Thúc đẩy phát triển kinh doanh máy tính thương hiệu Việt Nam - Pdf 26


- 1 -
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH, HỘI NHẬP
QUỐC TẾ VÀ THƯƠNG HIỆU 1

1.1. Lý thuyết về hội nhập kinh tế quốc tế 1
1.1.1. Khái niệm và các hình thức hội nhập kinh tế quốc tế 1
1.1.2. Những hàng rào thương mại áp dụng trong hội nhập 2
1.1.3. Cơ hội và thách thức trong hội nhập kinh tế quốc tế đối với Việt Nam 3
1.2. Lý thuyết về Lợi thế cạnh tranh quốc gia của MICHAEL PORTER 7
1.2.1. Mô hình “kim cương” 7
1.2.2. Cải thiện môi trường doanh nghiệp 10
1.2.3. Các giai đoạn tham gia cạnh tranh 11
1.2.4. Đánh giá về mô hình “kim cương” của Porter 12
1.3. Thương hiệu và đăng ký bảo hộ thương hiệu 13
1.3.1. Khái niệm 13
1.3.2. Vai trò thương hiệu và giá trị tài sản thương hiệu 13
1.3.3. Đăng ký bảo hộ thương hiệu 17
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 18
CHƯƠNG 2. ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG KINH DOANH MÁY TÍNH THƯƠNG
HIỆU VIỆT NAM VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA HỘI NHẬP QUỐC TẾ 19

2.1. Hiện trạng kinh doanh máy tính thương hiệu Việt Nam 19
2.1.1. Thị trường máy tính Việt Nam 19
2.1.2. Hiện trạng kinh doanh máy tính thương hiệu Việt Nam 24
2.2. Những ảnh hưởng của hội nhập quốc tế đến kinh doanh máy tính
thương hiệu Việt Nam 27
2.2.1. Thuế nhập khẩu và VAT 27
2.2.2. Sở hữu trí tuệ 28

Phụ lục - 3 -
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài:

Máy tính là một thành phần cơ bản thuộc cơ sở hạ tầng của ngành công nghệ
thông tin (CNTT), có vai trò quan trọng trong việc ứng dụng CNTT vào đời sống
kinh tế - xã hội và mang lại những hiệu quả có ý nghĩa to lớn.
Thị trường máy tính Việt Nam đang rất sôi động với hàng trăm nhà cung cấp
để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội. Ngoài máy tính thương hiệu nước
ngoài đã xây dựng được một sự nhận biết khá rộng rãi, người tiêu dùng rất bối rối
trước quá nhiều lựa chọn của những máy tính lắp ráp trong nước được cho là ngang
bằng nhau, họ chưa nhận biết được sản phẩm với thương hiệu nào sẽ mang lại chất
lượng ổn định, dịch vụ chu đáo.
Máy tính thương hiệu Việt Nam với sự cam kết về chất lượng, dịch vụ của
các doanh nghiệp Việt Nam đã hình thành từ cuối những năm 1990, qua quá trình
phát triển đã đạt được một thị phần khá khiêm tốn, ước chừng 15-20% thị trường
máy tính Việt Nam.
Với mong muốn máy tính thương hiệu Việt do những doanh nghiệp Việt
Nam có tâm huyết xây dựng sẽ phát triển vững chắc hơn, người tiêu dùng sẽ dễ
dàng ra quyết định trong việc mua sắm hơn với những máy tính Việt Nam có
thương hiệu nổi trội, tôi thực hiện đề tài “Một số giải pháp thúc đẩy phát triển
kinh doanh máy tính thương hiệu Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế”
cho Luận văn cao học của mình. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu :

việc kinh doanh, bảo hành, lắp ráp của một doanh nghiệp làm máy tính thương hiệu
Việt; với người sử dụng máy tính thông thường,…
- Các phương pháp khác: như phương pháp tổng hợp, phân tích, suy
diễn, logic, …

- 5 -

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:

- Tổng quát, đánh giá được tình hình cung - cầu của thị trường máy tính Việt
Nam, tình hình kinh doanh máy tính thương hiệu Việt, ….
- Phân tích những ảnh hưởng của hội nhập, phân tích SWOT của kinh doanh
máy tính thương hiệu Việt.
- Đề xuất được các định hướng và giải pháp cụ thể để phát triển kinh doanh
máy tính thương hiệu Việt.

