SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG BÉO PHÌ CHO TRẺ”
I- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Cùng với sự phát triển chung của xã hội, mỗi người chúng ta ngày nay đều có cuộc
sống đầy đủ sung túc hơn. Chính vì vậy trẻ em ngày nay được hưởng sự chăm sóc đặc
biệt của gia đình và toàn xã hội, nhiều người cho rằng có điều kiện cho con ăn nhiều là
tốt; con mình càng mập mạp, càng bụ bẫm thì càng tốt hơn, nên đến khi cha mẹ phát hiện
con mình thừa cân quá nhiều thì đã muộn. Trong lúc mức độ báo động và cần thiết sự
quan tâm của xã hội đối với trẻ thừa cân béo phì hiện nay được ưu tiên hàng đầu.
Là một cán bộ phụ trách mãng công tác bán trú của một trường mầm non tôi đã suy
nghĩ và có nhận thức như sau: Giáo dục mầm non là một bộ phận quan trọng trong sự
nghiệp giáo dục và đào tạo, là tiền đề cho sự phát triển toàn diện về đức, trí, thể mỹ của
con người. Sự phát triển của con người bắt đầu từ những ngày thơ ấu; đây là điểm nút
góp phần hình thành nhân cách cho trẻ. Do vậy, bậc học mầm non phải có nhiệm vụ phát
triển toàn diện về mọi mặt; trong đó chăm sóc sức khỏe mầm non là một điều kiện cần
thiết. Bởi vì, trẻ em lớn lên thông qua 2 quá trình tăng trưởng và phát triển, hai quá trình
này tuy khác nhau, nhưng có mối quan hệ phụ thụôc vào nhau, tác động qua lại với nhau.
Nếu một đứa trẻ sức khỏe tốt là cơ sở cho sự phát triển về nhân cách. Do đó, nhiệm vụ
trọng tâm của trường mầm non là phải kết hợp hài hòa giữa giáo dục nâng cao sức khỏe
với phát triển các mặt vận động, tâm lý của trẻ. Chăm sóc sức khỏe cho trẻ, đảm bảo các
điều kiện về chế độ dinh dưỡng, chế độ sinh hoạt hàng ngày như: ăn, ngủ, vệ sinh thân
thể, vệ sinh môi trường thoáng mát, an toàn đối với trẻ, để phòng chống các loại vi khuẩn
và khám bệnh định kỳ cho trẻ; gắn với giáo dục tâm lý, tình cảm, bồi dưỡng năng lực
nhận biết về thế giới xung quanh, về các biện pháp vận động thể lực cho trẻ. Sức khỏe
của trẻ em phụ thụôc vào rất nhiều yếu tố như chế độ dinh dưỡng, phòng bệnh, di truyền,
môi trường … trong đó, chế độ dinh dưỡng là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới
sự phát triển của trẻ em; thiếu ăn, ăn không đủ chất, ăn không hợp lý dẫn đến trẻ suy dinh
dưỡng và ngược lại nếu cho trẻ ăn quá mức cần thiết, ăn quá nhiều thức ăn, tỷ lệ mỡ và
thức ăn béo trong khẩu phần ăn quá cao, chế độ ăn ít thay đổi, hoạt động thể lực ít cũng
dẫn đến trẻ thừa cân, béo phì … đều gây tác hại cho sức khỏe của trẻ sau này.
trọng đó và thực trạng hiện nay ở trường trẻ có nguy cơ béo phì và béo phì. Bản thân là
Hiệu phó phụ trách công tác bán trú, tôi không thể nào không quan tâm đến vấn đề này,
và luôn trăn trở cần tìm nhiều biện pháp chăm sóc trẻ tốt hơn và làm sao để trẻ không bị
thừa cân béo phì, phát triển một cách toàn diện cả về trí lực và thể lực.
* Thuận lợi:
- Trong những năm gần đây nhờ sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước cũng
như của xã hội đối với ngành Giáo dục nói chung và bậc học mầm non nói riêng đã có
bước chuyển biến đáng kể về điều kiện cơ sở vật chất cũng như trang thiết bị dạy và học.
