Đề tài:
“Ứng dụng công nghệ thông tin giảng dạy học kiểu văn bản Nhật dụng trong trường THCS”
PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ
Để thực hiện tốt mục tiêu của xã hội và mục đích của ngành giáo dục là
phải ra sức chăm lo và trang bị cho thế hệ trẻ hành trang tri thức và phẩm chất
đạo đức tốt đẹp để tiến vào tương lai, mà giáo dục trong nhà trường là lực lượng
nòng cốt. Vì thế, nhiệm vụ của giáo dục là phải đào tạo ra được những con
người mới - xã hội chủ nghĩa và con người đó phải được phát triển toàn diện về
đức, trí, thể, mỹ.
Tuy nhiên, thực trạng hiện nay cho thấy, lứa tuổi THCS là lứa tuổi vô cùng
phức tạp. Có thể nói đây là thời kỳ quá độ từ thơ ấu sang trưởng thành và cũng
là lứa tuổi phát triển mạnh mẽ nhưng thiếu cân đối về mọi mặt. Các em thường
không làm chủ được bản thân, dễ bị tổn thương về tâm lý.
Chính vì nhiệm vụ nặng nề được đặt ra cho ngành giáo dục mà trong nhiều
năm qua , việc đổi mới phương pháp dạy học là vấn đề đã và đang được đề cập
bàn luận và đây cũng là vấn đề mà toàn ngành giáo dục đang đặt lên hàng đầu .
Phát huy tính tích cực trong học tập được xem như một nguyên tắc dạy học đảm
bảo chất lượng và hiệu quả, chuyển từ lấy giáo viên làm trung tâm sang dạy lấy
học sinh làm trung tâm là một xu hướng tất yếu có tính lịch sử.
Vậy, làm thế nào để nâng cao hơn chất lượng giảng dạy. Còn học sinh thì
phải nắm được kiến thức cơ bản nhất và đào tạo học sinh phát triển một cách
toàn diện. Với việc thực hiện giảng dạy theo chương trình sách giáo khoa mới
thì đổi mới phương pháp dạy học càng được thúc đẩy và phát huy một cách có
hiệu quả. Nhưng để phát huy hết tiềm năng và giá trị của tất cả các môn học thì
môn Ngữ văn lại đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát triển toàn
diện cho học sinh.
Chính vì vậy, trong chương trình thay sách giáo khoa Bộ Giáo dục đã đưa
vào chương trình Ngữ văn nhiều văn bản Nhật dụng. Ngoài yêu cầu học sinh
phải nắm được nội dung chủ yếu trong văn bản thì điều quan trọng hơn nữa là
phải tích hợp cho học với các môn học khác. Ngoài ra còn giáo dục cho học sinh
về tư tưởng, quan điểm sống mang tính cập nhật, gắn kết với đời sống, đưa học
Ngữ văn thành bài thuyết minh về một vấn đề lịch sử, sinh học hay pháp luật,
dẫn đến hiệu quả các tiết dạy học các loại văn bản này chưa cao.
Người thực hiện: Hoàng Thị Thanh Tân – GV trường THCS Nguyễn Chí Thanh
2
Đề tài:
“Ứng dụng công nghệ thông tin giảng dạy học kiểu văn bản Nhật dụng trong trường THCS”
Bản thân tôi đã trực tiếp giảng dạy chương trình Ngữ văn thay sách nhiều
năm, tôi nhận thấy mình và các đồng nghiệp còn bộc lộ rất nhiều hạn chế cả về
phương pháp và kiến thức, nhất là phương pháp dạy các văn bản Nhật dụng.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “ Ứng
dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy văn bản Nhật dụng ở trường THCS”
để góp phần nâng cao hiệu quả giờ dạy văn bản Nhật dụng và để học sinh yêu
thích giờ học văn. Đồng thời thông qua tiết học sẽ tích hợp giáo dục đạo đức cho
học sinh.
• Phạm vi nghiên cứu:
Trường THCS Nguyễn Chí Thanh – Dak Mil – Dak Nông
• Đối tượng nghiên cứu:
Giáo viên và học sinh bậc THCS (Từ lớp 6 – lớp 9)
• Mục đích đề tài:
Ứng dụng được công nghệ thông tin vào giảng dạy văn bản nhật dụng
nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy của giáo viên và mang lại hiệu quả, hứng thú
học tập cho học sinh.
