Các giải pháp nhằm xử lý nợ xấu trong hệ thống ngân hàng thương mại việt nam - Pdf 26

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, hệ thống ngân hàng thương mại thường xuyên
đối mặt với rất nhiều rủi ro, trong đó “nợ xấu” là một trong những rủi ro được bàn
đến nhiều nhất. Vấn đề “nợ xấu” đã và đang trở thành nỗi ám ảnh của toán hệ
thống ngân hàng thương mại trên thế giới và Việt Nam cũng không ngoại lệ. Đặc
biệt “nợ xấu” trong năm 2012 có những diễn biến rất phức tạp. Trong bối cảnh đó,
vai trò của Chính phủ trong việc hỗ trợ xử lý vấn đề nợ xấu cùng với hệ thống
ngân hàng là rất quan trọng để nhanh chóng đưa hệ thống tài chính thoát ra khỏi
thời kỳ khủng hoảng trở về trạng thái ổn định.
Chính vì vậy, nhận thức được tính cấp bách của vấn đề, nhóm đã chọn đề tài
nghiên cứu về “Các giải pháp nhằm xử lý nợ xấu trong hệ thống ngân hàng
thương mại Việt Nam” để có được cái nhìn tổng quan nhất về nợ xấu trong hệ
thống ngân hàng Việt Nam và học tập được những kinh nghiệm hữu ích của các
nước về xử lý nợ xấu trên thế giới áp dụng cho Việt Nam một cách hiệu quả nhất
về xử lý nợ xấu; giúp cho Ngân hàng phát triển mạnh mẽ, bền vững, ổn định. Từ
đó nền kinh tế Việt Nam sẽ càng ngày càng phát triển mạnh mẽ trong tương lai.
2. Tình hình nghiên cứu
Gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO thực sự là bước ngoặt lớn của
nền kinh tế Việt Nam với những cơ hội ngàn vàng và cả những thách thức đan
xen, ngành tài chính ngân hàng cũng không nằm ngoài ngoại lệ. Các ngân hàng
thương mại Việt Nam đã bộc lộ một số bất cập, yếu kém như vốn điều lệ và tính
thanh khoản thấp, tỷ lệ nợ xấu gia tăng… Chính vì vậy, việc tham khảo kinh
nghiệm của các nước trong việc sử dụng các phương pháp, kỹ thuật xử lý nợ xấu
và tăng cường quy mô vốn sẽ có ý nghĩa trong quá trình nghiên cứu các vấn đề về
nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Từ đó, những giải pháp tối ưu nhất sẽ
được đề xuất và thực hiện có hiệu quả.
3. Mục đích nghiên cứu
Bài nghiên cứu nhằm mục đích trình bày những vấn đề về nợ xấu trong hoạt
động của các NHTM, nghiên cứu quá trình hình thành và phát sinh nợ xấu. Đánh
giá tình hình nợ xấu và các biện pháp hạn chế nợ xấu tại các NHTM Việt Nam

Chương II: Thực trạng nợ xấu và xử lý nợ xấu trong hệ thống ngân hàng
thương mại Việt Nam
Chương III: Các giải pháp nhằm xử lý nợ xấu trong hệ thống ngân hàng
thương mại Việt Nam
CHƯƠNG I
CÁC CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỢ XẤU TRONG CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Khái niệm về nợ xấu
Cho đến nay vẫn chưa có khái niệm đầy đủ, thống nhất về nợ xấu. Vì thế, khi
nói về nợ xấu, người ta mới chỉ nêu lên một vài đặc điểm chung nhất của các
khoản nợ này.
 Theo Ngân hàng Trung ương Liên minh châu Âu (ECB)
Nợ xấu trong các NHTM bao gồm:
* Nợ không thể thu hồi được:
- Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ đòi
bồi thường từ nợ.
- Người mắc nợ trốn hoặc bị mất tích, không còn tài sản để thanh toán nợ.
- Những khoản nợ mà Ngân hàng không thể liên lạc được với người mắc nợ
hoặc không thể tìm được người mắc nợ.
- Những khoản nợ mà khách nợ chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh lý tài
sản hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ để trả nợ.
* Nợ có thể thu không thanh toán đủ Ngân hàng
Đây là những khoản nợ không có tài sản thế chấp hoặc tài sản thế chấp
không đủ trả nợ. Người trả nợ không liên lạc với Ngân hàng để trả lãi hoặc gốc có
thời hạn thanh toán, hoặc hoàn cảnh chỉ ra rằng khoản nợ sẽ không thể thu hồi đầy
đủ như:
- Những khoản nợ mà người mắc nợ đồng ý thanh toán trong quá khứ, nhưng
phần còn lại không thể được đền bù, hoặc những khoản nợ trong đó tài sản được
chuyển để thanh toán nhưng giá trị còn lại không đủ trang trải toàn bộ khoản nợ.

