Tiểu luận nhóm
Đề tài
:
Giải pháp tái cấu trúc hệ thống ngân
hàng Việt Nam hiện nay
I. Đặt vấn đề
Với bất kỳ một quốc gia nào, hoạt động của hệ thống ngân hàng luôn là huyết
mạch của nền kinh tế và sự ổn định, lành mạnh của hệ thống ngân hàng giữ vai trò trọng
yếu trong việc ổn định và phát triển của nền kinh tế. Ở Việt Nam, trong giai đoạn 2001-
2010, sự phát triển của nền kinh tế có tác động sâu rộng đến sự phát triển của hệ thống
ngân hàng. Sự tăng trưởng kinh tế nhanh, đặc biệt là ứng dụng khoa học công nghệ hiện
đại đã thúc đẩy hệ thống ngân hàng phát triển nhanh cả về qui mô và chất lượng dịch vụ.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh đó, hệ thống ngân hàng đang tiềm ẩn nhiều yếu
kém và rủi ro: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản cao; tính ổn định, hiệu quả hoạt động
và khả năng cạnh tranh chưa cao; năng lực quản trị còn nhiều bất cập. Ngoài ra, nhóm
lợi ích và sở hữu chéo giữa các ngân hàng lớn làm cho tính lệ thuộc lẫn nhau và rủi ro hệ
thống cao. Do vậy, nếu những rủi ro và yếu kém này không được xử lý kịp thời sẽ tác
động xấu đến ổn định kinh vĩ mô và hệ thống tài chính quốc gia. Vì vậy, việc tái cấu trúc
hệ thống ngân hàng và các tổ chức tài chính là cấp thiết để tránh sự đổ vỡ của hệ thống
ngân hàng và sự đổ vỡ của nền kinh tế.
Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng và các tổ chức tài chính là một trong những nội
dung của tái cấu trúc của nền kinh tế. Theo Claessens (1998), tái cấu trúc ngân hàng là
hướng tới việc sắp xếp, nâng cao khả năng quản trị điều hành của ngân hàng thương mại
(NHTM) để đảm bảo an toàn hệ thống và hình thành hệ thống các NHTM có sức mạnh
tài chính thực sự, khả năng quản lý, kiểm soát rủi ro, quản trị tốt. Tái cấu trúc ngân hàng
cũng thường được tiến hành khi có bằng chứng về một hoặc nhiều ngân hàng mất khả
năng thanh toán đến hơn 20% tổng tiền gửi toàn hệ thống ngân hàng và cần phải có một
gói giải pháp liên quan đến thể chế và luật pháp để xử lý các ngân hàng yếu kém và đưa
hệ thống ngân hàng trở về trạng thái lành mạnh bền vững (Waxman, 1998). Theo Ðinh
Tuấn Minh (2012), khác với việc xử lý một ngân hàng yếu kém trong thời kỳ bình
NHTM nhà nước, các NHTMCP và các NHTM nước ngoài. Ngoài ra, còn có các ngân
hàng liên doanh và các văn phòng đại diện của các TCTD nước ngoài. Cụ thể, tính đến
cuối năm 2011, có 5 NHTM nhà nước (trong đó có 3 ngân hàng là: Ngân hàng Ngoại
thương Việt Nam - VCB, Ngân hàng Công thương Việt Nam - Vietinbank, và Ngân hàng
Đầu tư và Phát triển Việt Nam - BIDV đã được cổ phần hóa, tuy nhiên, Nhà nước vẫn
giữ cổ phần chi phối trên 70%), 1 ngân hàng chính sách, 37 NHTMCP, 5 ngân hàng liên
doanh, 5 ngân hàng có 100% vốn nước ngoài, và 54 chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Ngoài ra còn có các TCTD phi ngân hàng, bao gồm 18 công ty tài chính, 13 công ty cho
thuê tài chính và hệ thống Quỹ Tín dụng nhân dân ( gồm 1 Quỹ Tín dụng nhân dân
Trung ương với hơn 1.073 quỹ thành viên).
Hoạt động ngân hàng luôn gắn liền với những rủi ro tiềm ẩn.
Có thể kể đến một số rủi ro chính dưới đây:
*
Rủi ro tín dụng: Trong danh mục tài sản của các ngân hàng, chiếm tỷ trọng lớn vẫn là
hoạt động tín dụng, tuy nhiên chất lượng tín dụng lại chưa cao, tỷ lệ nợ xấu lớn, tiềm ẩn
rủi ro tín dụng. Đặc biệt trong vài năm trở lại đây, khi kinh tế thế giới và trong nước có
những biến động, từ phát triển nóng sang trì trệ, bên cạnh đó, sự tụt dốc của thị trường
chứng khoán, diễn biến phức tạp của thị trường bất động sản, giá vàng lên xuống thất
thường, sự đổ vỡ của nhiều chủ nợ tín dụng “đen” làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất
lượng tín dụng.