• Điểm mới của đề tài:
Ứng dụng được công nghệ thông tin trong giảng dạy văn học. Thông qua
tiết học giáo viên dễ dàng hơn trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh và liên
hệ thực tế. Còn học sinh dễ dàng nắm bắt được nội dung có hứng thú trong học
tập.
PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1/ CƠ SỞ KHOA HỌC:
Những đổi mới đồng bộ về giáo dục THCS và việc xây dựng chương trình
biểu cảm (Bức thư của thủ lĩnh da đỏ, Mẹ tôi, Cổng trường mở ra), văn bản nghị
luận (Đấu tranh cho một thế giới hoà bình; Tuyên bố thế giới về sự sống còn,
quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em). Đó có thể là một bài báo thuyết
minh khoa học (Thông tin về ngày trái đất năm 2000; Ôn dịch, thuốc lá), nhưng
cũng có thể là một văn bản văn học thuộc loại tự sự (Cuộc chia tay của những
con búp bê) Từ các hình thức đó, những vấn đề thời sự cập nhật của cá nhân
và cộng đồng hiện đại được khơi dậy, sẽ đánh thức và làm giàu tình cảm và ý
Người thực hiện: Hoàng Thị Thanh Tân – GV trường THCS Nguyễn Chí Thanh
4
Đề tài:
“Ứng dụng công nghệ thông tin giảng dạy học kiểu văn bản Nhật dụng trong trường THCS”
thức công dân, cộng đồng trong mỗi người học giúp các em dễ hoà nhập hơn với
cuộc sống xã hội mà chúng ta đang sống.
2/ THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ:
Hiện nay, những vấn đề được đề cập đến trong văn bản nhật dụng đều là
những vấn đề vô cùng cần thiết cho tất cả các đối tượng hiện nay. Thông qua
văn bản chúng ta có thể đưa đến cho học sinh những thong điệp cần thiết phù
hợp với xã hội Hiện đại. Tuy nhiên, khi giảng dạy kiểu văn bản này chúng tôi
cũng găp nhiều vấn đề:
• Thuận lợi:
- Những kiến thức này rất gần gũi với giáo viên và học sinh.
- Một vài văn bản chúng ta có thể quan sát được trên thực tế mắt
thấy, tai nghe.
- Tài liệu dễ dàng tìm kiếm được trên thông tin truyền thông.
- Nội dung rõ rang, học sinh dễ hiểu. GV dễ dàng đưa ra được
thông điệp mà mình muốn.
• Khó khăn:
- Văn bản nhật dụng mới được đưa vào giảng dạy, số lượng văn
bản không nhiều nên GV còn thấy rất mới mẻ, ít có kinh nghiệm,
lúng túng về phương pháp.
- Động Phong Nha
- Di tích lịch sử
- Quan hệ giữa thiên
nhiên và con người
- Danh lam thắng cảnh
7
Ngữ văn 7
- Cổng trường mở ra
- Mẹ tôi
- Cuộc chia tay của những con
búp bê
- Ca Huế trên sông Hương
- Nhà trường
- Người mẹ
- Quyền trẻ em
- Văn hoá dân tộc
8
Ngữ văn 8
- Thông tin về ngày trái đất năm
2000
- Ôn dịch, thuốc lá
- Bài toán dân số
- Môi trường
-T ệ nạn xã hội
- Dân số
9
Ngữ văn 9
- Đấu tranh cho một thế giới hoà
bình
- Phong cách Hồ Chí Minh
kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Bằng các sự kiện, các tư liệu chính xác
về cây cầu, lồng trong các hình ảnh nhuần thấm cảm xúc suy tư của tác giả, cầu
Long Biên đã hiện lên như một hình tượng sống động và chân thực, vừa gần gũi
vừa thiêng liêng trong cảm nhận của mỗi người đọc Việt Nam thuộc nhiều thế
hệ, nhất là thế hệ trẻ, bồi đắp thêm không chỉ tình yêu đối với câu Long Biên
của thủ đô đất nước mà còn khơi dậy ở họ lòng tự hào cùng ý thức giữ gìn và
quảng bá đối với các di tích lịch sử trên đất nước yêu quý của chúng ta.
