Vốn và các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong công ty thương mại Công Nghệ Phẩm Hà Tây - Pdf 26

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Bước sang thiên niên kỷ mới, trong xu thế luôn vận động và đi lên không
ngừng của toàn xã hội, với cơ chế thị trường rộng mở có sự quản lý cuả Nhà nước
theo định hướng XHCN mà Đảng và Nhà nước ta lựa chọn, nền kinh tế nước ta đã
đạt được nhiều thành tựu khởi sắc đáng mừng.
Trong cơ chế thị trường, để đảm bảo cạnh tranh thắng lợi, giúp doanh nghiệp
đứng vững và phát triển đòi hỏi bản thân doanh nghiệp phải tự đổi mới cho phù
hợp với sự phát triển chung của toàn xã hội, phải vươn lên tự khẳng định mình, chỉ
có những doanh nghiệp tổ chức quá trình sản xuất kinh doanh của mình một cách
có hiệu quả thì mới có thể tồn tại và phát triển.
Để nâng cao hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp nói riêng và thúc
đẩy sự phát triển của nền kinh tế của mỗi quốc gia nói chung, thương mại đã và
đang trở thành một trong những lĩnh vực, một kênh phân phối, không thể thiếu
được trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Cũng như bất kỳ các loại hình doanh
nghiệp kinh doanh khác vấn đề huy động và sử dụng vốn luôn luôn được đặt lên
hàng đầu. Vốn thể hiện giá trị toàn bộ tài sản và các nguồn lực của doanh nghiệp,
không có vốn thì không thể tiến hành bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào. Vì vậy,
vốn kinh doanh có vai trò quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp. Trong cơ
chế thị trường các doanh nghiệp thương mại cũng phải luôn tìm kiếm, khai thác
các nguồn tài chính thích hợp, đồng thời phải tính toán, lựa chọn việc sử dụng các
nguồn vốn tạo được sao cho có hiệu quả nhất. “ Buôn tài không bằng dài vốn”. Vốn
ít thì chỉ có thể buôn bán nhỏ, vốn dài mới có thể buôn bán lớn và buôn bán xa.
Mặt khác, do đặc thù của hoạt động kinh doanh, vốn của các doanh nghiệp thương
mại chủ yếu là vốn lưu động, chiếm khoảng 70 – 80% vốn kinh doanh nên việc huy
động các nguồn vốn cho các doanh nghiệp này đóng vai trò rất quan trọng.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chính vì tầm quan trọng trên của vốn đã đưa tôi đến quyết định chọn đề tài:
“Vốn và các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp”.
Đề tài của em gồm có 3 phần:
Phần I : Lý luận chung về vốn và sử dụng vốn trong doanh nghiệp

cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp số tiền thu được do tiêu thụ sản phẩm
phải đảm bảo bù đắp toàn bộ các chi phí bỏ ra và có lãi.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trong các doanh nghiệp thương mại vốn kinh doanh được biểu hiện bằng
tiền của toàn bộ tài sản và các nguồn lực mà doanh nghiệp sử dụng trong hoạt động
kinh doanh bao gồm:
- Tài sản hiện vật như nhà kho, cửa hàng, hàng hóa dự trữ.
- Tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng và đá quý.
- Bản quyền sở hữu trí tuệ và các tài sản vô hình khác.
2. Vai trò của vốn kinh doanh.
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thương mại có vai trò quyết định trong
việc thành lập, hoạt động, phát triển của từng loại hình doanh nghiệp theo luật định.
Nó là điều kiện quyết định và quan trọng nhất cho sự ra đời, tồn tại phát triển của
các doanh nghiệp. Tuỳ theo nguồn của vốn kinh doanh, cũng như phương thức huy
động vốn mà doanh nghiệp có tên là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn,
doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp liên doanh…
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thương mại lớn hay nhỏ là một trong
những điều kiện quan trọng để xếp doanh nghiệp đó vào loại quy mô lớn, trung
bình hay nhỏ, đồng thời cũng là một trong những điều kiện để sử dụng các nguồn
tiềm năng hiện có và sẽ có trong tương lai về sức lao động, nguồn hàng hóa, mở
rộng và phát triển thị trường, mở rộng lưu thông hàng hóa, là điều kiện để phát triển
kinh doanh.
Vốn kinh doanh thực chất là nguồn của cải của xã hội được tích luỹ lại, tập
trung lại. Nó chỉ là một điều kiện, một nguồn khả năng để đẩy mạnh hoạt động kinh
doanh. Tuy nhiên nó chỉ phát huy tác dụng khi biết quản lý, sử dụng chúng một
cách đúng hướng, hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trong sự cạnh tranh gay gắt của thị trường, huy động được vốn mới chỉ là
bước khởi đầu, quan trọng hơn và quyết định hơn là nghệ thuật phân bố, sử dụng số
vốn với hiệu quả cao nhất, điều đó có ảnh hưởng đến vị thế của doanh nghiệp trên

