CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CHO SINH VIÊN KHI VIỆT NAM GIA
NHẬP WTO
PHẦN MỞ ĐẦU
Ngày nay, toàn cầu hóa đang là một trong những xu thế phát triển tất yếu của
quan hệ quốc tế hiện đại. Đại diện cho xu thế toàn cầu hóa này là sự ra đời và phát
triển của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). toàn cầu hóa hiện nay diễn ra trên tất
cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó rõ nhất là trong lĩnh vực kinh tế và lĩnh
vực thông tin. Hai lĩnh vực này có sức cuốn hút lớn và tác động rất mạnh đối với tất
cả các nước, các cộng đồng và cả các cá nhân.Trải qua ba năm hội nhập với thế giới,
sự tăng lên không ngừng của dòng vốn đầu tư đổ vào Việt Nam nhiều hơn, sự mở
rộng môi trường kinh doanh , nhiều doanh nghiệp mới được thành lập đã tạo ra
nhiều khả năng lựa chọn công việc- nhất là trong thời điểm nguồn nhân lực chất
lượng cao đang thiếu như hiện nay. Và, hội nhập sẽ giúp sinh viên ra trường dễ dàng
lựa chọn những môi trường làm việc vượt ra khỏi biên giới quốc gia. Việt Nam gia
nhập WTO là một thách thức mà cũng là cơ hội với chúng ta; rất có thể, trong một
ngày không xa, Việt Nam sẽ trở thành một con rồng châu Á nếu biết tận dụng những
cơ hội và vượt qua những thách thức này. Góp phần không nhỏ vào việc khẳng định
vị thế của Việt Nam đó là những Sinh viên Việt Nam.Toàn cầu hóa và hội nhập là xu
hướng phải triển chung của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Tuy
nhiên, một thực tế có thể thấy là có rất ít sinh viên hiểu rõ được những khó khăn và
thách thức hiện nay đối với thế hệ thanh niên – những người chủ tương lai của đất
nước. Những yếu kém và thiếu sót các kĩ năng mềm bên cạnh nghiệp vụ chuyên môn
đã gây không ít trở ngại cho các bạn trẻ sau khi rời giảng đường đại học.
CHƯƠNG I : VIỆT NAM VÀ HỘI NHẬP WTO
1.Việt Nam hội nhập WTO, cơ hội đi kèm với thách thức
a. Giới thiệu chung về WTO:
WTO là tên viết tắt từ tiếng Anh của Tổ chức thương mại thế giới (World Trade
Organization). WTO được thành lập theo Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế
giới ký tại Marrakesh (Marốc) ngày 15-4-1994. WTO chính thức đi vào hoạt động từ
ngày 1-1-1995.
WTO ra đời trên cơ sở kế tục tổ chức tiền thân là Hiệp định chung về Thuế quan
lực cho lao động của Việt Nam, đặc biệt là lao động kỹ thuật trình độ cao. Hơn nữa,
sự phát triển nhanh chóng về công nghệ và thiết bị sản xuất và các hoạt động trao đổi
chuyên gia giữa các nước với Việt Nam sẽ làm cho trình độ chuyên môn kỹ thuật, hợp
tác quốc tế về lao động có cơ hội phát triển, từ đó góp phần nâng cao chất lượng nhân
lực, để có thể làm chủ các công nghệ và thiết bị tiên tiến trên thế giới.
- Việc hội nhập quốc tế sẽ tạo điều kiện và thúc đẩy việc thiết lập cơ cấu lao
động theo định hướng thị trường. Đó là những lao động có trình độ chuyên môn kỹ
thuật cao. Trong khi những lao động không có chuyên môn kỹ thuật phải được cắt
giảm. Tạo điều kiện cho nhân lực lao động của nước ta tham gia sâu rộng hơn vào
phân công và hợp tác lao động quốc tế.