đó, IAS 39 chỉ chú trọng đến khả năng hoàn trả của khoản vay mà không quan tâm tới thời gian
quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn. Phương pháp để đánh giá khả năng trả nợ của khách
hàng thường là phương pháp phân tích dòng tiền tương lai hoặc xếp hạng khoản vay. Hệ thống
này được coi là chính xác về mặt lý thuyết, nhưng việc áp dụng thực tế nhiều khó khăn.
Quy định này. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượng tín
dụng của tổ chức tín dụng. (Khoản 6, Điều 2)
Và nợ xấu vẫn được hiểu là các khoản nợ hầu như không có khả năng được
thanh toán và bắt buộc phải xử lý bằng bút toán xóa nợ.
 Theo quan điểm riêng của bài nghiên cứu.
Nợ xấu hay nợ khó đòi là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị
nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, điều này thường
xảy ra khi các con nợ đã tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản. Nợ xấu gồm các
khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên thường quá ba tháng căn cứ vào khả
năng trả nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp.
Bản chất của nợ xấu là một khoản tiền cho vay mà chủ nợ xác định không thể thu
hồi lại được và bị xóa sổ khỏi danh sách các khoản nợ phải thu của chủ nợ. Đối
với các ngân hàng, nợ xấu tức là các khoản tiền cho khách hàng vay, thường là
các doanh nghiệp, mà không thể thu hồi lại được do doanh nghiệp đó làm ăn thua
lỗ hoặc phá sản, Nhìn chung, một doanh nghiệp luôn phải ước tính trước những
khoản nợ xấu trong chu kỳ kinh doanh hiện tại dựa vào những số liệu nợ xấu ở kì
trước.
Hay nói tóm lại, nợ xấu tức là khoản tiền cho khách hàng vay, thường là các
doanh nghiệp, mà không thể thu hồi lại được do doanh nghiệp đó làm ăn thua lỗ
hoặc phá sản.
1.1.2. Phân loại nợ xấu
1.1.2.1. Quan điểm của quốc tế
Phần lớn các ngân hàng trên thế giới vẫn sử dụng hệ thống phân hạng các
khoản nợ thành năm mức theo tiêu chí của NHTW Liên minh Châu Âu như sau:
Một là, khoản nợ đạt tiêu chuẩn: Các điều khoản của hợp đồng được tuân
thủ, khách hàng có khả năng hoàn trả cả gốc và lãi đầy đủ, đúng hạn và theo đúng

a. Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày.
- Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng
trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng.
Nợ xấu thuộc nhóm này được coi là các khoản nợ có khả năng thu hồi cao
nhất. Ngân hàng sẽ trích lập một tỷ lệ DPRR cho nợ xấu nhóm này là 20% dư nợ
của nhóm.
b. Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;
Nợ xấu thuộc nhóm này được đánh giá là có khả năng thu hồi thấp hơn so
với các khoản nợ của nhóm 3. Các khoản nợ này được xếp vào những khoản nợ
mà Ngân hàng có sự nghi ngờ về khả năng trả nợ. Tỷ lệ trích lập DPRR cho nợ
xấu thuộc nhóm này là 50% tổng dư nợ của nhóm.
c. Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;
- Các khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời
hạn trả nợ được cơ cấu lại lần hai;
- Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý.
Khả năng thu hồi nợ của nhóm này được coi như bằng 0, do vật tỷ lệ trích
lập dự phòng rủi ro tương ứng là 100% tổng dư nợ của nhóm.
Còn riêng đối với các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý thì được trích
lập dự phòng cụ thể theo khả năng tài chính của TCTD.
 Ngày 21/1/2013, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư 02 quy định về
phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử
dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh
ngân hàng nước ngoài. Thông tư này sẽ thay thế Quyết định 493 của Ngân hàng
Nhà nước ban hành ngày 22/4/2005 về phân lợi nợ, trích lập và sử dụng dự phòng
để xử lý rủi ro tín dụng và Quyết định 18 ban hành ngày 25/4/2007 về sửa đổi, bổ
sung Quyết định 493.