Đối với công ty cổ phần : Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều
phàn bằng nhau gọi là cổ phần. Giá trị của mỗi cổ phần được gọi là mệnh giá cổ
phiếu.
+ Vốn bổ sung: Là số vốn tăng thêm do bổ sung từ lợi nhuận, do nhà nước
bổ sung bằng phân phối hoặc phân phối lại nguồn vốn, do sự đóng góp của các
thành viên, do bán trái phiếu.
+ Vốn do liên doanh: Là số vốn đóng góp do các bên cùng cam kết liên
doanh với nhau để hoạt động thương mại hoặc dịch vụ.
+ Vốn đi vay: Trong hoạt động kinh doanh ngoài số vốn tự có và coi như
tự có, doanh nghiệp còn sử dụng một khoản vốn đi vay khá lớn của ngân hàng.
Ngoài ra, còn có khoản chiếm dụng lẫn nhau của các đơn vị nguồn hàng khách
hàng và bạn hàng.
- Trên góc độ chu chuyển vốn kinh doanh :
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trong hoạt động kinh doanh, vốn kinh doanh vận động khác nhau. Xét trên
góc độ luân chuyển của vốn, người ta chia toàn bộ vốn của DNTM thành hai loại
là vốn lưu động và vốn cố định.
2. Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thương mại.
2.1. Vốn cố định.
2.1.1. Khái niệm.
Để tiến hành hoạt động kinh doanh, trước hết doanh nghiệp phải mua sắm
xây dựng và lắp đặt những tư liệu cần thiết cho hoạt động của mình. Thông thường
thì những tư liệu đó gồm: Các văn phòng, nhà kho, phương tiện vận chuyển ...
Những tư liệu lao động này có thể tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh,
chúng bị hao mòn đi một phần những vẫn giữ nguyên được hình thái vật chất ban
đầu và do đó, giá trị của chúng được chuyển dần từng phần vào giá trị sản phẩm.
Để đơn giản hoá công tác hạch toán và tăng cường hiệu quả của công tác quản lý,
tư liệu lao động được chia thành hai loại.
- Tài sản cố định là những tư liệu lao động có đủ hai điều kiện sau:
+ Thời gian sử dụng trên một năm.