Bên cạnh cơ hội, việc gia nhập WTO cùng tạo ra một số thách thức lớn đối với
nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng. Đó là:
- Sức ép cạnh tranh
Giảm thuế, cắt giảm hàng rào phi thuế quan, loại bỏ trợ cấp, mở cửa thị trường dịch
vụ… sẽ khiến môi trường kinh doanh ở nước ta ngày càng trở nên cạnh tranh hơn.
Đây sẽ là thách thức không nhỏ đối với nhiều doanh nghiệp
- Thách thức của chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Một trong những hệ quả tất yếu của hội nhập kinh tế quốc tế là chuyển dịch cơ cấu và
bố trí lại nguồn lực. Dưới sức ép của cạnh tranh, một ngành sản xuất không hiệu quả
có thể sẽ phải mất đi để nhường chỗ cho một ngành khác có hiệu quả hơn. Quá trình
này tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, trong đó có cả những rủi ro về mặt xã hội.
- Thách thức của việc hoàn thiện thể chế và cải cách nền hành chính quốc gia.
Chúng ta phải liên tục hoàn thiện các quy định về cạnh tranh để đảm bảo một môi
trường cạnh tranh lành mạnh và công bằng khi hội nhập,môi trường kinh doanh để
thúc đẩy tính năng động và khả năng thích ứng nhanh
- Thách thức về nguồn nhân lực
Khi gia nhập WTO đòi hỏi nền kinh tế phải có một nguồn nhân lực dồi dào và
có trình độ và tay nghề cao .Với tốc độ tăng trưởng kinh tế nước ta trong những năm
tới lên khoảng 6,5-8,5%, đầu tư toàn xã hội năm 2009 ở mức khoảng 40% GDP, đầu
tư trực tiếp nước ngoài vào nước ta vốn đăng ký khoảng trên 60 tỷ USD và vốn thực
kinh tế.
Các nước NICs đều đầu tư mở rộng hệ thống đại học và hướng theo nhu cầu
của chính sách công nghiệp và kiểm soát chặt chẽ về nội dung và chất lượng chương
trình học, đảm bảo thích ứng với ngành được khuyến khích (những ngành yêu cầu
hàm lượng chất xám cao )
Cụ thể như Hàn Quốc trong những năm đầu hội nhập cũng vấp phải khó khăn
về thiếu lao động chất lượng cao. Chính phủ đưa ra các chính sách kiểm soát chặt chẽ
giáo dục đại học. Số lượng SV đại học được tuyển phù hợp với nhu cầu của kinh tế.
Tại Singapore, chính phủ còn tài trợ cho sinh viên nước ngoài tiếp tục theo đuổi
chương trình học Thạc sĩ, Tiến sĩ , khuyến khích họ ở lại sau khi tốt nghiệp.
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG , CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CHO
SINH VIÊN VIỆT NAM
1.Đánh giá thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam nói chung và sinh viên Việt
Nam nói riêng :
a. Nguồn nhân lực Việt Nam chưa đạt yêu cầu và còn yếu so với các nước trong khu
vực. Tỷ lệ lao động được đào tạo của nước ta tuy vẫn tăng đều qua các năm nhưng
đến nay vẫn chỉ đạt 24% tổng lao động (tỷ lệ tương ứng của các nước trong khu vực
là 50%). Tỷ lệ đào tạo lao động có bằng cấp còn thấp (tăng khoảng 7,3%/năm) và
chưa tương ứng với nhu cầu lao động có đào tạo cho phát triển kinh tế.
Cơ cấu đào tạo theo ngành nghề, theo trình độ còn nhiều bất cập. Chất lượng
thấp làm lao động Việt Nam mất thế cạnh tranh, ngay cả ở thị trường lao động nội địa.
Với chất lượng nguồn nhân lực như hiện tại, khi hội nhập với thị trường lao động
quốc tế, lao động Việt Nam sẽ mất lợi thế và phải chấp nhận nhiều thiệt thòi.