được phép vượt giới hạn, theo quy định của pháp luật;
• Nợ vi phạm các quy định của pháp luật về cấp tín dụng, quản lý
ngoại hối và các tỷ lệ bảo đảm an toàn đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân
hàng nước ngoài;
• Nợ vi phạm các quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý tiền
vay, chính sách dự phòng rủi ro của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước
ngoài.
- Nợ đang thu hồi theo kết luận thanh tra;
- Nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều
này.
b.Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;
- Khoản nợ quy định tại điểm c khoản 1 Điều này quá hạn từ 30 ngày đến 60
ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi;
- Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi đến
60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được;
- Nợ được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều
này.
c.Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
- Nợ quá hạn trên 360 ngày;
- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời
hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được
cơ cấu lại lần thứ hai;
- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc
đã quá hạn;
- Khoản nợ quy định tại điểm c khoản 1 Điều này quá hạn trên 60 ngày kể từ
ngày có quyết định thu hồi;
- Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi trên
60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được;

Chỉ tiêu này đánh giá khả năng thu nợ từ các khoản nợ đã chuyển ra ngoại
bảng và đang được ngân hàng sử dụng các biện pháp mạnh để thu hồi. Nếu chi
tiêu này càng lớn chứng tỏ ngân hàng đang gặp rủi ro tín dụng vì có quá nhiều các
khoản nợ ngoại bảng mà ngân hàng không thể thu hồi lại được. Và ngược lại, chỉ
tiêu này thấp cho thấy ngân hàng đang đạt những hiệu quả nhất định trong công
tác thu hồi các khoản nợ ngoại bảng. Trong đó, khoản nợ chuyển ra ngoại bảng
được hiểu là khoản nợ quá hạn trên nhóm 5 và được ngân hàng chuyển ra ngoại
bảng trong quá trình hạch toán kế toán.
1.1.3.2. Tỷ lệ dự phòng rủi ro/Tổng dư nợ
Ta có công thức để xác định chỉ tiêu này:
Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng = Dự phòng rủi ro tín dụng/Tổng dư nợ
Theo quyết định số 493/2005/QĐ- NHNN ngày 22/04/2005 của NHNN, các khoản
nợ được phân loại từ nhóm 1 đến nhóm 5 tương đương với mức trích lập dự
phòng cụ thể từ 0% đến 100% của giá trị khoản nợ trừ đi giá trị khấu trừ
của tài sản đảm bảo.
Ngoài ra các ngân hàng phải trích lập một mức dự phòng chung chiếm 0,75%
tổng giá trị các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4. Khoản dự phòng chung này dùng
để bù đắp những tổn thất chưa xác định được trong quá trình phân loại nợ và trích
lập dự phòng cụ thể và trong các trường hợp khó khăn về tài chính khi chất lượng
các khoản nợ suy giảm.
Chỉ số tỷ lệ này phản ánh bao nhiêu phần trăm dư nợ được trích lập dự
phòng. Nếu chỉ số này cao cho thấy chất lượng các khoản tín dụng của ngân hàng
đang giảm sút cũng như khả năng thu hồi nợ kém. Do đó, ngân hàng sẽ thắt chặt
công tác dự phòng nhằm giảm thiểu tổn thất trong tương lai. Nhờ đó quỹ dự phòng
rủi ro sẽ đủ bù đắp thiệt hại có thể xảy ra và rủi ro nợ xấu của ngân hàng sẽ giảm
đi. Ngược lại, nếu chỉ tiêu này thấp thì có thể cho thấy hiệu quả của hoạt động cải
thiện chất lượng các khoản vay tín dụng cao. Tuy nhiên, dự phòng thấp thì ngân
hàng sẽ đối mặt với nguy cơ rủi ro nợ xấu cao hơn. Chỉ tiêu này thấp có thể là dấu
hiệu phản ánh hoạt động trích lập dự phòng chưa tuân thủ quy định của Ngân hàng
Nhà nước dẫn tới rủi ro tiềm ẩn trong hệ thống ngân hàng.