Website: Email : Tel : 0918.775.368
2.1.3. Phân loại vốn cố định.
- Theo công dụng, tài sản cố định của doanh nghiệp thương mại được chia
thành:
Nhà làm việc hành chính, nhà kho, nhà cửa hàng, nhà để sửa chữa, để sản
xuất năng lượng (máy nổ hoặc máy điện), nhà để xe, phòng thí nghiệm…
+ Các công trình xây dựng và vật kiến trúc để tạo điều kiện để cần thiết cho
thực hiện các hoạt động nghiệp vụ trong kinh doanh thương mại như: cầu để bốc dỡ
vật tư hàng hóa, đường ô tô đi vào và ra, đường dây tải điện…
+ Các công cụ, máy móc, thiết bị, phương tiện cân đo, bảo quản, chưa đựng
dùng trong kinh doanh như các loại cân, các giá để chứa hàng, cần trục, cần cẩu,
máy chuyển tải (băng chuyền), phương tiện tính toán, báo động cứu hoả…
+ Các dụng cụ đồ nghề chuyên dùng để đóng gói hàng hóa, tháo mở bao bì,
phân loại, chuẩn bị hàng hóa…
+ Các loại phương tiện vận chuyển như ô tô tải, ô tô chuyên dùng, rơ móc,
xe chuyển hàng kéo tay, chạy điện…
+ Các loại tài sản cố định khác không ở các nhóm kể trên ngư bao bì tài sản,
côngtenơ..
- Theo mục đích sử dụng, các tài sản cố định được phân thành các nhóm
sau:
+ Tài sản cố định dùng trong kinh doanh là những tài sản đang dùng trong
kinh doanh, sản xuất và dịch vụ của doanh nghiệp
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Tài sản cố định hành chính sự nghiệp: là những tài sản dùng làm việc hành
chính, sự nghiệp như nhà làm việc hành chính, nhà tiếp khách, cơ quan của các
đoàn thể, nhà của y tế, văn hóa, thể dục thẻ thao…
+ Tài sản cố định phúc lợi: là những tài sản dùng cho nhu cầu phúc lợi công
cộng của doanh nghiệp như nhà điều dưỡng nghỉ mát, nhà ở của công nhân viên
của doanh nghiệp do doanh nghiệp tự xây dựng, các phương tiện vận chuyển của
doanh nghiệp đưa đón công nhân đi làm và về nhà…

phí, có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và hiệu quả của kinh doanh.
Cơ cấu tài sản cố định của các doanh nghiệp thương mại thường được tính
bằng các loại, số lượng tài sản cố định và tỷ trọng của mỗi loại so với toàn bộ tài
sản cố định của doanh nghiệp. Cơ cấu đó và sự thay đổi của nó là những chỉ tiêu
quan trọng nói lên trình độ kỹ thuật và khả năng phát triển hoạt động kinh doanh
của ngành lưu thông hàng hóa. Nó phản ánh đặc điểm hoạt động của từng doanh
nghiệp và giúp cho việc xác định phương hướng tái sản xuất mở rộng tài sản cố
định.
Giá trị một loại TSCĐ
Chỉ tiêu cơ cấu TSCĐ = * 100%
Giá trị toàn bộ TSCĐ
2.2. Vốn lưu động.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2.2.1. Khái niệm.
Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động và vốn lưu thông.
Vốn lưu động luôn luôn biến đổi hình thái từ tiền sang hàng và từ hàng sang tiền.
Vốn lưu động chu chuyển nhanh hơn vốn cố định. Vốn lưu động bao gồm: Vốn dự
trữ hàng hóa, vốn bằng tiền và các tài sản có khác.
Trong doanh nghiệp thương mại, vốn lưu động là khoản vốn chiếm tỷ trọng
lớn nhất có khi tới 80 đến 90% trong tổng số vốn. Đó là đặc điểm khác biệt của
doanh nghiệp thương mại đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh khác. ở
một thời điểm nhất định, vốn của doanh nghiệp thương mại thường thể hiện ở các
hình thái khác nhau như hàng hóa dự trữ, vật tư nội bộ, tiền gửi ngân hàng, tiền mặt
tồn quỹ, các khoản phải thu và các khoản phải trả. Cơ cấu của chúng phụ thuộc rất
lớn vào phương thức thanh toán.
Vốn lưu động của doanh nghiệp thương mại khi chu chuyển phải qua 2 giai
đoạn:
- Mua hàng hóa (T-H), tức là biến tiền tệ thành hàng hóa.
- Bán hàng hóa (H’-T’), tức là biến hàng hóa thành tiền tệ.
( T’ =T +∆T).