6. Hạn chế của đề tài:

Luận văn chưa tiến hành điều tra được nhiều các doanh nghiệp làm máy tính
thương hiệu Việt để hiểu được những khó khăn, thuận lợi cụ thể của họ trong quá
trình kinh doanh; chưa điều tra đầy đủ các nhóm khách hàng là các doanh nghiệp,
các cơ quan chính phủ,… để có đánh giá tốt hơn về yêu cầu của người sử dụng đối
với mặt hàng máy tính, để có cơ sở làm cho đề tài hoàn thiện hơn.

7. Kết cấu nội dung:

Nội dung luận văn gồm có 3 phần chính với kết cấu theo 3 chương như sau:

xuất khẩu cho bất cứ thành viên nào trong nhóm.
- Thị trường chung: là một hình thức hội nhập mang các đặc tính:
• Không có hàng rào thương mại giữa các thành viên
• Một chính sách thương mại chung đối với những nước bên ngoài
• Tính chuyển động của những yếu tố sản xuất giữa các nước thành viên
Một thị trường chung cho phép xác định thực những tiềm lực của sản xuất
như vốn, lao động, kỹ thuật dựa trên cơ sở lý thuyết của những lợi thế tương đối.
- Liên minh kinh tế: là một hình thức sâu hơn của hội nhập kinh tế có đặc
tính là việc di chuyển hàng hóa, dịch vụ và những yếu tố sản xuất giữa các nước
thành viên và một sự hội nhập đầy đủ về chính sách kinh tế.
- Liên minh chính trị: thường có từ những sự hội nhập kinh tế đầy đủ, trong
đó tất cả các chính sách kinh tế đều giống hệt nhau và có một chính phủ đơn nhất.

- 7 -
Điều này cho phép một sự hội nhập toàn diện, xảy ra khi các nước thành viên từ bỏ
những quyền lực quốc gia thông qua việc lãnh đạo của một chính quyền duy nhất.
Một điển hình thành công là nước Mỹ, họ đã liên kết các bang độc lập thành một
liên hiệp chính trị.
Một số vấn đề cần được xem xét khi hội nhập:
Thứ nhất, một quốc gia sẽ chọn mức độ hội nhập kinh tế thích ứng trên cơ sở
những nhu cầu về kinh tế và chính trị, chứ không cần thiết phải trải quaWSQW tuần
tự các hình thức từ việc tham gia một khu vực thương mại tự do, đến liên minh thuế
quan, tiến dần lên thị trường chung hay một liên minh kinh tế.
Thứ hai, sự hội nhập kinh tế trong hình thức thương mại tự do đưa đến kết
quả đặc trưng là việc thành công cho tất cả các thành viên trong khối, khi mà mỗi
thành viên có thể chuyên môn hóa về những hàng hóa và dịch vụ mà họ làm ra hiệu
quả nhất và trông cậy vào các thành viên khác trong khối để cung cấp các hàng hóa
còn lại. Sự cạnh tranh gia tăng giữa các nước thành viên trong khối sẽ mang đến kết
quả sản xuất hiệu quả, giá cả thấp hơn và xuất khẩu qua các nước không thành viên
sẽ tăng lên.