Việc làm” vẫn là một trong những vấn đề nóng bỏng của xã hội nói chung và
sinh viên khi ra trường nói riêng với thực tế xã hội “cầu lớn hơn cung”, “thừa thầy
thiếu thợ”.
b. Thực trạng sinh viên VN
Sinh viên thất nghiệp, doanh nghiệp thiếu người
Có một nghịch lý là học sinh phổ thông phải rất vất vả mới có thể chen chân
vào giảng đường đại học với tỷ lệ chọi rất cao, kèm theo đó là vô số thứ tốn kém và
- SVVN còn có một lý tưởng sống cụ thể.Đang có một sự thay đổi trong lý
tưởng sống gắn liền với sự định hướng cụ thể. Một câu hỏi vẫn thường được đặt ra là:
SV hôm nay sống có lý tưởng không, lý tưởng ấy là gì, có sự phù hợp giữa lý tưởng
của cá nhân và lý tưởng của dân tộc, của nhân loại không. Có thể khẳng định lŕ có,
nhưng đang xuất hiện những đặc điểm lý tưởng có tính thế hệ, lý tưởng gắn liền với
bối cảnh đất nước và quốc tế rất cụ thể. Lý tưởng hôm nay không phải là sự lựa chọn
những mục đích xa xôi, mà hướng đến những mục tiêu cụ thể, gắn liền với lợi ích cá
nhân.
- Những người trẻ luôn có xu hướng mở rộng các mối quan hệ, đặc biệt là
những quan hệ đồng đẳng, cùng nhóm. Các nghiên cứu của hai nhà xã hội học người
Pháp về bản sắc xã hội dưới góc độ nhóm là Taspen và Turnez, đã đưa đến kết luận:
Tính nhóm phụ thuộc vào môi trường xã hội xung quanh chúng ta đang sống. Sự thay
đổi của đời sống tinh thần trong SV trước xu hướng toàn cầu hoá (cả mặt thuận lợi và
hạn chế của xu hướng này) đang hướng mạnh đến tính cộng đồng.
- Đặc biệt trào lưu dân chủ hoá, làn sóng công nghệ thông tin và việc nâng cao dân
trí đã làm ý thức cá nhân ngày càng rõ, đặc biệt rõ trong những người trẻ có học vấn
là SV. Họ tự ý thức cao về bản thân mình và muốn thể hiện vai trò cá nhân. Dường
như có sự đề cao lợi ích hơn nghĩa vụ cá nhân. Sự hy sinh và quan tâm đến người
khác thấp đi, và nếu có thì đánh giá dưới góc độ kinh tế thực dụng hơn là tình cảm và
sự chia sẻ. Xuất hiện thái độ bàng quan với xung quanh ở một bộ phận SV.
Sự phân tách các đặc điểm trên chỉ có tính tương đối để phục vụ công tác nghiên
cứu, còn trên thực tế các đặc điểm ấy đan xen và có tác động qua lại lẫn nhau. Tính cá
nhân không tách rời tính liên kết, tính năng động gắn liền với tính thực tế. Mỗi đặc
điểm, qua những biểu hiện cụ thể của nó, luôn bộc lộ tính hai mặt: Vừa có những tác
động tích cực, vừa có những tác động tiêu cực.
Tuy nhiên bên cạnh điểm mạnh chúng ta vẫn còn có một số tồn tại cần phải
được rút kinh nghiệm để sửa chữa
1. Sinh viên ra trường thiếu kỹ năng, thiếu kiến thức, không đáp ứng được nhu
cầu của nhà tuyển dụng. Các doanh nghiệp mong muốn tuyển chọn những sinh
viên có ngoại ngữ, khả năng hợp tác, kỹ năng làm việc, kỹ năng giao tiếp,
Lân Dũng, sinh viên phải xác định học là cho mình chứ không phải cho người
khác, cho thầy giáo.
2.Nguyên nhân
a. Sinh viên không thật sự có khả năng
- Lỗi từ hệ thống giáo dục.