* Rủi ro thanh khoản: Rủi ro thanh khoản luôn thường trực, khi huy động vốn của ngân
hàng thương mại chủ yếu là kỳ hạn ngắn với tỷ trọng thường tới 70% - 80% trong tổng
nguồn vốn huy động, thậm chí đối với một số ngân hàng, tỷ trọng này lên tới 90%, trong
khi đó cho vay trung, dài hạn thường chỉ chiếm tỷ trọng khoảng 30% - 40% tổng dư nợ.
Có thể nói, thanh khoản là vấn đề nan giải nhất hiện nay đối với các NHTM và sẽ không
đơn thuần là vấn đề ngắn hạn, vì cốt lõi của vấn đề thanh khoản là vấn đề nợ xấu.
* Rủi ro lãi suất: Do những năm gần đây lạm phát thường ở mức cao, biến động với biên
độ lớn và thường xuyên, nên lãi suất mua bán vốn trên thị trường tiền tệ, thị trường tài
chính Việt Nam luôn ở mức cao và thiếu tính ổn định. Cộng với đó là độ vênh lớn về kỳ
hạn giữa tài sản có và tài sản nợ, nên rủi ro lãi suất đối với hệ thống ngân hàng cũng
toàn, đo lường chính xác mức độ lành mạnh và hiệu quả của các ngân hàng? Theo chúng
tôi, các chỉ tiêu hiện hành của Việt Nam còn thiếu khá nhiều và nhiều chỉ tiêu chưa đáp
ứng được yêu cầu tối thiểu theo thông lệ quốc tế. Nếu các chỉ tiêu đánh giá này không
đạt chuẩn thì ngay cả khi hoàn tất việc tái cấu trúc, chưa chắc chúng ta có được hệ thống
ngân hàng như mong muốn. Vì vậy, trên tinh thần này, việc tái cấu trúc cần được thực
hiện theo tuần tự bốn nội dung:
Bước 1: Xây dựng hệ thống các chỉ tiêu để giám sát an toàn, đánh giá mức độ lành
mạnh, hiệu quả của ngân hàng phù hợp với trình độ phát triển của Việt Nam nhưng phải
đảm bảo tương thích và bám sát với quy định của Hiệp ước Basel, đồng thời xác định lộ
trình đáp ứng tiêu chuẩn Basel III.
Bước 2: Sử dụng hệ thống chỉ tiêu đã có ở bước 1 để phân nhóm chính xác các ngân
hàng.
Bước 3: Đề ra lộ trình áp dụng riêng cho từng nhóm ngân hàng để các ngân hàng trong
mỗi nhóm có thời gian hợp lý tự thực hiện tái tổ chức hoạt động của mình.
Bước 4: Xây dựng kịch bản để cơ quan quản lý có thể buộc các ngân hàng chưa đạt
chuẩn, không thể tự tái tổ chức phải thực hiện tái cấu trúc theo yêu cầu, nội dung của cơ
quan quản lý thông qua các rào cản kỹ thuật và các biện pháp khác kể cả biện pháp hành
chính nếu càn thiết.
III. Diễn biến tái cấu trúc năm 2012:
Thực hiện chỉ đạo của NHNN, đến cuối năm 2012, khoản dự phòng rủi ro để
khoanh hoặc xóa nợ các ngân hàng thương mại dự kiến là 50.000 tỷ đồng.
Số liệu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) cho biết, 9 tháng đầu năm,
tổng tài sản của hệ thống các tổ chức tín dụng đạt hơn 4.866 nghìn tỷ đồng, giảm 1,89%
so với cuối năm 2011. Nhóm ngân hàng cổ phần có tổng tài sản tại thời điểm cuối tháng
9 đạt gần 2.102,5 nghìn tỷ đồng, giảm 7,06% so với cuối năm 2011. So với mức 2.224,6
nghìn tỷ đồng cuối tháng 8, con số này cũng giảm xấp xỉ 5,5%. Trong tháng 9, tổng tài
sản của khối ngân hàng nhà nước cũng giảm từ 2.075 nghìn tỷ đồng hồi cuối tháng 8
xuống còn 2.069 nghìn tỷ đồng… "Nhiều khả năng khối tài sản của các ngân hàng bị
"bốc hơi" là do nợ xấu", TS. Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia ngân hàng nhận định.
Ðánh giá tình hình thực hiện tái cấu trúc hệ thống ngân hàng năm 2012
sau đây:
+ Ngân hàng ACB đã ký kết biên bản ghi nhớ với ngân hàng Standard Chartered (SCB
nhằm gia tăng tiện ích cho khách hàng VIP và chủ thẻ Visa Platium của ACB. Theo đó,
khách hàng cá nhân của ACB sẽ được hưởng thêm rất nhiều quyền lợi và dịch vụ của
SCB với 9 trung tâm dịch vụ khách hàng ưu tiên tại Malaysia và 3 trung tâm dịch vụ
khách hàng ưu tiên tại Singapore.