thể như tiến trình chậm chạp của việc cho phép nhập khẩu, xây dựng những tiêu
chuẩn chất lượng nhằm loại trừ nhà sản xuất nước ngoài, chính sách mua trong
nước,…. Những hàng rào này giới hạn nhập khẩu và bảo vệ hoạt động bán hàng nội
địa.
- Giới hạn tài chính: Một số cách phổ biến nhất là những kiểm soát ngoại
tệ, hạn chế sự dịch chuyển tiền tệ, sử dụng tỷ giá hối đoái theo cách có lợi cho quốc
gia,…
- Kiểm soát đầu tư nước ngoài: Là những giới hạn về đầu tư trực tiếp của
nước ngoài, sự chuyển đổi hoặc chuyển tiền, bao gồm các hình thức: quy định một
số ngành chỉ cho phép đầu tư trong nước, quy định những nhà đầu tư nước ngoài
chỉ được giữ một tỷ lệ nhất định trong vốn sở hữu, giới hạn sự chuyển lợi nhuận ra
nước ngoài, cấm trả tiền bản quyền cho công ty mẹ nhằm ngăn chặn sự kiệt quệ về
vốn sau này.
Những hàng rào này có thể giới hạn nhiều hoạt động thương mại và đầu tư
quốc tế và chúng được áp dụng ngày càng tinh vi.
1.1.3. Cơ hội và thách thức trong hội nhập kinh tế quốc tế đối với Việt Nam:

- 9 -
Việt Nam đã và đang hội nhập vào nền kinh tế thế giới, từng bước ký kết các
hiệp định thương mại song phương, khu vực và đa phương. Đến nay, Việt Nam đã
là thành viên của Tổ chức khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) và của Diễn
đàn kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC), đã ký hiệp định song phương với
Mỹ, chuẩn bị gia nhập Tổ chức thương mại thế giới. Các quan hệ thương mại với
Nhật Bản, EU, Nga, Trung Quốc,… tiếp tục được mở rộng.
Là một nước đang phát triển tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam sẽ
có thêm nhiều cơ hội để phát triển, cụ thể là:
- Tạo khả năng mở rộng thị trường ra nước ngoài trên cơ sở các hiệp định
thương mại đã ký kết với các nước, trong khu vực và toàn cầu. Khi gia nhập WTO,
nước ta sẽ được hưởng những ưu đãi dành cho nước đang phát triển theo qui chế tối
huệ quốc trong quan hệ với tất cả các nước thành viên của tổ chức này, nhờ thế

nước ta còn hạn chế. Theo đánh giá mới nhất của Diễn đàn kinh tế thế giới, năng
lực cạnh tranh của Việt Nam đã tụt xuống 17 hạng: từ vị trí 60/102 năm 2003 tụt
xuống hàng 77/104 năm 2004. Sự tụt hàng này diễn ra trong cả ba lĩnh vực chính
dùng làm tiêu chí xếp hạng là chất lượng môi trường kinh tế vĩ mô, tình trạng của
các định chế quốc gia và sự sẵn sàng tiếp cận công nghệ cao.
- Thu hút đầu tư nước ngoài ngày càng giảm. Hội nhập kinh tế quốc tế mở
ra nhiều cơ hội cho thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Cạnh tranh thu hút đầu tư
nước ngoài đang diễn ra quyết liệt giữa các nước trong khu vực và thế giới. Thu hút
đầu tư nước ngoài của Việt Nam không cao và xu hướng giảm vì các nước trong
khu vực Đông Nam Á có một số mặt lợi thế hơn ta. Khi hàng rào thuế quan của các
nước ASEAN bị bãi bỏ, các công ty đa quốc gia sẽ tập trung sản xuất tại những
nước có phí tổn thấp trong khu vực AFTA. Thách thức của Việt Nam là làm sao giữ
được các cơ sở hiện có của các công ty đa quốc gia và tạo cơ hội để các công ty đa
quốc gia đầu tư vào nước ta.
- Việt Nam trở thành bãi thải công nghệ. Thực tiễn trong khu vực thu hút
đầu tư FDI của nhiều nước trên thế giới cho thấy các nhà đầu tư nước ngoài chỉ
chuyển sang các nước nhận đầu tư các máy móc thiết bị và công nghệ thứ hai và thứ
ba. Việt Nam cũng như nhiều nước đang phát triển, đang lo ngại bị biến thành bãi
thải công nghệ cho các nước phát triển, đặc biệt là những thiết bị đã qua sử dụng.