• Đào tạo nhiều hơn nhu cầu . Hiện nay có rất nhiều nghành nghề trong các
trường Cao đẳng- Đaị học được tuyển sinh và đào tạo ồ ạt, chỉ tiêu đào tạo
vượt quá chỉ tiêu tuyển dụng. Giáo dục đại học Việt Nam đang ở trong giai
đoạn mở rộng và tăng trưởng nóng. Theo số liệu được đưa ra trong kỳ họp
Quốc hội vào tháng 6/2010 vừa qua, số trường đại học được thành lập tại Việt
Nam trong giai đoạn 1998 đến 2009 là hơn 300 trường, tức cứ trung bình
chưa đến hai tuần lại có một trường đại học mới - một con số quá sức ấn
tượng, đến mức làm cho một số người có cái nhìn thận trọng không khỏi nghi
ngại.
Tất nhiên, mở rộng khả năng tiếp cận giáo dục đại học là điều rất
quan trọng đối với bất kỳ đất nước nào để đào tạo ra nguồn nhân lực cho sự
phát triển kinh tế. Nhưng câu hỏi đặt ra là, liệu có nên mở trường đại học bằng
mọi giá, đặc biệt khi chưa có những nghiên cứu kỹ lưỡng về giá trị của việc
học đại học đối với chính người học và sự phát triển nền kinh tế của đất nước?
• Chất lượng đào tạo còn yếu kém . Khoảng cách về chất lượng của GD-ĐT Việt
Nam vẫn còn khá xa so với khu vực và thế giới.Chương trình, nội dung và
phương pháp đào tạo, bồi dưỡng tài năng còn lạc hậu, chưa tiếp cận được với
trình độ tiên tiến và yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước.
Việt Nam không có một trường đại học nào có chất lượng được công
nhận. Không đại học nào của Việt Nam được xếp vào danh sách 200 trường đại
học hàng đầu của khu vực châu Á.Về phương diện này thì Việt Nam khác xa với
cả những nước Đông Nam Á khác, hầu hết các nước này đều có thể kiêu hãnh về
ít nhất một vài cơ sở có đẳng cấp. .Các trường đại học Việt Nam phần lớn bị cô
lập khỏi các dòng chảy kiến thức quốc tế.
phép tuyển, và (trong trường hợp các trường đại học công lập) lương trả cho
các giảng viên đại học. Ngay cả những quyết định mang tính thiết yếu đối với
việc vận hành một trường đại học như việc lập khoa cũng do hệ thống quản lý
tập trung hoá này kiểm soát. Hệ thống này hoàn toàn không khuyến khích các
trường và học viện cạnh tranh hay đổi mới. Thù lao được trả căn cứ vào thâm
niên, và lương cứng thấp đến nỗi các giảng viên đại học phải “đi đêm” rất nhiều
để có thể đảm bảo cuộc sống. Khác hẳn với Trung Quốc, Việt Nam vẫn chưa
thực sự khuyến khích người Việt Nam học ở nước ngoài.
Lựa chọn dựa trên thành tích: Tham nhũng lan tràn và việc mua bán bằng cấp,
học hàm, học vị là rất phổ biến. Các hệ thống nhân sự đại học đều mù mờ và
việc bổ nhiệm thường dựa trên những tiêu chuẩn phi học thuật như thâm niên,
lý lịch gia đình và chính trị, và các mối quan hệ cá nhân
Trách nhiệm giải trình: Các trường đại học Việt Nam không chịu trách nhiệm
trước các cổ đông bên ngoài, và đáng trách là trong đó có cả những người tuyển
dụng. Trong nội bộ hệ thống công lập, việc rót vốn không liên quan đến công
việc hay chất lượng theo bất cứ hình thức đáng kể nào. Tương tự, kinh phí
nghiên cứu của Chính phủ cũng không được cấp một cách có cạnh tranh mà
chủ yếu được coi là một hình thức bổ sung lương. Vì có quá nhiều người thèm
muốn những cánh cửa hẹp vào các trường đại học - chỉ 1/10 người Việt Nam ở
độ tuổi học đại học được tuyển sinh vào các trường sau phổ thông – nên các
trường đại học Việt Nam không phải chịu áp lực đổi mới nào. Họ có một thị
trường bị giam cầm, vì du học chỉ là sự lựa chọn của một thiểu số rất nhỏ.