- Đội ngũ cán bộ- giáo viên- nhân viên nêu cao tinh thần trách nhiệm, nhịêt tình
trong công tác nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ. 100% giáo viên được chuẩn hoá
theo quy định và tay nghề từng bước được nâng lên.
- Tất cả giáo viên ở trường được tham gia qua các lớp học tập huấn nghiệp vụ về
chăm sóc sức khỏe, vệ sinh an toàn thực phẩm cho trẻ do ngành Giáo dục tổ chức.
- Đa số phụ huynh có ý thức, trách nhiệm hơn trong việc giáo dục trẻ tại gia đình.
Biết phối hợp giữa nhà trường và gia đình để chăm sóc trẻ tốt hơn.
* Khó khăn:
- Đội ngũ cấp dưỡng trong trường chưa qua lớp đào tạo nấu ăn, chủ yếu thông qua
kinh nghiệm hoạt động thực tiễn là chính, nên việc tiếp thu, nắm bắt qua phổ biến, tập
huấn về chế độ dinh dưỡng của nhà trường có phần còn hạn chế. Mặt khác, đa số các chị
cấp dưỡng lớn tuổi nên việc tham gia học tập kiến thức nuôi dạy trẻ có nhiều khó khăn
nhất định.
- Một bộ phận phụ huynh ở trường thường hay cưng chiều con quá mức trong việc
ăn uống, cha mẹ dùng những thực phẩm không thích hợp để làm yên những đứa trẻ hiếu
động, quấy khóc, hoặc dùng thức ăn mà trẻ yêu thích như: (kẹo, bánh, Snack, Socola …).
* Khảo sát thực trạng:
- Đầu năm học 2007- 2008, tôi chỉ đạo và phát biểu đồ tăng trưởng cho giáo viên
từng nhóm, lớp lập biểu đồ tăng trưởng cân đo vào ngày 15/9/2007. Sau đó, tôi kiểm tra
biểu đồ tăng trưởng và dựa vào bảng đánh giá chiều cao, cân nặng để đánh giá trẻ có suy
dinh dưỡng và trẻ có béo phì hay không? và nắm số liệu, qua khảo sát kết quả như sau:
+ Có 8 cháu bị thừa cân, béo phì.
và có nguy cơ béo phì hướng dẫn cấp dưỡng nấu ăn riêng và giáo viên tổ chức cho trẻ ăn
theo thực đơn riêng …; đồng thời phải phối hợp chặt chẽ với phụ huynh để có chế độ ăn
phù hợp cho trẻ tại gia đình, giáo viên chú ý thường xuyên cho trẻ tham gia các hoạt động
thể dục, thể thao.
- Trên cơ sở được sự thống nhất của Ban giám hiệu, hội đồng nhà trường, tôi đã tổ
chức họp phụ huynh thông báo danh sách những trẻ béo phì và có nguy cơ bị béo phì cho
phụ huynh biết; đồng thời tổ chức họp riêng những phụ huynh có con bị nguy cơ béo phì
và béo phì để phối hợp một số biện pháp thực hiện trong năm học.
- Tôi nghĩ muốn biện pháp này có kết quả, cần phải có sự kết hợp với nhiều đối
tượng khác để cùng nhau chăm sóc trẻ thì mới đạt hiệu quả cao, nhất là những người
đang làm công tác nuôi dưỡng trẻ cần phái có cái tâm thật sự tốt, thật sự yêu nghề, và
lòng kiên nhẫn thì mới thực hiện được.
- Tôi phải thường xuyên sưu tầm những tranh ảnh, tài liệu, trên mạng, trang Web
cập nhật thông tin để phổ biến cho giáo viên nắm và tuyên truyền cho phụ huynh biết.