+ Ngân hàng BIDV đã ký thỏa thuận hợp tác với hai ngân hàng GPBank và BacABank
trong các lĩnh vực nguồn vốn và kinh doanh tiền tệ, tín dụng, tài trợ thương mại, thanh
toán trong nước và quốc tế, hợp đồng tài trợ, hoạt động ngân hàng bán lẻ ). BIDV cũng
đã ký thỏa thuận hợp tác trên nhiều lĩnh vực với SCB.
+ Sacombank đã ký kết thỏa thuận hợp tác kinh doanh toàn diện với Habubank và MB.
+ Agribank ký thỏa thuận hợp tác chiến lược trong hỗ trợ kinh doanh với ABBank và
SCB.
Ðến cuối tháng 12/2012, các ngân hàng nhỏ nằm trong diện tái cơ cấu bắt buộc trong
năm nay đang nỗ lực lên phương án tự tái cấu trúc để tránh rơi vào trường hợp phải sáp
nhập. Trong số 9 ngân hàng thuộc diện tái cấu trúc năm 2012 thì 5 ngân hàng gồm SCB,
Ðệ Nhất, Tín Nghĩa, Habubank và Tienphongbank cơ bản đã ổn định. Bốn ngân hàng
nhỏ còn lại nằm trong diện này là GP Bank, Navibank, TrustBank và Western Bank đang
nỗ lực tìm phương án tái cấu trúc.
- Về giải quyết nợ xấu: Qua một năm thực hiện các chính sách về tái cấu trúc của NHNN
và việc giải quyết nợ xấu của ngân hàng cho đến tháng 11/2012, NHNN đã giải quyết
252.000 tỷ đồng nợ được cơ cấu lại, tương ứng 8% dư nợ tín dụng. Cùng với những nỗ
lực của NHNN thì các ngân hàng cũng đã hy sinh ngắn hạn trong việc giảm lợi nhuận để
tăng dự phòng rủi ro và xử lý nợ xấu, đến nay các ngân hàng đã xử lý được 39.000 tỷ nợ
xấu. Chẳng hạn, Vietcombank đã phải trích lập 1.088 tỷ đồng khiến lợi nhuận quí
II/2012 chỉ còn 1.124 tỷ đồng, giảm 10% so với quí II/2011. Tương tự, Vietinbank đã
trích lập dự phòng 1.453 tỷ đồng nên lãi sau thuế quí II/2012 chỉ còn 5.645 tỷ đồng,
giảm 70% so với cùng kỳ năm trước. Eximbank và ACB cũng phải trích lập dự phòng
lớn khiến cho lợi nhuận bị suy giảm đáng kể. Việc thực hiện giải quyết nợ xấu của ngân
hàng là đúng đắn và điều này được thể hiện rõ khi chưa có quyết định, chỉ thị để cơ cấu
các ngân hàng này do không có tài sản thế chấp để vay vốn trên thị trường liên ngân
hàng nên đã đẩy mạnh huy động vốn ở thị trường một để đảm bảo thanh khoản tốt hơn.
- Về xử lý nợ xấu: Vấn đề nợ xấu tuy tốc độ tăng có giảm nhưng quy mô nợ xấu rất lớn
và suốt cả năm 2012 chưa có biện pháp xử lý cơ bản nợ xấu. Tháng 11/2011, NHNN báo
cáo tỉ lệ nợ xấu trong hệ thống NHTM vẫn ở ngưỡng an toàn với 3,1%. Nhưng đến cuối
tháng 06/2012 tỉ lệ nợ xấu được NHNN báo cáo đã tăng lên đến 8,6%. Như vậy, chỉ
trong thời gian 6 tháng, tỉ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng đã tăng 2,7 lần. Theo báo
cáo tài chính của các NHTM, tỷ lệ nợ xấu trong 9 tháng đầu năm 2012 có xu hướng
tăng: của Vietcombank từ 2% lên 3,21%; của ACB từ 0,9% lên 2,1%; của Sacombank từ
0,57% lên 1,4%; của BaoVietBank từ 4,56% lên 6,13%; của NaviBank từ 2,92% lên
3,97% Trong tổng thể tình hình nợ xấu của các NHTM, điều đáng lưu ý là nhóm nợ có
khả năng mất vốn ở một số ngân hàng đang ở mức cao. Chẳng hạn, tỷ lệ nợ có khả năng
mất vốn trên dư nợ cho vay khách hàng của BaoVietBank lên tới 2,93%, của LienViet-
PostBank là 1,46%, của Vietcombank là 1,42%, của BIDV là 1,22%
Bảng 1: Nợ quá hạn và nợ xấu toàn hệ thống (%)
2010 2011 30/6/2012
Tỷ lệ nợ
xấu/tổng
dư nợ
Tỷ lệ nợ
quá
hạn/tổng
dư nợ
Tỷ lệ nợ
xấu/tổng
dư nợ
Tỷ lệ nợ
quá
hạn/tổng
dư nợ
xấu.