nghiệp tư nhân vay. Vì khi DNNN phá sản hay khó khăn thì đã có nhà nước hỗ trợ
hoặc cứu khỏi tình trạng phá sản.
- Một số tổ chức tín dụng áp dụng chiến lược tăng trưởng tín dụng nhanh
trong khi năng lực quản trị rủi ro còn nhiều hạn chế và chậm được cải thiện, đặc
biệt là các ngân hàng thương mại cổ phần chuyển đổi từ nông thôn lên đô thị dẫn
đến nợ xấu tăng nhanh hơn dư nợ tín dụng
- Trong những năm gần đây, các tổ chức tín dụng, nhất là các tổ chức tín
dụng cổ phần liên tục tăng vốn điều lệ dẫn đến sức ép tăng trưởng tín dụng để đảm
bảo hiệu quả kinh doanh. Nhiều tổ chức tín dụng có tốc độ tăng trưởng tín dụng
hàng năm quá cao (trên 50%), trong khi khả năng về quản trị rủi ro, giám sát vốn
vay còn bất cập.
- Năng lực thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước trong một thời gian
dài còn hạn chế, chưa phát huy hiệu lực, hiệu quả trong việc phát hiện, ngăn chặn
và xử lý kịp thời các vi phạm và rủi ro trong hoạt động tín dụng của các tổ chức tín
dụng, nhất là các vi phạm quy định về hạn chế cấp tín dụng và việc đầu tư quá
mức vào một số lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao.
1.1.4.2. Nguyên nhân khách quan
 Về phía doanh nghiệp
Doanh nghiệp vay vốn gặp rủi ro trong hoạt động kinh doanh của mình
( thiên tai, hỏa hoạn,…) vì vậy, số vốn vay đã tiêu hao một cách vô ích mà không
thể sinh lời, thậm chí doanh nghiệp có thể mất hoàn toàn vốn không có khả năng
thu hồi. Hiện nay, sự biến động và sức ép cạnh tranh ngày càng tăng của thị
trường, hoặc môi trường kinh doanh, làm cho doanh nghiệp không có khả năng
thích ứng kịp thời. Kinh doanh khó khăn dẫn đến mất khả năng thanh toán khiến
cho các doanh nghiệp vay vốn gặp rủi ro. Trong điều kiện hội nhập và cạnh tranh
quốc tế hiện nay thì các tác nhân như sự biến động của tỷ giá, giá xăng dầu,
nguyên liệu… là một phần rất quan trọng trong sự hoạt động của các doanh
nghiệp. Do đó, sự thay đổi của các tác nhân bên ngoài cũng có thể ảnh hưởng lớn
đến hoạt động kinh doanh, đe dọa đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp.
 Về phía ngân hàng thương mại