2.2.3. Phân loại vốn lưu động.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Theo công dụng của vốn lưu động, ta có:
+ Vốn nguyên vật liệu chính.
+ Vốn nguyên vật liệu phụ.
+ Vốn nhiên liệu.
+ Vốn tiền tệ và tài sản có quyết toán.
Vốn lưu động của đơn vị sản xuất phụ thuộc phải trải qua ba giai đoạn.
Biến tiền tệ thành dự trữ nguyên vật liệu chính, phụ, nhiên liệu, phụ tùng...
Biến nguyên nhiên vật liệu chính, phụ thành thành phẩm hàng hóa nhờ kết
hợp sức lao động và công cụ lao động (máy móc, thiết bị...).
Biến thành phẩm hàng hóa thành tiền tệ. Vốn lưu động phục vụ cho hai
giai đoạn trên là vốn sản xuất. Vốn lưu động ở giai đoạn thứ ba là vốn lưu thông.
Như vậy vốn lưu động của đơn vị sản xuất phụ thuộc gồm có:
Vốn lưu động
của đơn vị = Vốn lưu động sản xuất + Vốn lưu thông.
sản xuất
- Xét về mặt kế hoạch hóa, vốn lưu động của doanh nghiệp thương mại được
chia thành vốn lưu động định mức và vốn lưu động không định mức.
+ Vốn lưu động định mức là vốn lưu động tối thiểu cần thiết để hoàn thành
kế hoạch lưu chuyển hàng hóa và kế hoạch sản xuất, dịch vụ phụ thuộc. Vốn lưu
động định mức gồm có vốn dự trữ hàng hóa và vốn phi hàng hóa.
Vốn dự trữ hàng hóa là số tiền dự trữ hàng hóa ở các kho, trạm, cửa hàng,
trị giá hàng hóa trên đường vận chuyển và trị giá hàng hóa thanh toán bằng chứng
Website: Email : Tel : 0918.775.368
từ. Nó nhằm bảo đảm lượng hàng hóa bán bình thường cho các nhu cầu sản xuất và
tiêu dùng. Vốn dự trữ hàng hóa chiếm 80- 90% vốn lưu động định mức và 50- 70%
trong toàn bộ vốn kinh doanh của doanh nghiệp thương mại.
Vốn phi hàng hóa là số tiền định mức của vốn bằng tiền, bao gồm vốn
bằng tiền và các tài sản khác.

giúp doanh nghiệp chớp được thời cơ kinh doanh và tạo lợi thế cạnh tranh cho
mình.
3. Đặc điểm vốn kinh doanh.
-Do nhiệm vụ của doanh nghiệp thương mại là thực hiện lưu chuyển hàng
hóa và thực hiện các hoạt động dịch vụ, vì vậy cơ cấu và tính chất lưu chuyển của
vốn khác hẳn so với các đơn vị sản xuất. Trong cơ cấu vốn của doanh nghiệp
thương mại, vốn lưu động chiếm tỷ lệ lớn hơn so với vốn cố định và lưu chuyển
nhanh hơn. Vốn lưu động chiếm 70 – 80% vốn kinh doanh, trong vốn lưu động bộ
phận dữ trữ hàng hóa chiếm tỷ lệ cao. Như vậy, đối với doanh nghiệp thương mại
nói đến quản lý vốn trước hết phải chú ý tới tổ chức điều khiển bộ phận dự trữ
hàng hóa để vừa đảm bảo bán hàng liên tục đều đặn thường xuyên cho khách hàng
lại vừa tránh được ứ đọng vốn.
-Trong thành phần cơ cấu vốn cố định bộ phận tài sản cố định dùng trong
kinh doanh chiếm tỷ trọng lớn hơn. Ngày nay các doanh nghiệp thương mại thường
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đầu tư vốn cố định vào xây dựng nhà làm việc, cửa hàng ở những đầu mối giao
thông để tiện liên hệ với khách hàng và những tài sản cố định như thiết bị văn
phòng được chú ý đầu tư nhằm thu hút và phục vụ khách hàng tốt hơn.
-Tuỳ từng doanh nghiệp tuỳ thuộc phương thức và lĩnh vực kinh doanh mà
vốn lưu động của doanh nghiệp thương mại sẽ trải qua các thời kỳ chu chuyển khác
nhau. Ví dụ vốn của doanh nghiệp thương mại có sản xuất gia công chế biến, khác
với đơn vị bán buôn, đơn vị chuyên bán qua kho sẽ khác với đơn vị chỉ bán hàng
chuyển thẳng.
-Trong tình hình hiện nay ở Việt Nam, Các doanh nghiệp thương mại thường
có nguồn vốn của chủ sở hữu nhỏ hơn so với phần vốn vay và vốn liên doanh liên
kết, tình trạng này bất lợi trong việc giảm chi phí kinh doanh, nâng cao sức cạnh
tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
III. NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH VỐN KINH DOANH TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI.
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, trước tiên doanh nghiệp cần có