- Về vấn đề tăng vốn: Sáp nhập, hợp nhất là phương án mà NHNN nói đến nhiều nhất
trong việc tái cơ cấu các ngân hàng. Nhưng suốt năm 2012, hoạt động này tiến hành
chậm và mới chỉ có 1 trường hợp sáp nhất (SHB và HBB), còn những ngân hàng còn lại
chưa được xử lý. Thực tế đây là vấn đề khó đối với NHNN vì NHNN luôn muốn sự hợp
nhất hay sáp nhập ngân hàng nhằm giảm bớt số lượng những ngân hàng đang còn yếu
kém nhưng các ngân hàng đã đưa ra lý do riêng như tái cấu trúc cũng không nhất thiết
phải giảm số lượng ngân hàng, mà chất lượng, sự an toàn của ngân hàng mới là vấn đề
cốt lõi. Hơn nữa, luật về mua, bán, sáp nhập ngân hàng đến nay cũng chưa rõ ràng cũng
ảnh hưởng đến tiến độ sáp nhập và hợp nhất.
- Về quản trị: Hoạt động quản trị rủi ro trong toàn hệ thống ngân hàng còn kém xa các
chuẩn mực quốc tế. Theo đề án cơ cấu lại các TCTD thì đến cuối năm 2015, các TCTD
mới đạt mức vốn tự có đủ để bù đắp rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro tác nghiệp
theo quy định của Basel 2 trong khi nhiều nước trên thế giới đã và đang áp dụng các tiêu
chuẩn an toàn hệ thống của Basel 3. Ngân hàng ACB - một ngân hàng được đánh giá cao
về năng lực quản trị và chất lượng dịch vụ ở Việt Nam, nhưng qua sự kiện ngày
20/08/2012 tại ngân hàng này khiến các nhà quản lý và công chúng thực sự lo lắng về
nhân sự và quản trị của các NHTM. Quản trị công ty, dù đã trở nên ngày càng phổ biến
và ngày càng có nhiều văn bản điều chỉnh, nhưng trong lĩnh vực ngân hàng, các văn bản
vẫn còn nhiều bất cập và việc chế tài chưa đủ mạnh khiến cho các NHTM Việt Nam
chưa thực sự quan tâm dẫn đến có điểm quản trị công ty kém nhất so với các ngành khác
(Hạ Thị Thiều Dao, 2012).
Bên cạnh những hạn chế, tồn tại trên đây, những mục tiêu chiến lược mà NHNN
đưa ra cũng như lộ trình thực hiện tái cấu trúc hệ thống ngân hàng đang còn nhiều vấn
đề vướng mắc. Thực tế cho thấy, việc thực hiện Ðề án tái cấu trúc trên thực tế cũng như
việc cân nhắc phương án tái cơ cấu nào và lộ trình thực hiện vẫn còn đang bàn thảo. Do
vậy, quá trình tái cấu trúc ngân hàng năm 2012 vẫn mới chỉ ở trong giai đoạn khởi động.
Những kết quả đạt được ban đầu còn ít hiệu quả vì chưa có được các cải tổ toàn diện như
kỳ vọng.
IV. Tái cơ cấu không có nghĩa là chỉ hợp nhất các ngân hàng nhỏ
các công ty Quản lý Tài sản - AMC (tập
trung hóa hoặc ngân hàng cụ thể); Mô hình
Ngân hàng xấu-Ngân hàng tốt, tái cấu trúc
doanh nghiệp
Ngân hàng khó khăn trong việc huy động
vốn (tiền gửi) và hỗ trợ cho vay
Tạm thời cung cấp cửa sổ thanh khoản (chức
năng người cho vay cuối cùng của NHTW);
Tăng cường bảo vệ người gửi tiền để tái lập
niềm tin công chúng (ví dụ khủng hoảng năm
2009 đã thúc đẩy một số quốc gia tăng hạn
mức BHTG)
Cơ sở lý luận để đưa ra giải pháp
Sự “bùng nổ” hoạt động cả về quy mô và mức độ đa dạng của hệ thống ngân hàng
trong thời gian ngắn vừa qua đã tiềm ẩn những rủi ro và nguy cơ lớn tác động trực tiếp đến
sự an toàn và lành mạnh của hệ thống ngân hàng thương mại. Đó là nguyên nhân quan trọng
nhất buộc Việt Nam phải cơ cấu lại hệ thống ngân hàng nói riêng, cơ cấu lại hệ thống tài
chính nói chung nhằm ngăn chặn rủi ro hệ thống trước khi sự đổ vỡ của một tổ chức tài
chính có thể kéo theo sự đổ vỡ của cả hệ thống như bài học từ các cuộc khủng hoảng kinh tế
tài chính quốc tế đã chỉ ra.