Chưa có quy chế phối hợp trong quản lý các trường ĐH,CĐ giữa Bộ Giáo dục
và các bộ, ngành khác, trong khi số trường ĐH, CĐ trực thuộc các bộ, ngành
khác chiếm tới 1/2 tổng số trường, dẫn đến tình trạng không có khả năng đánh
giá chất lượng giáo dục đại học của toàn bộ hệ thống. Cũng theo Phó Thủ
tướng, do chưa phân cấp quản lý giáo dục đại học nên với tổng số 375 trường
ĐH, CĐ trong cả nước, Bộ cần hơn 2 năm mới đi kiểm tra hết 1 lượt;…Nếu
không phân cấp, Bộ sẽ không làm xuể, thực chất là buông lỏng việc quản lý các
cơ sở đào tạo ĐH, CĐ.
Vấn đề của số đông sinh viên hiện nay là vẫn xem thuật ngữ “kỹ năng mềm”
(soft skills - KNM) là thứ gì đó cao siêu, ngại tiếp cận. Thực tế, đó chỉ là những phản
xạ hết sức cơ bản trong cuộc sống hàng ngày. KNM có vai trò đặc biệt quan trọng để
quyết định khả năng bạn có thể làm việc hiệu quả lâu dài hoặc làm lãnh đạo hay
không? Đó là những thứ bạn không được học trong nhà trường, không liên quan đến
kiến thức chuyên môn”.
Phần đông những người Việt trẻ chỉ chăm chăm gây ấn tượng với nhà tuyển
dụng bằng những kỹ năng “cứng” (hard skills), nghĩa là những thứ thường xuất hiện
trên hồ sơ lý lịch: bằng cấp, khả năng chuyên môn, kinh nghiệm làm việc , thế
nhưng trên thực tế, World Bank (Ngân hàng Thế giới) đã gọi thế kỷ 21 là kỷ nguyên
của kinh tế dựa vào kỹ năng (Skills Based Economy). Năng lực của con người được
đánh giá trên cả 3 khía cạnh: kiến thức, kỹ năng và thái độ; các nghiên cứu của nhiều
tổ chức xã hội đã cho thấy để thành đạt trong sự nghiệp thì KNM (trí tuệ cảm xúc)
chiếm đến 85%, kỹ năng cứng (trí tuệ logic) chỉ chiếm 15%. Tuy quan trọng là thế,
những KNM chưa thực sự được ngành giáo dục nước ta chú trọng, do đó sinh viên
chúng ta phải tự tích lũy là chính.
Song hơi tiếc là ở VN, đa số học sinh chưa được trang bị KNM nên mất
điểm khi thi tuyển rất nhiều”. Theo một nghiên cứu mới đây của Viện Nghiên cứu
Giáo dục VN, có đến 83% sinh viên tốt nghiệp ra trường bị đánh giá là thiếu KNM,
37% sinh viên ra trường không tìm được việc làm do không đáp ứng đươc nhu cầu về
KNM. Điều đó lý giải tại sao rất nhiều sinh viên sớm bươn chải, đi làm thêm khi còn
đi học đã thành công hơn những “mọt sách”. Ngoài vấn đề về bằng cấp và trình độ thì
một trong những nguyên nhân của việc sinh viên không xin được việc làm là do thiếu
tự tin và ứng xử vụng nên mất điểm trước nhà tuyển dụng. Không tự lượng sức mình,
tham vọng quá cao cũng là những sai lầm mà ứng viên trẻ thường mắc phải.
