả thuyết, những biện pháp trinh sát hỗ trợ, những phơng tiện kỹ thuật, tài
chính cần thiết cho hoạt động điều tra.
* Tiến hành các hoạt động điều tra để làm rõ đối tợng gây án.
Khi điều tra những vụ án cớp giật xảy ra, căn cứ vào đặc điểm vật chứng
vụ án và đối tợng cớp giật tài sản do bị hại và ngời biết việc cung cấp, điều tra
viên tiến hành các biện pháp điều tra thu thập chứng cứ làm rõ đối tợng đã gây
ra vụ cớp giật tài sản. Thờng tiến hành hoạt động điều tra làm rõ đối tợng gây ra
vụ cớp giật tài sản theo hai hớng sau:
- Điều tra theo đặc điểm đối tợng phạm tội: Điều tra viên cần tập trung
vào những nhóm đối tợng có khả năng gây ra vụ án cớp giật tài sản nh:
+ Những đối tợng hình sự nổi trong diện quản lý trong địa bàn xảy ra vụ
án. Trong đó đặc biệt chú ý đến những đối tợng có nhiều tiền án, tiền sự về, cớp
- 20 -
giật tài sản, tội trộm cắp, cớp, những đối tợng nghiện ma túy, đối tợng không có
nghề nghiệp mà có những dấu hiệu nh: Có mặt ở hiện trờng khi vụ án cớp
giật tài sản xảy ra; có đặc điểm nhân dạng giống với đặc điểm nhân dạng của
thủ phạm; có sử dụng loại phơng tiện cùng loại phơng tiện mà thủ phạm sử
dụng để gây án; có bất minh về kinh tế; có biểu hiện đặc điểm tâm lý khác th-
ờng sau khi vụ án cớp giật xảy ra...
+ Nhóm những đối tợng hoạt động lu động, những đối tợng từ các địa
bàn bàn khác đến gây án. Đối tợng cớp giật thờng thực hiện hành vi cớp giật tài
sản tại các địa bàn khác nơi sinh sống của mình nh thực hiện ở địa bàn xã khác,
+ Gửi thông báo truy tìm vật chứng (tài sản bị chiếm đoạt, những công
cụ, phơng tiện phạm tội) của vụ án cớp giật đến Công an các đơn vị, địa phơng
trong và ngoài tỉnh, trong đó chú ý những đơn vị cơ sở ở những địa bàn mà nhận
định thủ phạm có thể cất giấu hoặc tiêu thụ.
+ Sử dụng mạng lới bí mật để truy tìm: Phổ biến đặc điểm tài sản, công
cụ, phơng tiện cần tìm cho đặc tình, hoặc cơ sở bí mật và yêu cầu những lực l-
ợng này bám sát địa bàn cất giấu, tiêu thụ để truy tìm.
+ Tổ chức kiểm tra, giám sát chặt chẽ những địa bàn có thể đối tợng
mang đến cất giấu hoặc tiêu thụ để truy tìm.
+ Yêu cầu cảnh sát giao thông truy tìm phơng tiện giao thông mà thủ
phạm sử dụng để gây án bằng các biện pháp tuần tra, kiểm soát các phơng tiện
giao thông.