- 11 -
Một nghiên cứu mới đây về chất lượng công nghệ chuyển giao vào Việt Nam
cho thấy, trên 727 thiết bị và 3 dây chuyền sản xuất nhập khẩu trong 42 xí nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài thì có 76% thiết bị được sản xuất từ những năm 1950 – 1960,
50% là các máy móc đã qua sử dụng. Những con số này thể hiện chất lượng thấp
của công nghệ nhập khẩu. Mặt bằng chung về trình độ công nghệ và trang thiết bị
của Việt Nam lạc hậu từ 2-3 thế hệ so với các nước công nghiệp phát triển, tỷ lệ
trang thiết bị kỹ thuật cũ, công nghệ lạc hậu và trung bình chiếm 60-70%.
- Chảy máu chất xám. Cán bộ khoa học kỹ thuật chạy từ cơ quan nhà nước
sang các công ty nước ngoài, các sinh viên tốt nghiệp loại giỏi là nguồn tuyển dụng

- Chấp nhận những chấn động có thể xảy ra trong hệ thống kinh tế toàn
cầu. Khi đấy, nếu năng lực quản lý kinh tế vĩ mô kém, hệ thống tài chính – ngân
hàng không hiệu quả, tệ tham nhũng và quan liêu hoành hành, không phòng vệ tích
cực thì nền kinh tế khó tránh khỏi sự đổ vỡ, khủng hoảng. Đây là một thách thức
lớn đối với ta.
Ngoài ra, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế còn có thể gặp phải các thách
thức khác do tác động tiêu cực của thị trường từ nước ngoài dội vào, sự xung đột
giữa các nền văn hóa,…
Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế tất yếu của thời đại. Nhưng không vì
thế mà chúng ta thúc ép mở cửa thị trường một cách vội vã, bởi hệ quả sẽ là sự phá
hoại quá trình công nghiệp hóa củac các nước đang phát triển do các ngành công
nghiệp thay thế nhập khẩu bị sụp đổ trong cuộc cạnh tranh khốc liệt với hàng hóa
của các nước phát triển. Chúng ta cần có sự chuẩn bị đầy đủ, tiến trình hội nhập
thích hợp để tham gia hội nhập kinh tế quốc tế nhằm tránh những tác động tiêu cực
nêu trên, tạo ra những cơ hội thuận lợi cho nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng cao và
bền vững.
1.2. Lý thuyết về Lợi thế cạnh tranh quốc gia của MICHAEL PORTER:
Lý luận lợi thế cạnh tranh quốc gia của Porter ra đời năm 1990. Khi thiết lập
cơ sở cho lý luận này, Porter muốn mô tả tính đa dạng phong phú và sự phức tạp
của toàn bộ thế giới cạnh tranh hiện thực. Ông đã đi sâu nghiên cứu cơ sở kinh tế vi
mô - hoạt động của ngành, của các doanh nghiệp - do đó lý luận lợi thế cạnh tranh
quốc gia của ông có tính thực tế và được ứng dụng ở nhiều quốc gia. - 13 -
1.2.1. Mô hình “kim cương”:
Mô hình “kim cương” của Porter đặt trên cơ sở bốn yếu tố xác định và hai
yếu tố biến thiên bên ngoài. Những yếu tố xác định bao gồm: điều kiện thâm dụng,
điều kiện nhu cầu, các ngành công nghiệp liên kết và hỗ trợ, và môi trường mà công
ty cạnh tranh.