* Có kế hoạch thay đổi dần chế độ ăn uống cho trẻ béo phì và có nguy cơ béo
phì bằng cách:
- Giảm năng lượng đưa vào khẩu phần ăn từng bước một, mỗi tháng giảm khoảng
50 Cala so với khẩu phần ăn trước đó cho đến khi đạt năng lượng tương ứng, đặc biệt là
giảm chất béo, đường ngọt, tăng chất xơ trong các bữa ăn, nhưng vẫn đảm bảo cho trẻ
được ăn no, đủ chất và khỏe mạnh thật sự.
- Đối với những trẻ béo phì rồi thì phải hạn chế dầu mỡ trong bữa ăn chứ không
phải là cấm ăn dầu mỡ. Vì dầu mỡ ngoài cung cấp năng lượng còn là dung môi hòa tan
các loại vitamin tan trong dầu như Vitamin A phòng bệnh khô mắt giúp trẻ phát triển thể
lực, Vitamin D chống bệnh còi xương, Vitamin K,E tham gia vào nhiều chức phận trong
cơ thể. Vì thế, khẩu phần ăn của những trẻ này tôi giảm bớt dầu, mỡ, cơm bằng cách
thêm rau, củ, quả, ít ngọt để đảm bảo các cháu vẫn có cảm giác no mà không thừa năng
lượng. Thường xuyên thay đổi thực phẩm, kết hợp nhiều loại thực phẩm, món ăn hỗn hợp
để trẻ ăn nhiều rau xanh, nhưng rất chú ý đến 10 cặp thực phẩm xung khắc và thường
xuyên thay đổi cách chế biến các món ăn, thực đơn cho trẻ để tránh béo phì.
- Vì thế thực đơn tôi lên riêng cho những trẻ béo phì vẫn cho trẻ ăn đầy đủ chất
- Trẻ em cần được nuôi dưỡng một cách khoa học để phát triển đúng quy luật. Vì
vậy, phải giữ chế độ ăn hợp khoa học, không ăn quá nhiều chất béo, chỉ ăn đủ lượng
protein, đủ Vitamin và chất khoáng, tăng tỷ lệ chất xơ, khoai củ, đậu đỗ, hạn chế ăn
đường, thay đổi các món ăn thường xuyên trong tuần.
- Do vậy, tôi chỉ đạo giáo viên phải thường xuyên tổ chức cho trẻ luyện tập thể dục
thể thao, vui chơi, hoạt động, nhưng phải phù hợp với thể lực. Chú ý giáo viên theo dõi
cân nặng hàng tháng, phát hiện sớm nguy cơ thừa cân của trẻ để có biện pháp phòng ngừa
và điều trị trẻ béo phì kịp thời.
* Làm tốt công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình:
Đây là việc làm nhà trường xác định có tầm quan trọng rất lớn để đem đến hiệu quả
trong việc chăm sóc và phòng ngừa trẻ béo phì.
- Do vậy, tôi chỉ đạo hàng ngày giáo viên thường xuyên trao đổi tình hình trẻ ở tại
trường trong giờ đón trả trẻ, kết hợp tuyên truyền giáo dục dinh dưỡng cho trẻ béo phì ở
cả gia đình và nhà trường.
- Cho phụ huynh biết béo phì là gì? Tác hại và nguy cơ béo phì? Nguyên nhân béo
phì là do đâu? Cách điều trị và phòng ngừa.
- Cho phụ huynh biết cho trẻ ăn hạn chế các loại bánh kẹo, đường, mật, kem, sữa
đặc có đường, sữa béo (vì cung cấp nhiều năng lượng), thay vào đó cho trẻ uống sữa bột
tách bơ, sữa đậu nành, sữa chua.
- Bản thân tôi cũng như giáo viên thường xuyên gặp phụ huynh trao đổi với phụ
huynh về tình hình của trẻ sau mỗi lần cân đo, kiểm tra sức khỏe trẻ.
* Điều trị cho trẻ bị béo phì:
Trước hết, tôi tuyên truyền phổ biến cho giáo viên biết điều trị béo phì rất khó khăn
phải kiên trì, thời gian điều trị không chỉ kéo dài hàng tháng, có khi là hàng năm thì mới
đạt được kết quả.