tế. Để có thể vận hành quá trình sản xuất một cách trơn tru, doanh nghiệp sản xuất
cần phải tiếp cận được với nguồn vốn mà đơn vị cung cấp nguồn vốn chủ yếu
trong nền kinh tế chính là ngân hàng. Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn
cầu, nền kinh tế của Việt Nam cũng bị ảnh hưởng, Nhà nước phải thực hiện các
biện pháp thắt chặt kéo theo tình trạng nợ xấu đồng thời hoạt động sản xuất, kinh
doanh của các doanh nghiệp cũng gặp không ít trở ngại. Các doanh nghiệp tư
nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ là những nạn nhân đầu tiên của tình trạng nợ
xấu, do không trả được nợ thì ít mà do không thể vay vốn thì nhiều. Vì vậy, nợ
xấu gia tăng được ví như “cục máu đông” gây tắc nghẽn dòng tín dụng nuôi dưỡng
nền kinh tế. Hệ quả đáng tiếc là nền kinh tế sẽ rơi vào vòng luẩn quẩn khó tháo gỡ
nếu tình trạng tỉ lệ nợ xấu duy trì trong thời gian quá dài.
Đặc biệt, để xử lí nợ xấu, Nhà nước phải sử dụng một lượng vốn rất lớn. Đây
cũng là gánh nặng đối với ngân sách Nhà nước. Nhà nước sẽ phải tính đến một số
các biện pháp như tận thu thuế, vay nợ từ các quốc gia khác hoặc các tổ chức thế
giới. Một lần nữa, người dân phải chịu áp lực nặng nề từ thuế và bị giảm tỉ lệ tiết
kiệm. Do vậy, giải quyết nợ xấu nhanh chóng và triệt để chính là cách tốt nhất để
khơi thông lại dòng vốn, thúc đẩy nền kinh tế vận hành trở lại, giải quyết các khó
khăn của cả ba chủ thể chính của nền kinh tế.
1.1.5.2. Hậu quả của nợ xấu đối với ngân hàng thương mại
Bên cạnh các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, ngân hàng chính là đơn vị
gặp nhiều khó khăn nhất trong bối cạnh nợ xấu gia tăng. Nguồn vốn đầu tư của
các ngân hàng có nguy cơ mất trắng, không những đe dọa làm giảm vốn chủ sở
hữu của ngân hàng mà còn ảnh hưởng đến hình ảnh, uy tín của ngân hàng đó. Bởi
vì, để bộc lộ tình trạng nợ xấu gia tăng, một phần do các doanh nghiệp không hiệu
quả nhưng cũng không thể phủ nhận sự yếu kém của các ngân hàng trong việc ký
duyệt các khoản vay hay giám sát hoạt động cho vay. Lãi suất giảm cùng với tỉ lệ
nợ xấu cao sẽ khiến cho người dân hoài nghi và dè chừng khi gửi tiền vào ngân
hàng.
Đối với các NHTM nhỏ - thường lại là các đối tượng có mức lãi suất cao và
có nhiều khoản cho vay chứa đựng nhiều rủi ro, hoạt động tái cơ cấu, sáp nhập và

đương hoặc theo giá thỏa thuận hai bên. Khi đó, chủ nợ (ở đây là ngân hàng) sẽ trở
thành một chủ sở hữu, trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào công tác quản lý, hoạch
định phương hướng sản xuất kinh doanh, vực dậy doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp
thoát khỏi tình trạng chìm ngập trong nợ nần.
Điều kiện áp dụng:
Thông thường, việc chuyển đổi nợ xấu thành vốn góp, cổ phần doanh nghiệp
chỉ áp dụng đối với các khoản nợ ít, có hoặc không có khả năng trả (nợ từ nhóm 3
đến nhóm 5).
Việc chuyển đổi được sự đồng thuận từ hai bên: doanh nghiệp và ngân hàng
chủ nợ. Khi đó, doanh nghiệp và ngân hàng sẽ tiến hành đàm phán, để quyết định
phương án tiến hành: xác định giá chuyển đổi, quyền hạn, trách nhiệm của các bên
sau khi đã chuyển đổi và trở thành cổ đông doanh nghiệp.
Ưu điểm:
- Ngân hàng ngay lập tức có thể giảm bớt tỷ lệ nợ xấu danh nghĩa.
- Ngân hàng có thể tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp. Khi doanh
nghiệp hoạt động tốt, có lãi, ngân hàng có thể thu hồi “khoản cho vay” bằng cách
thoái vốn, hưởng cổ tức (nếu chuyển thành cổ phần), lãi (nếu chuyển sang trái
phiếu). Về kì vọng hoạt động doanh nghiệp được cải thiện là hoàn toàn có cơ sở
bởi khoản nợ khó hoặc không có khả năng thanh toán trước đây của doanh nghiệp
sẽ được xóa bỏ, bảng cân đối kế toán cũng như báo cáo tài chính sẽ sạch đẹp hơn
(đây là điểm ưu việt hơn so với hình thức xử lý với sự tham gia của công ty mua
bán nợ). Khi đó, với khả năng tài chính tốt hơn, doanh nghiệp hoàn toàn có thể có
đủ điều kiện để cổ phần hóa doanh nghiệp hoặc vay thêm vốn mới để phục vụ hoạt
động sản xuất kinh doanh.
Nhược điểm:
- Rủi ro về phần vốn đã cho vay thực tế không giảm đi, mà chỉ là chuyển
hình thức theo dỡi từ “ nợ phải thu” sang “ đầu tư tài chính”
- Khi đã trở thành chủ sở hữu, tham gia công tác quản lý, điều hành doanh
nghiệp, thông thường ngân hàng sẽ tiếp tục cho vay để doanh nghiệp có thêm điều
kiện phục hồi và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, trong một