cấp cho người bán nhiều lợi ích. Nhu cầu giúp người bán hiểu những gì người mua
cần. Hơn nữa, khi những thay đổi trở nên cần thiết như nhu cầu của khách hàng
muốn sản phẩm nhỏ hơn hay tiết kiệm nhiên liệu hơn, những người bán địa phương
sẽ biết được và có thể cải tiến hoặc điều chỉnh cho phù hợp với thị trường trước khi
những nhà cạnh tranh ở xa có thể phản ứng.
1.2.1.3. Các ngành công nghiệp liên kết và hỗ trợ: bao gồm,
- Sự hiện diện của các ngành công nghiệp cạnh tranh quốc tế tạo nên sự ưu
việt trong các ngành công nghiệp hiệu quả hơn, tiến nhanh đến chi phí sản xuất hiệu
quả
- Những ngành công nghiệp liên quan mang tính cạnh tranh quốc tế có thể
phối hợp và chia sẻ các hoạt động trong chuỗi mắc xích khi nó cạnh tranh
Đây là những ngành công nghiệp dịch vụ chủ yếu. Khi nhà cung cấp ở gần
nhà sản xuất, những công ty này thường cung cấp nguyên vật liệu với chi phí thấp
mà những nhà cạnh tranh ở xa không có được. Hơn nữa, nhà cung cấp biết những gì
xảy ra trong môi trường công nghiệp để dự đoán và phản ứng với những thay đổi.
Bằng việc chia sẻ những thông tin này với nhà sản xuất, họ giúp nhà sản xuất duy
trì vị trí cạnh tranh.
1.2.1.4. Tổ chức, chiến lược công ty và sự cạnh tranh: bao gồm,
- Những cách để điều hành xí nghiệp và được chọn để cạnh tranh
- Những mục tiêu mà các công ty cũng như những nhân viên và các nhà quản
lý tìm kiếm để đạt được
- Những kình địch cạnh tranh nội địa và những sáng tạo và sự bền bỉ về
những ưu thế cạnh tranh trong từng ngành công nghiệp
Đây là hoàn cảnh mà công ty sáng tạo, tổ chức và quản trị cũng như bản chất
của sự cạnh tranh nội bộ. Không có một hệ thống quản lý nào là thích hợp cho tất
cả. Các quốc gia có khuynh hướng điều hành tốt các ngành công nghiệp là những

- 15 -
ngành mà sự thực hành quản lý môi trường quốc gia thuận lợi phù hợp với các
nguồn lực công nghiệp của lợi thế cạnh tranh. Ví dụ, ở Đức có khuynh hướng tổ

1.2.2. Cải thiện môi trường doanh nghiệp:
Theo Porter, khái niệm tập hợp ngành là rất quan trọng và cần phải cải thiện
môi trường doanh nghiệp bằng cách tổ chức chúng lại theo ngành. Tập hợp ngành là
đặc trưng của những ngành có lợi thế cạnh tranh quốc tế.
Tập hợp ngành là một phương thức của hoạt động kinh tế, vừa là công cụ đẩy
mạnh cải cách kinh tế. Khái niệm tập hợp ngành chú trọng vào năng suất và quan hệ
giữa các công ty. Tập hợp ngành gắn kết chính phủ, công ty, các hãng cung ứng và
các thể chế địa phương với nhau quanh chương trình nghị sự chung có tính khả thi.
Biểu hiện chủ yếu của lợi thế cạnh tranh trong hình thức tổ chức ngành ở một số
điểm sau:
Thứ nhất, tồn tại hiệu ứng ngoại vi. Trong một vùng có nhiều công ty, các
công ty có quy mô không lớn, nhưng giữa chúng thực hiện sự phân công hợp tác ở
trình độ cao, do đó năng suất cao, sản phẩm không ngừng được tiêu thụ trên thị
trường nước ngoài. Cho nên, toàn bộ vùng tập hợp ngành có được lợi tức quy mô
ngoại vi.
Thứ hai, tiết kiệm được chi phí giao dịch, bao gồm chi phí vận tải, chi phí
thông tin, chi phí đàm phán,… Các công ty trong tập hợp ngành gần nhau về địa lý
dễ xây dựng lòng tin với nhau, dễ tìm kiếm nhân tài, có điều kiện thu thập thông tin,
do đó giảm được các khoản chi phí.
Thứ ba, hiệu ứng sáng tạo và học tập lan toả nhanh. Tập hợp ngành là cái nôi
đào tạo, huấn luyện để nâng cao trình độ nhân lực cho công ty. Các công ty ở gần
nhau, sức ép cạnh tranh mạnh mẽ, nhu cầu khắt khe của khách hàng nơi sở tại thúc
đẩy các công ty phải đổi mới công nghệ và trình độ quản lý. Đổi mới và sáng tạo ở
công ty này dễ lan tỏa sang các công ty khác. Hiệu ứng sáng tạo là nguyên nhân
quan trọng khiến tập hợp ngành có lợi thế cạnh tranh. Ngoài ra tập hợp ngành cũng
kích thích việc bồi dưỡng nhân tài cho các công ty mới.
Thứ tư, hiệu ứng thương hiệu hàng hóa và quảng cáo. Do ảnh hưởng tập hợp
ngành lan rộng, làm cho người tiêu dùng có ấn tượng tốt về nhãn hiệu hàng hoá,
làm tăng nhu cầu của khách hàng về loại hàng hóa có uy tín. Đôi khi ấn tượng này