Nhiều người đứng đầu trong các công ti tuyển dụng việc làm vẫn tâm sự với
báo chí rằng phần nhiều các sinh viên khi đi phỏng vấn xin việc đều chưa biết cách
ứng xử, thiếu tự tin. Nhiều bạn trẻ chưa có kinh nghiệm nhưng khi ứng tuyển lại hay
đòi ở những vị trí cao so với khả năng hoặc đưa ra một mức lương mà công ty khó có
thể chấp nhận được. Điều này khiến ứng viên mất khá nhiều điểm.
sinh viên thời kỳ hội nhập.
• Sinh viên Việt Nam có cơ hội làm việc cho các tổ chức, dự án quốc tế, trong
môi trường năng động, chuyên nghiệp. Thực tập ở nước ngoài là một trong
những trải nghiệm quan trọng nhất và đáng nhớ của giáo dục đại học. Đó là
một cách tuyệt vời để làm nổi bật sơ yếu lý lịch và giúp SV có cơ hội phát
triển mạng lưới mối giao tiếp vô giá có thể chuyển thành cơ hội có việc làm
khi tốt nghiệp. Sau các chương trình trao đổi học sinh với các quốc gia có nền
kinh tế phát triển như Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore…sinh viên
Việt Nam có được những trải nghiệm thực tế để phát triển kĩ năng sống cho
bản thân, thêm tự tin và khả năng tự lập
• Với phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, sinh viên ngày nay có thể
tiếp cận dễ dàng hơn với nguồn tri thức khổng lồ của nhân loại. Học hỏi nhanh
và nắm bắt thông tin phong phú và biến đổi của thời đại.Nhìn vào thế hệ trẻ
8x, 9x ngày nay, chúng ta không thể không thán phục, tự hào vì một số người
rất thành công trên con đường học tập và sự nghiệp.Theo báo Tuổi Trẻ “Con
số người trẻ Việt Nam thành công trong các lãnh vực giáo dục, y tế, khoa học,
doanh nghiệp… ngày càng tăng cao”
• Sự hợp tác mở rộng trên lĩnh vực giáo dục thể hiện ở số lượng ngày càng tăng
các trường đại học nước ngoài liên kết đào tạo với các trường đại học Việt
Nam với các chuyên ngành đa dạng và . SVVN hoàn toàn có thể được hưởng
nền giáo dục đẳng cấp quốc tế, nhận bằng cấp của các trường đại học quốc tế
ngay tại việt nam với chi phí thấp hơn nhiều lần du học nước ngoài. Phương
tiện, điều kiện vật chất cho việc học cũng nâng cao hơn.
CHƯƠNG III : GIẢI PHÁP CHO PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG HỘI NHẬP CẦN
THIẾT CHO SINH VIÊN
Xuất phát từ việc phân tích thực trạng điểm mạng yếu của sinh viên Việt Nam, từ
nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp dẫn đến sự yếu kém của sinh viên trong thời kì hội
nhập, nhóm thảo luận xin đưa ra một vài giải pháp khắc phục những hạn chế này.
1. Quản trị, nâng cao chất lượng giáo dục Đại học:
Đổi mới quản lý GD-ĐT, trong đó có đổi mới cách đánh giá chất lượng GD-ĐT.
chạy theo số lượng mà quên chất lượng".
Thay đổi căn bản chương trình, nội dung và phương pháp dạy - học ở đại học
Chương trình đào tạo là điều kiện cơ bản, điều kiện tiên quyết bảo đảm chất lượng
GD-ĐT của một trường đại học. Một chương trình tốt, phù hợp sẽ tạo ra được sản
phẩm tốt. Ngược lại, một chương trình đào tạo lạc hậu, chậm đổi mới sẽ tạo ra sản
phẩm lao động không phù hợp. Bộ GD-ĐT cần xem xét một cách khoa học đối với
các môn bắt buộc theo hướng đạt chuẩn khu vực và quốc tế về chương trình đào tạo;
các trường đại học cần quyết tâm đổi mới trong xây dựng chương trình, kể cả việc
loại bỏ những môn học đã trở nên không cần thiết và dứt điểm giải quyết tình trạng
trùng lặp giữa các môn học. Duy trì và phát triển ngành đào tạo truyền thống có tính
chuyên sâu được xã hội chấp nhận.