Nhà nước lại sôi động hơn bao giờ hết. Trong năm 2012 và đầu năm 2013, hàng
loạt thương vụ đã diễn ra dưới nhiều hình thức : Hợp nhất (SCB, TinNghiaBank,
FicomBank), sáp nhập (SHB, HabuBank), thâu tóm (EximBank, SacomBank) hay
trở thành cổ đông chiến lược (Mizuho Corporate Bank – VietcomBank, Tokyo
Mitsubishi UFJ – VietinBank) ,… Đây thực sự là một hướng đi tốt, thể hiện tầm
nhìn, chiến lược lâu dài về vấn đề giải quyết nợ xấu. Việc sáp nhập, mua lại không
đơn thuần là phép cộng giá trị các ngân hàng lại với nhau, mà nếu tận dụng tốt các
lợi thế, giá trị ngân hàng mới sẽ lớn gấp nhiều lần phép cộng số học của ngân hàng
bị sáp nhập. Vậy, M&A có tác dụng thế nào với vấn đề nợ xấu? Nợ xấu một phần
được hình thành từ các nguyên nhân:
- Ngân hàng chạy đua lãi suất để huy động vốn, dẫn đến lãi suất đầu ra cao,
doanh nghiệp vay và không có khả năng chi trả.
- Công tác quản trị, đặc biệt là quản trị rủi ro còn yếu kém, công tác thẩm
định trước khi cho vay thực hiện chưa tốt, dẫn đến các khoản cho doanh nghiệp
không đủ điều kiện vay không thể thu hồi.
Với những ngân hàng có quy mô nhỏ, năng lực tài chính không cao, một
phương án thường được áp dụng để huy động vốn là đẩy lãi suất lên cao, nhằm thu
hút khách hàng. Để bù đắp chi phí đầu vào cao như vậy, lãi suất cho vay tăng cao
là điều tất yếu. Và khách hàng của nguồn vốn cho vay lãi suất cao thường là các
doanh nghiệp khát vốn, nhưng không đủ điều kiện để tiếp cận với nguồn vốn của
các ngân hàng lớn bởi sự khắt khe, thận trọng trong quá trình thẩm định. Trong
thời kỳ khủng hoảng, kinh tế khó khăn, doanh nghiệp hoạt động có đủ lợi nhuận
để chi trả lãi vay đã khó, trả gốc lại càng khó, nợ xấu cũng vì thế mà lớn dần. Và
M&A với những ưu điểm của mình là cách giải quyết hiệu quả, lâu dài đối với
khoản nợ xấu bắt nguồn từ những nguyên nhân trên. Cụ thể, sau M&A, ngân hàng
mới có nền tảng tài chính tốt hơn nhiều so với trước, hệ thống chi nhánh và khách
hàng được mở rộng. Đây là những điều kiện cơ bản để tăng sức cạnh tranh. Một
ngân hàng có hệ thống quy mô lớn, chỉ số tài chính tốt sẽ là ưu thế vô cùng lớn để
mở rộng khách hàng, tránh bị cuốn vào cuộc đua lãi suất. Thêm vào đó, ngân hàng
có điều kiện để chọn lọc, thu hút những nhân sự giỏi, đáp ứng được yêu cầu vốn