- 18 -
- Giai đoạn chạy đua của cải: Sức cạnh tranh ngành đã giảm, cuộc chạy đua
lúc này là tích lũy của cải đã làm ra. Các công ty mất dần lợi thế cạnh tranh. Hiện
tượng thôn tính, sát nhập giữa các công ty diễn ra rộng khắp là dấu hiệu chuyển
sang giai đoạn chạy đua của cải. Về khía cạnh xã hội, thời kỳ này xã hội suy thoái,
tỷ lệ thất nghiệp tăng, mức sống của người dân giảm.
1.2.4. Đánh giá về mô hình “kim cương” của Porter:
Lý luận về lợi thế cạnh tranh quốc gia của Porter được nhiều nhà nghiên cứu,
nhiều quốc gia đặc biệt quan tâm vì những lý do sau:
- Lý luận này thích nghi được với đòi hỏi của thời đại, ra đời vào lúc mọi
quốc gia trên thế giới đều tham gia vào cạnh tranh quốc tế. Trong thế giới ngày nay,
hàng rào thương mại đã giảm đi rõ rệt, thị trường thế giới được mở rộng, ngày càng
có nhiều quốc gia đi theo con đường phát triển kinh tế thị trường, các nước đang tìm
con đường phát triển phù hợp với mình. Trong bối cảnh đó, quan điểm cạnh tranh
của Porter đã cung cấp khuôn khổ lý luận khả thi, tạo tiền đề cho các quốc gia nâng
cao khả năng cạnh tranh.
- Lý luận của Porter chẳng những lấp đi những khoảng trống trong lĩnh vực
nghiên cứu kinh tế vi mô của cạnh tranh mà còn chỉ ra cho chính phủ những biện
pháp cần thực thi để ổn định và điều chỉnh kinh tế vĩ mô, tạo môi trường cạnh tranh
cho các công ty.
- Lý luận của Porter chỉ ra con đường khắc phục sự bất bình đẳng giữa các
công ty và chính phủ trong hoạt động cạnh tranh. Theo ông, nhà nước không nên
can thiệp sâu vào các hoạt động cạnh tranh cụ thể, không nên chiếu cố đặc biệt với
riêng ngành nào; nhà nước nên khuyến khích sáng tạo, cải tạo môi trường cho
doanh nghiệp hoạt động để có thể nâng cao năng suất. Nâng cao năng suất là mục
tiêu quan trọng nhất vì vừa khai thác được thị trường vừa đạt được phồn vinh về
kinh tế.
1.3. Thương hiệu và đăng ký bảo hộ thương hiệu:
1.3.1. Khái niệm:

thanh niên thành phố nhưng lại không có ý nghĩa gì đối với người nông dân.
Thương hiệu không chỉ quan trọng đối với thị trường hàng tiêu dùng cá nhân,
chúng cũng là trọng tâm của thị trường công nghiệp, dịch vụ. Đối với khách hàng tổ