Nội dung ấy toát lên từ lối văn thuyết minh đan cài tư liệu với hình ảnh và
cảm xúc của người viết, mà nếu nhìn từ góc độ phương thức biểu đạt thì đó sẽ là
Người thực hiện: Hoàng Thị Thanh Tân – GV trường THCS Nguyễn Chí Thanh
7
Đề tài:
“Ứng dụng công nghệ thông tin giảng dạy học kiểu văn bản Nhật dụng trong trường THCS”
kiểu thuyết minh có kết hợp miêu tả và biểu cảm, nếu quan niệm về thể loại văn
học thì đây là bài bút kí.
Chính vì vậy, khi dạy văn bản này giáo viên phải trình chiếu cho học sinh
những hình ảnh liên quan đến cây cầu Long Biên trong thời kỳ Pháp thuộc và
ngày nay để học sinh dễ dàng nhận thấy đường vẻ đẹp và giá trị lịch sử của cây
cầu hơn một thế kỷ tồn tại.
Hay qua văn bản “Bức thư của thủ lĩnh da đỏ” là bức thư của thủ lĩnh Xi–
at-tơn trả lời tổng thống thứ 14 của nước Mĩ, đựơc xem là một trong những văn
bản hay nhất về thiên nhiên và môi trường. Nhìn dưới góc độ phương thức biểu
đạt thì đây là văn bản biểu cảm kết hợp với miêu tả và tự sự. Văn bản đã toát lên
một ý nghĩa sâu sắc: Con người phải sống hoà hợp vớ thiên nhiên, phải chăm lo
bảo vệ môi trường và thiên nhiên như bảo vệ chính mạng sống của mình. Đây
cũng chính là thông điệp mà giáo viên phải đưa đến cho học sinh.
Còn bài “Động Phong Nha” là bài giới thiệu về “Đệ nhất kì quan” của
tỉnh Quảng Bình với bảy cái nhất : hang động dài nhất, cửa hang cao và rộng
nhất, bãi cát bãi đá rộng và đẹp nhất, có những hồ ngầm đẹp nhất, hang khô rộng
và đẹp nhất, thạch nhũ tráng lệ và đẹp nhất, sông ngầm dài nhất. Phương thức
lúc chúng ta phải nhìn nhận lại thói quen dùng bao bì ni lông để có hành động
thiết thực bảo vệ môi trường sống của chúng ta bằng cách hưởng ứng lời kêu
gọi: “Một ngày không dùng bao bì ni lông”. Thông điệp này chính là nội dung
nhật dụng của văn bản “Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000”. Qua văn bản
này, giáo viên ngoài việc cho học sinh xem về những tranh ảnh có thể làm ảnh
hưởng đến sức khỏe với con người. cần thiết giáo viên cho học sinh đi hoạt động
thực tế hoặc cho học sinh xem những hoạt động của học sinh, sinh viên, thanh
niên đối với việc bảo vệ môi trường. để khích lệ tinh thần và ý chí quyết tâm bảo
vệ trái đất có một môi trường xanh – sạch – đẹp.
“Ôn dịch ,thuốc lá” là một bài thuyết minh cung cấp cho bạn đọc những
tri thức khách quan về tác hại của thuốc lá đối với sức khoẻ và có thể làm suy
thoái đạo đức con người. Không dừng ở đó văn bản này còn thể hiện tinh thần
trách nhiệm của người viết đối với sức khoẻ cộng đồng khi ông trực tiếp bày tỏ
thái độ đối với thuốc lá mà ông gọi là một thứ “ôn dịch”, và kiến nghị “Đã đến
lúc mọi người phải đứng lên chống lại, ngăn ngừa nạn ôn dịch này”. Giáo viên
phải cho học sinh xem những tranh ảnh về tác hại của thuốc lá, các tranh ảnh
càng mạnh mẽ các tốt. Để các em kịp thời tránh xa thứ “Ôn dịch” này.
Người thực hiện: Hoàng Thị Thanh Tân – GV trường THCS Nguyễn Chí Thanh
9
Đề tài:
“Ứng dụng công nghệ thông tin giảng dạy học kiểu văn bản Nhật dụng trong trường THCS”
Vì ý nghĩa nhật dụng của văn bản này không chỉ là cảnh báo cho mỗi
người về một nạn dịch có sức tàn phá sức khoẻ cộng đồng, gây ra thành tệ nạn
xã hội mà còn góp phần cổ động cho chiến dịch truyền thông chống hút thuốc lá
đang diễn ra rộng khắp hiện nay.