nhiên, trong điều kiện khung pháp lý chưa hoàn thiện hoặc có sự ủng hộ cho các
con nợ thì các công ty này sẽ gặp nhiều rủi ro. Khi các công ty quản lý nợ tư nhân
trực thuộc một ngân hàng hoặc tổ chức tài chính, các ngân hàng mẹ có thể lợi
dụng các công ty này để chuyển giao các khoản nợ, làm sạch bảng cân đối kế toán
của mình nhưng thực chất khoản nợ không được giải quyết. Vì vậy, một lần nữa
đòi hỏi một sự giám sát chặt chẽ và minh bạch đối với các công ty mua bán nợ loại
này.
Nhìn chung, để có thể vận hành các công ty mua bán nợ một cách hiệu quả
và đúng mục tiêu, cần thiết tạo một bộ khung pháp lý hoàn chỉnh, tạo điều kiện
cho các công ty này có thể tiếp cận tốt nhất tới các khoản nợ. Đồng thời, tính minh
bạch trong quản lí các công ty mua bán nợ cũng như trong việc phân loại nợ và
định giá các khoản nợ là không thể thiếu nếu như muốn xử lí triệt để tình trạng nợ
xấu.
1.1.6.4. Ngân hàng điều chỉnh trích lập dự phòng rủi ro
Có nhiều quốc gia áp dụng phương pháp này như một giải pháp tích cực, đặc
biệt là khi tình trạng nợ xấu xuất phát từ chính hoạt động của các ngân hàng
thương mại. Các ngân hàng sẽ phải tăng trích lập dự phòng rủi ro thông qua việc
cắt giảm lợi nhuận thay vì đem lợi nhuận chia cổ tức cao.
Việc tăng trích lập dự phòng hoàn toàn thuộc vào quyền quyết định của mỗi
ngân hàng, nghĩa là các ngân hàng thương mại hoàn toàn chủ động trong việc trích
lập dự phòng rủi ro để giảm nợ xấu. Đây là điều quan trọng vì các chính sách và
thực hiện chính sách của Nhà nước đều có độ trễ nhất định. Trong lúc chờ đợi
những quyết định cuối cùng từ phía Chính phủ cũng như những khoản cứu trợ từ
phía Nhà nước, ngân hàng hoàn toàn có thể thông qua việc trích lập dự phòng rủi
ro để giảm thiểu nguy cơ bùng nổ nợ xấu của ngân hàng. Đó cũng là biện pháp tất
yếu vì rõ ràng trong khi nợ xấu đang tăng, các ngân hàng không thể hạch toán lợi
nhuận cao nhằm chia lợi tức cho các cổ đông và thu hút thêm nhà đầu tư được.
Hơn nữa, việc trích lập dự phòng rủi ro là động lực để ngân hàng quyết tâm
và mạnh tay trong việc đòi nợ. Trong bối cảnh như Việt Nam hiện nay, khi 70%
nợ xấu là từ các doanh nghiệp nhà nước, làm ăn yếu kém, không có lãi, thì rõ ràng

các cổ đông có sẵn sàng hi sinh lợi tức của mình trong một vài năm hay không.
Vậy thì, ngân hàng cần phải có sự đồng thuận trong nội bộ ngân hàng, không trốn
tránh hay ỷ lại vào cứu trợ bên ngoài. Bên cạnh đó, việc trích lập dự phòng rủi ro
có thể không đợi đến khi xuất hiện nợ xấu mới thực hiện mà ngay từ lúc doanh
nghiệp có dấu hiệu gặp khó khăn trong trả nợ, ngân hàng đã trích lập dự phòng rủi
ro ngay. Như vậy, tình trạng nợ xấu sẽ được ngăn chặn ngay từ đầu.
1.2. Kinh nghiệm của một số nước về xử lý nợ xấu
1.2.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc
Khác với các quốc gia châu Á khác, tình trạng nợ xấu của Trung Quốc trong
giai đoạn 1990 – 2004 không phải xuất phát từ cuộc khủng hoảng tiền tệ năm 1997
mà bắt nguồn từ cơ chế kinh tế hóa tập trung, các DNNN làm ăn kém hiệu quả.

Trích đoạn Tình trạng nợ xấu giai đoạn 2011 đến nay Đánh giá thực trạng và nguyên nhân 1 Những kết quả đạt được Nguyên nhân tồn tại những mặt hạn chế trong quá trình xử lý nợ xấu Về phía Ngân hàng thương mạ Về phía Nhà nước
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status