Cơ thể trẻ em luôn phát triển và tăng trưởng, vì vậy trong điều trị béo phì ở trẻ em
không được đặt ra vấn đề giảm cân mà mục tiêu điều trị là giảm tốc độ tăng cân hay tránh
tăng cân để đảm bảo sự phát triển chiều cao và cân nặng cân đối.
2- Đối với giáo viên:
Từ đó giáo viên phải thực hiện nghiêm túc sự chỉ đạo của nhà trường cũng như biện
cũng liên quan đến tình trạng béo phì của trẻ. Để điều chỉnh chế độ ăn uống, bắt các cháu
ăn theo chế độ riêng không phải là chuyện dễ dàng, đòi hỏi cô giáo phải kiên trì, nhẹ
nhàng giảng giải cho trẻ mỗi khi đến giờ ăn.
- Qua kiểm tra giờ ăn nắm tình hình từ phía giáo viên tôi được biết một số cháu
năm học 2007- 2008 còn quen với nề nếp, sinh hoạt và thực đơn đã ăn nên việc cho trẻ
tiếp tục ăn theo chế độ ăn riêng không có gì khó khăn, nhưng đối với những trẻ mới tuyển
vào năm học này thì gặp rất nhiều khó khăn trong giờ ăn, vì thế tôi chỉ đạo giáo viên phải
hết sức quan tâm động viên, khuyến khích trẻ ăn theo chế độ mới.
- Chỉ đạo giáo viên trong các bữa ăn giáo viên khuyến khích trẻ ăn nhiều rau
xanh, hoa quả ít ngọt vì nhóm thức ăn này ngoài cung cấp vitamin, muối khoáng còn có
tác dụng điều hòa sự bài tiết của cơ thể, chống táo bón, phòng ngừa xơ mỡ động mạch (vì
có nhiều chất xơ là xenlulozơ). Chú ý bữa ăn của trẻ xếp riêng các cháu thừa cân và béo
phì để dễ dàng thực hiện chế độ ăn hợp lý cho các cháu, cho trẻ ăn đúng thời gian quy
định Tạo thói quen cho trẻ ăn uống điều độ, theo đúng chế độ của trẻ, không quá no,
không được bỏ bữa, không để trẻ đói. Đối với biện pháp này năm đầu rất khó khăn cho
giáo viên, vì thực tế những trẻ thích ăn cơm nhiều hơn, nhưng với sự nhiệt tình của cô
động viên khuyến khích dần dần trẻ cũng quen với thực đơn theo chế độ dành cho mình.
- Chỉ đạo giáo viên nghiêm túc thực hiện chế độ sinh hoạt một ngày của trẻ, và đối
với trẻ béo phì và có nguy cơ béo phì thực hiện đúng thời gian cho các hoạt động theo
quy định có sự giám sát chặt chẽ của Ban giám hiệu nhà trường có như vậy tôi đã tạo cho
trẻ được một thói quen tốt giờ nào việc ấy.
- Hàng tháng vào ngày 15 giáo viên tổ chức cân đo những trẻ béo phì để theo dõi
mức độ phát triển của trẻ. Sau đó, tôi kiểm tra lại xem có đúng thực chất hay không? và
có một kế hoạch riêng đối với những trẻ béo phì về cách theo dõi cân đo hàng tháng.
3- Đối với cấp dưỡng:
Phải thực hiện nghiêm túc sự chỉ đạo của nhà trường cũng như biện pháp Hiệu phó
bán trú triển khai.