Hoạt động ngân hàng tự nó đã chứa đựng rất nhiều rủi ro và khi những rủi ro đó tích
tụ, trở nên quá lớn do tác động của các yếu tố bên ngoài như bất ổn kinh tế vĩ mô, khủng
hoảng kinh tế thế giới, thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản lao dốc hay do
các yếu tố bên trong như quản trị rủi ro bất cập, quy trình tín dụng không hoàn chỉnh, đầu tư
mạo hiểm, trình độ năng lực và đạo đức của đội ngũ không đáp ứng yêu cầu… thì ngân
hàng sẽ không thể tránh khỏi đổ vỡ nếu không được cơ cấu lại, cả cơ cấu lại từng ngân hàng
cũng như cơ cấu lại cả hệ thống ngân hàng. Cho đến nay, hệ thống ngân hàng Việt Nam
đang đối mặt với những rủi ro ngày một gia tăng, nổi bật là:
- Rủi ro tín dụng: Một mặt để đáp ứng nhu cầu rất lớn về đầu tư sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp và người dân trong khi nguồn vốn kinh doanh lại dựa chủ yếu vào hệ
thống. Rủi ro thanh khoản còn đi đôi với rủi ro kỳ hạn khi tuyệt đại đa số vốn huy động có
kỳ hạn ngắn, thậm chí rất ngắn, song các NHTM lại cấp tín dụng ở tất cả các kỳ hạn với một
tỷ lệ không nhỏ dành cho vay trung và dài hạn.
- Rủi ro lãi suất và tỷ giá hối đoái: Những bất ổn kinh tế vĩ mô, đặc biệt là lạm phát cao và
những chính sách thắt chặt nhằm kiềm chế lạm phát đã đặt hệ thống NHTM trước những rủi
ro rất lớn về lãi suất. Những biến động lớn, đột ngột về lãi suất, cả lãi suất huy động và lãi
suất cho vay cùng với những biện pháp điều hành lãi suất còn mang nặng tính hành chính đã
khiến cho các ngân hàng thương mại thường xuyên trong trạng thái đối phó, khi thì chạy
đua tăng lãi suất huy động, khi lại giữ lãi suất cho vay ở mức rất cao để phòng ngừa biến
động lãi suất, hiện tượng “vượt trần, phá rào, hai lãi suất” diễn ra tương đối phổ biến làm
giảm hiệu lực của các chính sách tiền tệ, đồng thời làm suy giảm đạo đức kinh doanh của
không ít cán bộ quản lý cũng như cán bộ tác nghiệp trong hệ thống ngân hàng… do đó hoạt
động của không ít NHTM rất bấp bênh, chênh vênh giữa trạng thái lãi - lỗ, kỷ luật kinh
doanh không được tuân thủ triệt để, tạo ra những kẽ hở cho kẻ xấu lợi dụng. Bên cạnh đó,
do tình trạng đô-la hóa chậm được khắc phục với tổng tiền gửi ngoại tệ vẫn chiếm trên 20%
tổng tiền gửi, thậm chí còn phát sinh thêm tình trạng vàng hóa với cả trăm tấn vàng được
các NHTM huy động song không được sử dụng có hiệu quả nên các NHTM Việt Nam còn
phải đương đầu với rủi ro tỷ giá hối đoái và cả rủi ro giá vàng. Chỉ trong 10 tháng đầu năm
2011 mà tỷ giá hối đoái VND/USD đã tăng trên 10% và có thể còn biến động phức tạp
trong 2 tháng còn lại của năm 2011 trong khi do chênh lệch lãi suất giữa cho vay VND và
USD tới trên 10%/năm nên tín dụng ngoại tệ đã tăng rất nhanh trong thời gian qua. Cũng
trong thời gian đó, giá vàng cũng đã tăng tới 25%, có thời điểm lên tới hơn 49 triệu
VND/lượng. Những biến động đó đã tác động rất mạnh tới mức độ an toàn của cả tài sản Có
và tài sản Nợ của các NHTM.
Vì những rủi ro trên mà chúng ta cần có những giải pháp phù hợp để hoàn thiện hệ
thống ngân hàng. Rõ ràng, việc tái cấu trúc toàn diện hệ thống ngân hàng Việt Nam là điều
hết sức cần thiết nhưng hành động phải được thực hiện hết sức thận trọng với hệ thống tiêu
chí đánh giá, phân nhóm khoa học là công việc đầu tiên cần thực hiện trước khi bắt tay vào
các kỹ thuật tái cấu trúc.