Các văn bản nhật dụng trong SGK Ngữ văn 9:
“Phong cách Hồ Chí Minh” là bài viết nhằm trình bày cho bạn đọc hiểu
và quý trọng vẻ đẹp của phong cách Bác Hồ. Bài văn có hai phần nội dung.
Phần thứ nhất nói về vẻ đẹp trong phong cách văn hoá của Bác, đó là sự kết hợp
hài hoà giữa phâm chất dân tộc và tính nhân loại trong tiếp nhận văn hoá. Phần
*/ Vận dụng công nghệ thông tin trong quá trình dạy học ta thấy dễ dàng
xác định được mục tiêu đặc thù của bài học văn bản nhật dụng đó là:
Nhấn mạnh vào hai khía cạnh chính: Trang bị kiến thức và trau dồi tư
tưởng , tình cảm thái độ cho học sinh. Nghĩa là, qua văn bản, cung cấp và mở
rộng hiểu biết cho học sinh về những vấn đề gần gũi, bức thiết đang diễn ra
trong đời sống xã hội hiện đại. Từ đó, tăng cường ý thức công dân đối với cộng
đồng.
VD: Với văn bản “Ca Huế trên sông Hương”, mục tiêu bài học được xác
định như sau:
Học sinh hiểu từ văn bản “Ca Huế trên sông Hương”:
- Ca Huế với sự phong phú về nội dung, giàu có về làn điệu, tinh tế trong
biểu diễn và thưởng thức là một nét đẹp của văn hoá cố đô Huế, cần được giữ
gìn và phát triển.
- Từ đó mở rộng vốn hiểu biết về văn hoá Huế và âm nhạc dân gian các
vùng miền, bồi đắp tình yêu đối với xứ Huế và các giá trị văn hoá dân tộc.
-Văn bản nhật dụng có thể được viết ở dạng thuyết minh kết hợp với nghị
luận ,miêu tả, bộc lộ cảm xúc.
*/ Ngoài ra, nếu xác định ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học văn
bản nhật dụng thì đòi hỏi giáo viên phải có sự đầu tư kỹ lưỡng trước khi
giảng dạy như:
* Chuẩn bị
Về kiến thức:
Người thực hiện: Hoàng Thị Thanh Tân – GV trường THCS Nguyễn Chí Thanh
11
Đề tài:
“Ứng dụng công nghệ thông tin giảng dạy học kiểu văn bản Nhật dụng trong trường THCS”
GV không chỉ xác dịnh đúng mục tiêu kiến thức của văn bản mà còn phải
trang bị thêm cho mình những kiến thức mở rộng, hỗ trợ cho bài giảng như thu
thập các tư liệu có liên quan đến bài giảng trên các nguồn thông tin đại chúng
(phát thanh, truyền hình, mạng Internet, báo chí, sách vở, tranh ảnh, âm nhạc )
tiếp trong hình thức ấy.
- VD: Văn bản “Cuộc chia tay của những con búp bê” được tạo theo
phương thức biểu đạt tự sự thì hoạt động dạy học sẽ được tiến hành theo các yếu
tố tự sự đặc trưng như: sự việc, nhân vật, lời văn, ngôi kể; từ đó hiểu chủ đề nhật
dụng đặt ra trong văn bản này là vấn đề quyền trẻ em trong cuộc sống của gia
đình thời hiện đại .
- Mặc dù các phương thức biểu đạt chủ yếu của văn bản nhật dụng là
thuyết minh và nghị luận nhưng các văn bản này thường đan xen các yếu tố của
phương thức khác như: tự sự ,biểu cảm. Khi đó giáo viên cũng cần chú ý đến
yếu tố này.
Vận dụng linh hoạt các phương pháp đặc trưng của phân môn văn học
như: phương pháp đàm thoại, đọc diễn cảm, giảng bình. Trong đó, chú trọng
nhất phương pháp đàm thoại bằng hệ thống câu hỏi dẫn dắt theo mức độ từ dễ
đến khó rồi liên hệ với đời sống.
VD: trong bài “Ca Huế trên sông Hương”(có thể đặt các câu hỏi: Cách
biểu diễn thưởng thức ca Huế có gì giống và khác so với dân ca quan họ miền
Bắc? Từ tác động của ca Huế, em nghĩ gì về sức mạnh của dân ca nói chung đối
với tâm hồn con người?)