- Phổ biến cho cấp dưỡng nấu ăn đảm bảo đúng giờ, biết cách khi chọn thực phẩm
phải tươi ngon, không có chất kích thích, chất xúc tác, rau ngon đảm bảo vệ sinh an toàn
thực phẩm. Đúng như vậy hoa quà là một thức ăn vô cùng quan trọng nó góp phần tăng
- Thực đơn: - Canh rau ngót nấu cua
- Thịt sốt cà chua
- Cháo thập cẩm
- Thực đơn: - Thịt bò hầm hạt sen
- Rau, củ nấu xương
- Cháo thịt của quả
- Thực đơn: - Canh chua nấu chả cá
- Xào thập cẩm
- Phở gà …
4- Tuyên truyền phụ huynh:
- Buổi tối cho các con ăn thức ăn dễ tiêu hơn vì buổi tối các con ít làm và vận động
hơn. Cần nhất là cha mẹ phải coi lại chế độ ăn uống của con em mình, hạn chế nhưng
chất dầu mỡ, chiên sào và cho các cháu tập thể dục
- Kết hợp với gia đình để phụ huynh hiểu sâu hơn về vấn đề này tôi thường tư vấn
cho cha mẹ trẻ cách nấu ăn như thế nào cho trẻ béo phì và có nguy cơ béo phì với những
bữa ăn ở nhà để trẻ ăn ngon miệng mà vẫn đảm bảo được mục đích giảm khả năng tăng
cân cho trẻ.
- Hàng ngày tôi thường truy cập trên mạng, trang Web Giáo dục Mầm Non tìm
những thông tin để cập nhật và tuyên truyền cho phụ huynh như:
(Mỗi hình ảnh này đều có một nội dung tuyên truyền kèm theo cho phụ huynh
xem)
Thức ăn nhanh - một trong những thủ phạm gây béo phì
Với
những trẻ thừa cân, hãy cho trẻ ăn nhiều chất Trẻ béo phì dễ mắc chứng bệnh
gan nhiễm mỡ
xơ hơn là những chất bột, béo hay đường
Báo động tình trạng trẻ béo phì ở các trường học
Cho trẻ ăn uống đầy đủ các chất hợp lý sức khỏe của trẻ phát triển tốt hơn
(Năm học: 2007 -2008 và 2008 -2009)
KẾT QUẢ TRẺ CÓ NGUY CƠ BÉO PHÌ 2 NĂM LIỀN KỀ
(Năm học: 2007-2008 và 2008-2009)
Năm học Đầu năm Cuối năm
Số trẻ Tỷ lệ
%
Số trẻ Tỷ lệ
%
2007- 2008 10/237 4,21% 7/237 2,95%
2008- 2009 12/239 5,02% 4/239 1,67%
* So sánh tỷ lệ giảm trẻ có nguy cơ béo phì năm thứ I và năm thứ II là: 1,28%
SƠ ĐỒ MINH HỌA TRẺ NGUY CƠ BÉO PHÌ 2 NĂM LIỀN KỀ
(Năm học: 2007- 2008 và 2008- 2009)
- Đây là kết quả đáng mừng cho tôi, Hội đồng nhà trường và cũng là niềm vui của
phụ huynh học sinh có con em béo phì và có nguy cơ béo phì. Từ đó những cái tên gọi
gáng ghép đã đi vào quên lãng không ai nhớ tới, và các cháu trước kia béo phì đến nay
khỏe mạnh bình thường như các bạn khác.
IV- BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
- Việc điều trị béo phì ở trẻ em đòi hỏi có thời gian, kết hợp sự điều chỉnh hợp lý
chế độ ăn của trẻ và các hoạt động. Với trẻ dưới 6 tuổi biện pháp chủ yếu là giảm tốc độ
tăng cân (không phải là làm cho trẻ giảm cân hoặc không tăng cân), bằng cách lực chọn
áp dụng những thực đơn đã được tính toán phù hợp với trẻ. Ngoài ra cần khuyến khích trẻ
hoạt động như chạy, nhảy hoạt động, đi bộ hoặc thông qua các trò chơi vận động phù hợp
hạn chế các trò chơi ít vận động như xem ti vi.
- Đối với các bậc cha mẹ trước tiên cần phải giáo dục làm thay đổi quan niệm “béo
là khỏe, phát tướng” giúp họ hiểu được nguyên nhân trẻ béo phì và đặc biệt là cách phòng
bệnh béo phì ở trẻ em. Hướng dẫn cho mẹ biết cách theo dõi sự tăng trưởng của con
mình, vá cách cho con ăn uống, hoạt động hợp lý nhằm phòng chống cả suy dinh dưỡng