Kinh nghiệm giải quyết các cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới cho thấy việc
nhưng nếu vẫn dưới 10,5% (sau khi cộng thêm tỷ lệ đệm chuyển đổi 2,5%) thì các ngân
hàng này vẫn còn phải đặt dưới sự kiểm soát với các hạn chế. Mặt khác, Basel III còn quy
định tỷ lệ giới hạn đối với vốn cấp 1 và vốn cổ phần phổ thông -điều mà quy định của Việt
Nam hiện chưa đề cập đến. Hơn nữa, điều quan trọng là các chuẩn mực đo lường vốn và
phân loại tài sản của Basel III khắt khe hơn nhiều so với quy định hiện hành của Việt Nam.
Vì vậy, thay vì quy định tỷ lệ tối thiểu cao hơn quy định Basel trong lúc chuẩn mực đo
lườngvốn và phân loại tài sản thấp hơn quy định của Basel, Việt Nam nên cải cách theo
hướng chấp nhận các tỷ lệ tối thiểu thấp hơn quy định của Basel nhưng phải sử dụng các
chuẩn mực theo quy định của Basel để đo lường vốn và phân loại tài sản. Đồng thời, phải
đặt ra lộ trình cụ thể tăng dần mức tối thiểu nhằm hướng đến việc đạt chuẩn tỷ lệ tối thiểu
của Basel III trong 10-15 năm tới. Ngoài ra, cũng cần phải chú ý đến các tỷ lệ an toàn khác
theo quy định của Basel III như tỷ lệ đòn bẩy, tỷ lệ đảm bảo thanh khoản và tỷ lệ quỹ ổn
định ròng.
Tái cấu trúc bằng cách sáp nhập cơ học các ngân hàng với nhau chỉ giúp tăng vốn
điều lệ và quy mô tài sản mà không thể cải thiện sự an toàn vì CAR và các chỉ tiêu an toàn
khác không thể tăng lên nếu không có sự cải tổ toàn diện ngân hàng sau khi sáp nhập. Kỳ
vọng việc sáp nhập một ngân hàng mạnh với một ngân hàng yếu có thể biến thành một ngân
hàng mạnh. Mà ngược lại, trong một số trường hợp có thể biến ngân hàng mạnh trở nên yếu
hơn. Cũng không nên cho rằng các ngân hàng nhỏ là những ngân hàng yếu. Do đó, quá trình
mua bán hoặc sáp nhập cần phải được tính toán kỹ lưỡng.
1.1 Mua lại ngân hàng hay quốc hữu hóa một phần để tăng vốn
Biện pháp quốc hữu hóa ngân hàng như một số nước đã làm để giải quyết nhanh vấn
đề nợ xấu xử lý nợ xấu là một trong những nội dung quan trọng trong đề án cơ cấu lại hệ
thống các tổ chức tín dụng. Thời gian qua, đã có nhiều ý kiến về xử lý nợ xấu và nhiều giải
pháp đã được đưa ra như thành lập công ty mua bán nợ xấu, bán cổ phần cho đối tác… Hiện
NHNN đang cùng lúc sử dụng nhiều giải pháp để thực hiện tái cấu trúc hệ thống ngân hàng
và việc mua lại hay quốc hữu hóa một phần để tăng vốn là một trong những giải pháp được
cân nhắc đến. Sở dĩ dùng từ cân nhắc ở đây vì hệ thống NH ở VN không như các nước khác
đã sử dụng biện pháp này hiệu quả, về mặt lý thuyết đây là một đề xuất có ích nhưng trên
thực tế còn rất nhiều vấn đề còn thiếu logic.
tận dụng được lực lượng thị trường để giải quyết
Tuy nhiên, quốc hữu hóa ngân hàng có thể giải quyết nhanh vấn đề nợ xấu nhưng
chưa hẳn đã xử lý được nợ xấu. Điều này hoàn toàn hợp lý bởi: Nếu NHTM có chủ sở hữu
về tay nhà nước, thì như vậy có “hô biến” được nợ xấu hay không, Hay cục nợ xấu vẫn còn
nằm nguyên ở đó.Bên cạnh đó với nợ xấu đang không ngừng tăng như hiện nay, thì để quốc
hữu hóa các ngân hàng, nguồn lực cả tài chính để tái cấp vốn và bảo đảm toàn bộ, bao gồm
mà còn là cơ chế và thẩm quyển của những cá nhân và đơn vị trực tiếp tham gia vào quá
trình quốc hữu hóa ngân hàng, phải rất khổng lồ. Thậm chí khổng lồ đến đâu chúng ta cũng
chưa ước tính được hết khi mỗi cấp cơ quan quản lý lại có một con số nợ xấu riêng. Ngoài
ra, thực tiễn của quá trình tái cơ cấu hệ thống tín dụng đang bị chậm lại mà nguyên do theo
tôi là lợi ích của nhóm tìm đặc lợi đang “ngáng chân”, cũng cho thấy nếu muốn quốc hữu
hóa ngân hàng là không dễ.