Về phương pháp đào tạo : Giáo dục đại học ngày nay không chỉ coi trọng tri thức
mà phải chú ý rèn luyện trí tưởng tượng, làm cơ sở cho tư duy sáng tạo. Do vậy, ngay
từ năm đầu tiên, sinh viên phải được làm quen với tư duy độc lập, rèn luyện khả năng
nghiên cứu, sáng tạo, tập phát hiện và giải quyết vấn đề hơn là chỉ học thuộc lòng. Vì
vậy, phương pháp đào tạo cần hướng đến việc giảm tối đa việc nghe giảng một cách
thụ động, tăng các hình thức trao đổi, tham luận, dự án, tiểu luận… và đặc biệt, cần
coi trọng rèn luyện kỹ năng nghiên cứu khoa học cho sinh viên.
Để lựa chọn các phương pháp dạy học ở bậc đại học cho từng trường hợp cụ thể,
cần dựa vào các tiêu chí đảm bảo dạy được cách học; phát huy mạnh mẽ tính chủ
động của người học; khai thác triệt để các tiến bộ của công nghệ thông tin và truyền
thông. Đồng thời, cần vận dụng các hình thức tổ chức dạy học khác nhau, các phương
pháp dạy học tích cực, phương tiện dạy học hiện đại và cải tiến phương pháp kiểm tra
- đánh giá kết quả học tập của sinh viên.
Ngoài ra cần phải có liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp
Thử nhìn vào cơ cấu tổ chức của các trường đại học hiện nay sẽ thấy chỉ có các
phòng ban như: đào tạo, tổ chức – hành chánh, quản lý sinh viên, hội đồng khoa học,
nghiên cứu khoa học, quan hệ quốc tế, các khoa. Rất hiếm khi thấy có bộ phận Quan
hệ Doanh Nghiệp hay đại loại như vậy. Trong khi đó, sự liên kết giữa nhà trường và
doanh nghiệp tạo ra rất nhiều thuận lợi cho nhà trường, cho doanh nghiệp, và ngay cả
trách nhiệm. Sự hoài nghi là cần thiết cho sự phát triển tư duy đa chiều.Sinh viên Việt
Nam vẫn còn tâm lý sợ sai, thiếu quyết đoán khi đưa ra chính kiến của mình.Thiết
nghĩ, dám suy nghĩ và mạnh dạn chấp nhận thực tế mình có thể nghĩ sai cũng là một
trong những bản lĩnh cần thiết để hội nhập.
Năng lực nhận thức của sinh viên cũng có điều kiện phát triển hơn so với trước
do được giao tiếp qua nhiều kênh và với một phạm vi rộng rãi (toàn cầu). Sinh viên
nên tích cực tham gia nghiên cứu khoa học ,phát huy được tính thực tiễn và sáng tạo.
Trong quá trình đó, sinh viên được coi là người sản sinh ra tri thức hơn là người tiêu
thụ tri thức, hay nói cách khác, tính chất nghiên cứu bắt buộc là nét đặc thù của quá
trình học tập ở bậc đại học. Tham gia nghiên cứu khoa học vừa giúp sinh viên kiểm
chứng những gì mình đã học vừa so sánh sự khác biệt giữ lý thuyết và thực hành.
Hiện nay, với việc áp dụng học chế tín chỉ tại các trường đại học của Việt Nam,
sinh viên đang tiếp cận với phương pháp tự học, tự nghiên cứu.Nếu biết tận dụng thời
gian hợp lý, sinh viên đạt kết quả rất cao trong học tập và ngược lại.