hoặc các doanh nghiệp để hình thành một doanh nghiệp mới.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Đối với công ty cổ phần: được biểu hiện dưới hình thứcvốn cổ phần, vốn
này do những người sánh lập công ty cổ phần phát hành cổ phiếu để huy động
thông qua việc bán những cổ phiếu đó.
- Nguồn vốn chủ sỡ hữu còn do tổng số tiền được tạo ra từ kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, số này gọi là lãi lưu giữ hoặc lãi chưa
phân phối.
- Ngoài ra, vốn chủ sở hữu còn bao gồm chênh lệch đánh giá lại tài sản, quỹ
phát triển sản xuất kinh doanh, quỹ dự trữ, chênh lệch tỷ giá, quỹ khen thưởng, quỹ
phúc lợi, vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí sự nghiệp.
2. Nguồn vốn vay.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hầu như không một doanh nghiệp nào
chỉ hoạt động kinh doanh bằng nguồn vốn tự có mà phải hoạt động bằng nhiều
nghuồn vốn, trong đó nguồn vốn vay chiếm tỷ lệ đáng kể.
Vốn vay có ý nghĩa quan trọng không chỉ ở khả năng tài trợ các nhu cầu bổ
sung cho việc mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh của công ty mà còn tạo
điều kiện linh hoạt trong việc thu hẹp quy mô kinh doanh bằng việc hoàn trả các
khoản nợ đến hạn và giảm số lượng vốn vay.
Nguồn vốn vay được thực hiện dưới các phương thức chủ yếu sau:
- Tín dụng ngân hàng: là các khoản mà doanh nghiệp vay của các ngân hàng
thương mại hoặc của các tổ chức tín dụng khác. Tín dụng ngân hàng có nhiều dạng,
song có các dạng quan trọng nhất là:
Website: Email : Tel : 0918.775.368
+ Tín dụng ứng trước: là một thể thức cho vay được thực hiện trên cơ sở hợp
đồng tín dụng, trong đó doanh nghiệp (khách hàng) được sử dụng một mức cho vay
trong một thời hạn nhất định.
+ Thấu chi (tín dụng hạn mức) là hình thức cấp tín dụng ứng trước đặc biệt
được thực hiện trên cơ sở hợp đồng tín dụng, trong đó doanh nghiệp được phép sử
dụng dư nợ trong một giới hạn và thời hạn nhất định trên tài khoản vãng lai.