Suy cho cùng thì Quốc hữu hóa các ngân hàng mất sạch vốn do nợ khủng là một ý kiến hay,
cũng là một trường hợp đã có nhiều kinh nghiệm hay được thực thi từ các quốc gia khác.
Nhưng khi ứng dụng vào VN, có một số vấn đề cần đặt ra. Trong đó, quan trọng nhất là tình
trạng sở hữu chéo của hệ thống ngân hàng VN. Quốc hữu hóa ngân hàng này chắc chắn sẽ
đụng chạm đến lợi ích, quyền lợi, nền móng và thượng tầng của những ngân hàng khác,
những ngân hàng đang có cùng các ông chủ, các nhóm lợi ích là cổ đông sáng lập, cổ đông
lớn. Như vậy liệu có quốc hữu hóa được không? Hơn nữa, câu hỏi đặt ra tiền đâu để xử lý
nợ xấu? Mà có, lại xử lý như thế nào để không phải lấy tiền của dân cứu các ngân hàng.
1.2: Chuyển các khoản vay của Ngân hàng Nhà nước sang cổ phần
Theo số liệu báo cáo, tổng các khoản NHNN cho các ngân hàng thương mại vay vào
thời điểm 31/12/2010 là 210 ngàn tỷ đồng (US$10 tỷ), nếu không tính các khoản vay cho
các ngân hàng quốc doanh và bán quốc doanh thì tổng dư nợ cho vay là 87 ngàn tỷ đồng
(US$4.3 tỷ). Theo kinh nghiệm của Thái Lan năm 1998, Chính phủ Thái bắt tất cả các ngân
hàng phải hạch toán đầy đủ dự phòng cho các khoản nợ xấu vào chi phí (xóa nợ hay
writeoff) và qua đó giảm vốn chủ sở hữu. Khi đó các ngân hàng có vốn chủ sở hữu rất thấp
so với trước khi xóa các khoản nợ xấu.
Cũng như phương án 1.1 nhưng điểm hay của phương án này là sau khi writeoff thì
vốn chủ sở hữu của các ngân hàng sẽ rất thấp và khi đó rất có lợi cho Chính phủ. Ví dụ nếu
là ngân hàng thương mại nhỏ, hiện đang gặp phải. Thực tế thời gian qua cho thấy nguyên
nhân chủ yếu của nó không phải là sự chênh lệch tạm thời giữa kỳ hạn cho vay và kỳ hạn
huy động trong hoạt động kinh doanh, mà thực chất là do nợ xấu không thu hồi được của
các ngân hàng này. Các khoản nợ xấu này chủ yếu nằm ở lĩnh vực bất động sản và các lĩnh
vực sản xuất có liên quan do sức cầu ở các thị trường này suy giảm mạnh trong hơn một
năm qua. Theo tính toán của ngân hàng Nhà nước (NHNN) thì chỉ riêng tổng dư nợ bất
động sản là xấp xỉ 200.000 tỉ đồng vào cuối năm 2011. Các khoản nợ này, nếu không thanh
toán được, sẽ ngày càng phình to với tốc độ tăng bằng với mức lãi suất trên dưới 20%/năm.
Với các khoản cho vay thuộc lĩnh vực bất động sản, sản xuất vật liệu xây dựng và cả
chứng khoán thì các ngân hàng thương mại hầu như chưa thu hồi được do các thị trường
này sụt giảm mạnh cả về giá lẫn giao dịch. Mỗi khi các khoản huy động đáo hạn, các ngân
hàng thương mại lại lâm vào tình trạng “đói” thanh khoản và sẵn sàng lao vào cuộc chạy
đua lãi suất gây xáo trộn trên thị trường tiền tệ. Do vậy, vấn đề thanh khoản sẽ không thể
được giải quyết triệt để bằng cách tạm thời bơm tiền qua thị trường mở hay qua cửa sổ tái
cấp vốn/tái chiết khấu của NHNN. Hơn nữa, trong điều kiện lạm phát những tháng đầu năm
còn cao, dư âm lạm phát của những năm trước chưa mờ nhạt, nếu bơm tiền lâu dài cứu
thanh khoản có thể khiến nền kinh tế quay trở lại vòng xoáy lạm phát một lần nữa.