- 20 -
chức, thương hiệu cũng là tiêu chuẩn quan trọng và là cơ sở chủ yếu để họ đánh giá,
lựa chọn nhà cung cấp.
1.3.2.2. Vai trò của thương hiệu đối với doanh nghiệp:

Các thương hiệu thành công tạo ra tài sản cho doanh nghiệp nhờ thu hút và
giữ được khách hàng trung thành. Khi một doanh nghiệp tạo ra được khách hàng
trung thành, họ có thể đạt được thị phần lớn, duy trì mức giá cao, đạt doanh thu và
lợi nhuận cao. Trong thế giới hàng hóa đa dạng và phong phú ngày nay, nhiều
người tiêu dùng sẽ chỉ chú ý lựa chọn những thương hiệu sản phẩm nổi tiếng, quen
thuộc và phù hợp với họ mà thôi.
Gắn thương hiệu giúp người bán phát triển các khách hàng trung thành nhờ
việc tạo nên việc mua lặp lại dễ dàng của khách hàng và thể hiện rằng công ty đứng
đằng sau các sản phẩm của họ. Các thương hiệu của các sản phẩm hiện tại đã đạt
được hình ảnh chất lượng sản phẩm cao có thể được doanh nghiệp sử dụng để giới
thiệu sản phẩm mới vì người tiêu dùng đã quen thuộc với nó. Gắn thương hiệu cho
sản phẩm cũng làm thuận lợi cho các hoạt động xúc tiến quảng bá vì khi quảng bá
cho một thương hiệu sẽ gián tiếp quảng bá cho tất cả các sản phẩm đã gắn thương
hiệu tương tự khác. Nhờ người mua trung thành với một thương hiệu cụ thể, thị
phần của công ty sẽ đạt được một mức chắn chắn nhất định, cho phép các công ty
sử dụng các nguồn lực của nó hiệu quả hơn. Một khi công ty đã phát triển được một
mức độ trung thành của khách hàng đối với thương hiệu, nó có thể duy trì mức giá
cao thay vì liên tục giảm giá để thu hút khách hàng.
Thương hiệu tạo được sự bền vững về mặt vị thế cạnh tranh. Một thương
hiệu đã có được lòng tin của khách hàng thì nó sẽ dễ dàng đạt được lòng trung thành
của khách hàng với thương hiệu. Địa vị thương hiệu mạnh cũng được chứng tỏ và

quyền khác như bằng sáng chế, thương hiệu độc quyền và các mối quan hệ trong
kênh phân phối.
Tài sản thương hiệu đối với một tổ chức liên quan đến khả năng thu hút
khách hàng của thương hiệu trong hiện tại và trong tương lai. Các thương hiệu nổi
tiếng có thể có những đặc tính thu hút khách hàng cho các sản phẩm hay tập hợp
sản phẩm mới bổ sung được gắn thương hiệu này. Nhờ vậy doanh nghiệp nhận
được một chuỗi dòng thu nhập từ việc làm chủ sở hữu thương hiệu.