nước ngoài đầu tư vào nước ta. Những doanh nghiệp và cá nhân này trực tiếp tham
gia quản lý và thu hồi vốn đó. Vốn đầu tư trực tiếp thường có quy mô nhỏ hơn
nhưng nó mang theo toàn bộ “năng lực kinh doanh” nên có thể thúc đẩy các ngành
nghề mới phát triển, đưa công nghệ mới và kinh nghiệm quản lý doanh nghiệp hiện
đại vào nước ta góp phần đào tạo các nhà quản lý và kinh doanh phù hợp với điều
kiện mới của kinh tế thị trường.
IV. CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH
DOANH.
Một doanh nghiệp được xem là có hiệu quả khi sử dụng các yếu tố cơ bản
của quá trình kinh doanh có hiệu quả, đặc biệt là sử dụng vốn kinh doanh. Để đánh
giá một cách khoa học hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thương mại, cần phải
xây dựng hệ thống chỉ tiêu phù hợp gồm có chi tiêu tổng quát và chỉ tiêu chi tiết cụ
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thể để tính toán. Các chỉ tiêu này phải phù hợp, phải thống nhất với công thức đánh
giá hiệu quả chung:
Kết quả thu được
Hiệu quả kinh doanh =
Chi phí bỏ ra.
Kết quả thu dược trong kinh doanh thương mại đo bằng các chỉ tiêu như
doanh thu, lợi nhuận và chi phí bỏ ra như lao động, vốn lưu động, vốn cố định…
1. Các chỉ tiêu phân tích tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng vốn
kinh doanh chung.
a. Hiệu suất vốn kinh doanh (VKD).
Doanh thu thuần trong kỳ
Hiệu suất VKD = ________________________
VKD
Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng vốn đem lại bao nhiêu đồng doanh thu.
b. Hàm lượng VKD.
VKD
Hàm lượng VKD =

Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng doanh thu thuần hay lợi nhuận thuần có bao
nhiêu đồng nguyên giá TSCĐ.
3. Phân tích hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
a)Mức sinh lời của vốn lưu động.
Lợi nhuận thuần hay lãi gộp
Mức sinh lời của VLĐ =
VLĐ bình quân
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mức sinh lời của vốn lưu động biểu thị mỗi đơn vị vốn lưu động bỏ vào kinh
doanh mang lại bao nhiêu lợi nhuận.
b)Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động.
VLĐ bình quân
Hệ số đảm nhiệm VLĐ =
Tổng doanh thu thuần
Chỉ tiêu này cho biết để có một đồng luân chuyển cần bao nhiêu đồng vốn
lưu động. Chỉ tiêu này càng nhỏ càng chứng tỏ trình độ sử dụng vốn lưu động của
doanh nghiệp cao.
c)Số vòng quay của vốn lưu động.

Tổng doanh thu thuần
Số vòng quay của VLĐ =
VLĐ bình quân
Số vòng quay của vốn lưu động cho biết vốn lưu động quay được bao nhiêu
vòng trong kỳ. Nếu số vòng quay càng nhiều càng chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn
cao và ngược lại.
d) Thời gian của một vòng luân chuyển (T).
Thời gian theo lịch trong kỳ
T =
Số vòng quay của VLĐ trong kỳ
Thời gian của một vòng luân chuyển thể hiện số ngày cần thiết để cho vốn

( Vbc - Vkh)
B = *Mkh
T
Trong đó: V
bc
: Số vòng quay tính bằng ngày trong kỳ báo cáo.
V
kh
: Số vòng quay tính bằng ngày trong kỳ kế hoạch.
M
kh
:Tổng mức lưu chuyển vốn lưu động kỳ kế hoạch.
T: Số ngày trong kỳ.

Trích đoạn Thực hiện 2000 So sánh tiền % Thực hiện 2001 So sánh tiền % Tình hình vốn của công ty. Thực hiện 2000 So sánh 00/99 Số tiền Tỷ lệ % Thực hiện 2001 So sánh 01/00 Số tiền Tỷ lệ % NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN VÀ TỒN TẠI CỦA CÔNG TY THƯƠNG MẠI CÔNG NGHỆ PHẨM HÀ TÂY. CÁC BIỆN PHÁP HUY ĐỘNG VỐN KINH DOANH.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status