1.1.3.2. Giai đoạn điều tra tiếp theo nhằm chứng minh tội phạm và ngời
thực hiện hành vi phạm tội
Dựa trên cơ sở phân tích, tổng hợp những tài liệu chứng cứ thu thập đợc
từ việc tiến hành các biện pháp điều tra trong giai đoạn điều tra ban đầu, nếu có
đủ cơ sở khẳng định đối tợng là thủ phạm của vụ án cớp giật thì phải lập kế
- 22 -
hoạch phá án, trong đó cần xác định những nhiệm vụ chính của hoạt động điều
tra trong giai đoạn này là ra quyết định khởi tố bị can, tiến hành bắt, khám xét,
hỏi cung bị can, và các biện pháp điều tra khác để thu thập tài liệu chứng cứ làm
rõ nội dung của vụ án nh:
- Bắt, khám xét:
Trớc khi bắt bị can, điều tra viên cần thu thập những tài liệu cần thiết về
bị can để làm rõ tâm trạng, hoạt động của bị can trớc khi chạy trốn, các mối
quan hệ của bị can, đặc điểm cá nhân, thói quen của bị can Những thông tin
này có thể thu thập qua hệ thống tàng th hình sự, qua những ngời thân quen,
đồng bọn cũ của bị can và những ngời xung quanh. Trên cơ sở những thông tin,
tài liệu thu thập đợc về bị can, điều tra viên đa ra giả thuyết về địa bàn ẩn náu
và tiếp tục hoạt động của bị can, từ đó cử những cán bộ diều tra, trinh sát có
án bằng việc ra một trong các quyết định sau đây: Đình chỉ điều tra vụ án khi có
một trong những căn cứ quy định tại Khoản 2, Điều 164 Bộ luật tố tụng hình sự;
làm bản kết luận điều tra và đề nghị truy tố đối với những trờng hợp có đầy đủ
những chứng cứ để xác định có tội phạm và bị can.
1.2. Nhận thức chung về vật chứng và hoạt động phát hiện, thu thập,
bảo quản và xử lý vật chứng trong điều tra vụ án cớp giật tài sản
1.2.1. Nhận thức chung về vật chứng
1.2.1.1. Khái niệm, phân loại vật chứng
* Khái niệm vật chứng: Điều 74 Bộ luật TTHS năm 2003 có quy định
vật chứng nh sau: Vật chứng là những vật dùng làm công cụ, phơng tiện
- 24 -
phạm tội, vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tợng của tội phạm cũng nh
tiền bạc và vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và ngời phạm tội. [5, tr
59]
Vật chứng, trớc hết phải là những vật thể nh: Cây dao, súng, xe máy, điện
thoại di động, kể cả tiền, vàng bạc Chúng tồn tại dới dạng vật chất và con ng-
ời có thể nhận biết đợc, mô tả đợc. Những vật nêu trên đợc ngời phạm tội dùng
làm công cụ, phơng tiện phạm tội; là đối tợng của tội phạm hoặc mang các dấu
vết tội phạm. Nói cách khác, những vật cụ thể đó chứa đựng các thông tin có giá
trị chứng minh tội phạm và ngời thực hiện hành vi phạm tội. Trên thực tế các
thông tin về tội phạm và ngời thực hiện hành vi phạm tội đợc phản ánh dới các
dạng khác nhau. Trong đó, dạng phản ánh vật chất thông qua những vật cụ thể
chính là vật chứng.
Tuy nhiên, không phải tất cả những vật tồn tại dới dạng vật chất đợc ngời
phạm tội dùng làm công cụ, phơng tiện phạm tội đều là vật chứng. Việc xác
định một vật cụ thể nào đó là vật chứng còn phụ thuộc vào tính đúng đắn, tính
hợp pháp của biện pháp thu thập đối với vật đó. Điều này có nghĩa là, nếu
những vật nào đó không đợc thu thập theo đúng trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố
tụng hình sự thì vật đó không phải là vật chứng.
Trên thực tế khi nhận thức về vật chứng nhiều ngời thờng hay gọi vật
tội sử dụng có tính chất hổ trợ để đạt đợc mục đích hoặc nhanh chóng đạt đợc
mục đích đã đề ra (chẳng hạn, ngời phạm tội dùng xe máy, xe ô tô để di chuyển
đến địa điểm gây án theo kế hoạch hoặc nhanh chóng tẩu thoát khỏi hiện trờng
sau khi gây án; điện thoại di động mà bọn tội phạm dùng để thông tin với nhau
về thời gian, địa điểm)
Căn cứ khái niệm trên, thì con dao, khẩu súng, xe máy, ô tô, điện thoại di
động đều là vật chứng, nhng xét về mục đích sử dụng khi gây án, chúng ta có