Giải pháp triệt để đối với vấn đề thanh khoản hiện nay phải là những biện pháp xử lý
nợ xấu đi kèm với quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại và thay đổi một số
công cụ chính sách.
Giải pháp đơn giản thứ nhất là gỡ bỏ trần lãi suất huy động. Việc làm này sẽ giúp các
ngân hàng thương mại có thể huy động được các khoản tiền gửi mới từ công chúng, chứ
không chỉ là các khoản tiền gửi chạy từ ngân hàng này sang ngân hàng khác. Thực tế thời
gian qua đã cho thấy không thể ép các ngân hàng thương mại tuân thủ trần lãi suất trong
điều kiện họ thiếu thanh khoản. Với xu hướng giảm dần của lạm phát (so với cùng kỳ) và
các ngân hàng thương mại đang tự nguyện cắt giảm lãi suất huy động như hiện nay, việc gỡ
bỏ quy định trần này sẽ không gây xáo trộn gì nhiều trên thị trường tiền tệ.
Thứ hai, cùng với việc gỡ bỏ trần lãi suất thì việc phát triển và thực hiện các hợp
đồng tín dụng với lãi suất điều chỉnh theo lạm phát nhằm đảm bảo lãi suất thực dương sẽ
giúp làm tăng các hợp đồng tín dụng dài hạn, và từ đó giảm bớt căng thẳng thanh khoản.
một việc họ phải và sẽ vẫn phải làm hàng ngày”.
Ngoài ra, Chính phủ có thể xem sét tăng mức bảo hiểm tiền gửi lên để gia tăng lòng
tin của công chúng. Ở Việt nam hiện tại mức bảo hiểm tiền gửi tối đa là 50 triệu đồng (US$
2.500) và đã có một số ý kiến nâng mức bảo hiểm này. Ví dụ ở Anh đã gia tăng mức bảo
hiểm tiền gửi tối đa từ GBP 35.000 (US$55.000) lên GBP 85.000 (US$ 135.000) sau khủng
hoảng tài chính năm 2008. Tại Philiphines, mức bảo bảo hiểm tiền gửi là 500.000 peso
(US$12.000).
Việc chọn ra nhóm 12 ngân hàng thương mại mạnh, ông S. Goyal cho rằng, điều này
không tránh khỏi cảm giác của một số người cho rằng đó là những ngân hàng được ưa thích
hơn. Từ đó sẽ mang lại cảm giác không tin tưởng đối với các ngân hàng còn lại việc này có
vẻ như không công bằng cho lắm đối với các NH. Nhà nước dù có các biện pháp xếp hạng
đi nữa cũng không nên công bố các danh sách này rộng rãi, nó sẽ làm đánh giá sai từ phía
khách hàng về việc cho là ngân hàng này thì không tốt bằng ngân hàng kia.
4 Nhóm giải pháp chính sách
Cải thiện về môi trường kinh doanh, quản trị doanh nghiệp và quản lý rủi ro, v.v.
Đây là nhóm các giải pháp mang tính lâu dài và đòi hỏi sự đồng bộ. Ví dụ tái cấu trúc hệ
thống ngân hàng muốn thành công thì phải tái cấu trúc cả hệ thống doanh nghiệp, đặc biệt là
khối các doanh nghiệp nhà nước, các vấn đề về mất cân đối về kỳ hạn cho vay và huy động,
v.v. Đây là các rất học búa trong mọi chương trình cải tổ bởi nó không đơn thuần là các vấn
đề về mặt kỹ thuật tài chính.
Do tình hình kinh tế vĩ mô vẫn còn nhiều khó khăn nên việc xử lý nợ xấu sẽ mất thời
gian hơn và tốn nhiều chi phí hơn. Các nhà đầu tư cũng không thật sự tích cực bỏ vốn xử lý
"cục máu đông" trong cơ thể, dù biết là cần thiết. Bên cạnh đó, tình trạng sở hữu chồng chéo
giữa các ngân hàng dẫn tới khó nhận định chính xác con số nợ xấu cũng làm tiến trình xử lý
giẫm chân tại chỗ. Đồng thời, có lẽ thị trường vẫn còn tâm lý mong chờ một giải pháp hoàn
hảo, không gây thiệt hại cho hệ thống như xử lý nợ xấu không cần dùng đến tiền của nhà
nước, không để ngân hàng nào đổ bể… Thực tế, sẽ rất khó có một phương án đảm bảo được
lợi ích của tất cả thành phần kinh tế và không phải trả bất kỳ phí tổn nào. "Đặc biệt, xử lý
nợ xấu - ai làm? Người nào gánh lấy trách nhiệm và chịu hoàn toàn trách nhiệm và rủi ro về
mặt chính trị đó? Có lẽ đó là vấn đề mà các nhà hoạch định chính sách phải cân nhắc", TS