- 22 - 1.3.2.4. Sức mạnh thị trường của những thương hiệu mạnh:

Thương hiệu chỉ có giá trị đối với doanh nghiệp nếu nó là thương hiệu mạnh.
Đặc điểm cơ bản của một thương hiệu mạnh và thành công là nó không chỉ tăng
thêm khả năng đáp ứng nhu cầu khách hàng mà còn làm tăng giá trị cho sản phẩm
nhờ đáp ứng những nhu cầu tâm lý nhất định của họ. Giá trị tăng thêm được đo
bằng cảm giác lòng tin rằng thương hiệu có chất lượng cao hơn hoặc được người
tiêu dùng mong muốn nhiều hơn so với các sản phẩm tương tự của đối thủ cạnh
tranh.
Một số ưu thế mà một thương hiệu mạnh có thể mang lại cho doanh nghiệp
sở hữu nó:
- Thương hiệu mạnh có thể giúp doanh nghiệp đạt được các vị thế dẫn đầu
trong ngành mà nó đang hoạt động.
- Thương hiệu mạnh có thể giúp doanh nghiệp sở hữu nó vượt qua những
thời kỳ khó khăn.
- Chu kỳ sống của sản phẩm mang thương hiệu mạnh thường dài hơn.
- Các thương hiệu mạnh có khả năng vượt ra khỏi biên giới các quốc gia.
- Các thương hiệu mạnh thường có khả năng phân phối rộng khắp và nhanh
hơn.

Việc đăng ký bản quyền sử dụng thương hiệu là quan trọng nhưng quan
trọng hơn các doanh nghiệp phải biết xây dựng được các thương hiệu thành công
trên thị trường.

- 24 - KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu hướng toàn cầu, không một quốc gia nào
đứng ngoài vì những tác động, ảnh hưởng mà nó mang lại cho các quốc gia thành
viên. Điều đó không có nghĩa hội nhập kinh tế quốc tế chỉ mang lại những lợi ích


2.1. Hiện trạng kinh doanh máy tính thương hiệu Việt Nam:
2.1.1. Thị trường máy tính Việt Nam:
Thị trường máy tính bao gồm máy tính để bàn, máy tính xách tay và máy
chủ. Mức độ tăng trưởng hàng năm của thị trường máy tính Việt Nam vào khoảng
15 - 20%. Hiện nay ước chừng Việt Nam có 2 triệu máy tính.
Cùng với những ứng dụng của công nghệ thông tin, máy tính ngày càng đóng
một vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội hiện nay. Nhu cầu về máy tính
ngày càng tăng ở cả các khu vực người tiêu dùng, doanh nghiệp và các cơ quan nhà
nước.
+ Thị trường cá nhân/ hộ gia đình: nhu cầu ngày càng tăng do đòi hỏi từ học
tập, cho công việc, nhu cầu giải trí, tìm kiếm thông tin trên internet,…
+ Thị trường chính phủ: nhu cầu máy tính tăng từ định hướng công nghệ
thông tin của chính phủ với các đề án tin học hóa quản lý hành chính nhà nước (đề
án 112), đề án tin học hóa của cơ quan Đảng, chính phủ điện tử, dự án của ngành
giáo dục/ dạy nghề/ bưu chính viễn thông/ …..
+ Thị trường doanh nghiệp: nhu cầu trang bị thiết bị làm việc chủ yếu của
doanh nghiệp hiện tại và doanh nghiệp mới, nhu cầu trang bị để đáp ứng các dịch vụ
mới như game trực tuyến,…
Ngoài ra còn có nhu cầu phát sinh từ các nguồn tài trợ của WB, ADB,…
Năm 2004, số lượng tổng thể máy tính tại Việt Nam tăng 15,6% so với 2003.
Thị trường có khoảng 309.933 bộ (không bao gồm máy tính đã qua sử dụng và các
phụ kiện nhập khẩu vào Việt Nam), tăng 41.998 bộ so với 2003 (267.935 bộ). Tổng
giá trị đạt khoảng 250 triệu USD.
Trong đó, máy tính nội địa lắp ráp trong nước chiếm hơn 70% thị phần. Do
vậy, dù số lượng tổng thể thị trường tăng 15.6% nhưng tổng giá trị giảm nhẹ (-

Trích đoạn Xác định thị trường mục tiêu và xây dựng chiến lược hợp lý: Các giải pháp về sản phẩm: Xây dựng lộ trình cho việc thực thi các cam kết về sở hữu trí tuệ:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status