* Lưu ý:
Khi dạy văn bản nhật dụng, GV không nên quá coi trọng phương pháp
giảng bình. Bởi bình văn là tỏ lời hay ý đẹp về những điểm sáng thẩm mĩ trong
văn chương, đối tượng bình phải là những tác phẩm mang vẻ đẹp văn chương.
Theo tôi, một số văn bản giàu chất văn chương (như: Mẹ tôi, Cổng trường mở
ra, Ca Huế trên sông Hương, Cuộc chia tay của những con búp bê) giáo viên có
thể sử dụng lời bình giảng nhưng không nên đi quá sâu. Còn đối với những văn
bản nhật dụng không nhằm cảm thụ văn chương thẩm mĩ (như Bài toán dân số,
Thông tin về ngày trái đất năm 2000; Ôn dịch, thuốc lá) thì GV không thể bình
phẩm đựơc những vẻ đẹp hình thức nào cũng như những nội dung sâu kín nào
trong đó. Do vậy, khi dạy GV cần chú ý điều này để tránh sa vào tình trạng khai
Người thực hiện: Hoàng Thị Thanh Tân – GV trường THCS Nguyễn Chí Thanh
nhạc, Chính đồ dùng trực quan sống động đã kích thích hứng thú học tập của
học sinh, đồng thời giúp cho bài giảng của giáo viên trở nên sâu sắc, sống động.
Người thực hiện: Hoàng Thị Thanh Tân – GV trường THCS Nguyễn Chí Thanh
14
Đề tài:
“Ứng dụng công nghệ thông tin giảng dạy học kiểu văn bản Nhật dụng trong trường THCS”
- Giáo viên sử dụng phương pháp đàm thoại kết hợp với hình thức thảo
luận nhóm khá hiệu quả.
- HS hiểu bài và học khá sôi nổi, hoạt động tích cực.
Ví dụ: Qua bài : Ca Huế trên Sông Hương thì:
- Học sinh không chỉ hiểu được nét đẹp của văn hoá Huế mà còn hiểu
được âm nhạc dân gian của các vùng miền khác. Giáo dục cho học sinh thái độ
trân trọng, gìn giữ nét đẹp của văn hoá dân tộc.
2. Nhược điểm:
- Sự kết hợp giữa lời giảng và trình bày máy chiếu chưa thật nhuần
nhuyễn.(cần khắc phục)
=> Như vậy, qua bài thực nghiệm giảng dạy trên tôi nhận thấy rằng những
giải pháp tôi đưa ra trong đề tài hoàn toàn có thể thực hiện được đối với học sinh
trường THCS. Kết quả thực nghiệm cho thấy học sinh rất hào hứng với giờ học,
gắn bài học với thực tiễn rất nhanh và hiệu quả. Giờ học trở nên sôi nổi hơn, tạo
tâm lý nhẹ nhàng thoải mái cho học sinh ở những tiết học sau.
* ĐỀ XUẤT - KIẾN NGHỊ:
- Thư viện nhà trường nên có tranh ảnh, băng đĩa phục vụ tốt cho quá
trình giảng dạy các văn bản nhật dụng.
- Có thể được thì nên tổ chức các chuyến đi thực tế đến địa điểm liên quan
đến nội dung các văn bản nhật dụng để giáo viên và học sinh được quan sát và
tìm hiểu kỹ hơn.
Trên đây là một số kinh nghiệm “Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy
học văn bản nhật dụng trong trường THCS”. Rất mong sự đóng góp ý kiến của
các cấp lãnh đạo cũng như anh em, bạn bè đồng nghiệp.
C/ Phần III: Kết luận 13
* Bài học kinh nghiệm 14
* Đề xuất – kiến nghị 15
* Tư liệu tham khảo 16
Người thực hiện: Hoàng Thị Thanh Tân – GV trường THCS Nguyễn Chí Thanh
17
Đề tài:
“Ứng dụng công nghệ thông tin giảng dạy học kiểu văn bản Nhật dụng trong trường THCS”
NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA TỔ CHUYÊN MÔN: TỔNG ĐIỂM:
XẾP LOẠI:
Dak Mil, ngày tháng năm 2012
Người đánh giá
Người thực hiện: Hoàng Thị Thanh Tân – GV trường THCS Nguyễn Chí Thanh
20