Nghiên cứu hiện trạng và quy hoạch cải tạo nâng cấp hệ thống đường giao thông của xã Quảng Châu, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình đến năm 2020 - Pdf 26

Phần 1.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Giao thông nông thôn là một trong những mắt xích thiết yếu nối các vùng
nông thôn với hệ thống tỉnh lộ, quốc lộ, khu đô thị, khu công nghiệp, khu chế
xuất… thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa,
tạo điều kiện phát triển sản xuất, trao đổi hàng hóa, nâng cao đời sống cho
người dân khu vực nông thôn.
Xuất phát từ những nhu cầu đó, con người đã nhận ra tầm quan trọng của
việc phát triển hệ thống giao thông. Không chỉ ảnh hưởng đến nền kinh tế mà
giao thông còn có vai trò quan trọng về ổn định chính trị, tăng cường sức mạnh
quân sự, an ninh quốc phòng, mở rộng giao lưu văn hóa du lịch và hợp tác
quốc tế.
Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, cơ sở hạ
tầng giao thông nông thôn cơ bản đã thay đổi và đạt được những thành tựu rõ
rệt. Hệ thống đường trên cả nước đã từng bước được cải tạo, nâng cấp, góp
phần vào sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước. Đến nay đã có
mạng lưới giao thông với đủ các loại phù hợp với các phương thức vận tải,
phân bố tương đối hợp lí trên khắp mọi miền đất nước, tạo ra sự liên hoàn từ
quốc lộ, tỉnh lộ, đường huyện đến đường xã, thôn, bản góp phần thực hiện các
chương trình quốc gia và phát triển nông thôn. Việc vận chuyển hàng hóa phục
vụ sản xuất, giao lưu đi lại của nhân dân được dễ dàng hơn. Tuy nhiên những
thành tựu đạt được còn chưa tương xứng với tiềm năng lợi thế, chưa đồng đều
giữa các vùng và chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển. Việc vận chuyển ở
nhiều vùng nông thôn còn khó khăn, nhiều tuyến đường bị hư hỏng hoặc
không thể đi lại được trong mùa mưa mà điển hình là ở xã Quảng Châu, huyện
Quảng Trạch, một xã vùng núi nằm ở phía Bắc tỉnh Quảng Bình.
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn nêu trên, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên
cứu hiện trạng và quy hoạch cải tạo nâng cấp hệ thống đường giao thông
của xã Quảng Châu, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình đến năm
2020”.
1

người, khơi dậy mọi tiềm năng của nông dân vào công cuộc xây dựng nông
thôn mới.
2
Thực tiễn ghi nhận sự đột phá đầu tiên về chính sách của Đảng trong thời
kỳ đổi mới cũng được khởi đầu từ lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Tiếp sau đó, nhiều nghị quyết của Đảng và các nghị quyết, quyết định, kế
hoạch và chương trình hành động của Chính phủ đã trực tiếp triển khai thực
hiện vấn đề này, cụ thể như: Ngày 5-8-2008, Ban Chấp hành Trung ương Đảng
đã ban hành Nghị quyết số 26/NQ-TW "Về nông nghiệp, nông dân, nông
thôn"; Nghị định số 61/2010/NĐ-CP của Chính phủ bổ sung một số chính sách
khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; Chương trình
mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020.
Bằng Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16-4-2009, Thủ tướng Chính phủ
đã ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới. Đây là những mục tiêu và
tiêu chí đòi hỏi cần có sự phấn đấu cao độ trong giai đoạn tới. Bộ tiêu chí quốc
gia này bao gồm 19 tiêu chí và được chia thành năm nhóm cụ thể: Nhóm tiêu
chí về quy hoạch, về hạ tầng kinh tế - xã hội, về kinh tế và tổ chức sản xuất, về
văn hóa - xã hội - môi trường và về hệ thống chính trị. Theo đó, Bộ tiêu chí
đưa ra chỉ tiêu chung cả nước và các chỉ tiêu cụ thể theo từng vùng: Trung du
miền núi phía bắc, đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, duyên hải Nam Trung
Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long phù hợp với đặc
điểm, điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của mỗi vùng. Trong 19 tiêu chí đó, tiêu
chí về thực hiện quy hoạch và phát triển giao thông nông thôn được đặt lên
hàng đầu.
Theo số liệu thống kê, đến ngày 1-7-2011 cả nước có 8.940 xã, chiếm
98,6% tổng số xã cả nước đã có đường ô-tô đến trung tâm xã (tăng 2,3% so với
năm 2006), trong đó đi lại được bốn mùa là 8.803 xã, chiếm 97,1% (tăng 3,5%
so với năm 2006); xã có đường ô-tô đến trung tâm đã được nhựa hóa, bê-tông
hóa là 7.917 xã, chiếm 87,3% (tăng 17,2% so với năm 2006). Điều đáng chú ý
là không chỉ đường đến trung tâm huyện, xã được chú trọng mà đường đến các

đường xã, đường thôn) chiếm tới 85%. Nếu xét trên diện rộng, mật độ giao
thông nông thôn trên cả nước còn thấp (0,59 km/km2); trong đó mật độ đường
huyện chỉ là 0,14 km/km2 với tỷ trọng 0,55km/1.000 dân; đường xã là 0,45
km/km2 và 1,72 km/1.000 dân. Tại khu vực nông thôn đồng bằng sông Hồng,
mật độ này có cao hơn (khoảng 1,16 km/km2) song còn xa mới đạt được tỷ lệ
hợp lý (trung bình ở các nước phát triển tỷ lệ chiều dài km đường nông thôn
trên diện tích khoảng 8,86 km/km2).
Có thể thấy hệ thống đường nông thôn chưa theo kịp với tốc độ phát triển
và tiềm lực của các vùng kinh tế sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp. Hệ thống
đường giao thông nông thôn chưa được phủ kín và chưa có sự kết nối liên hoàn
từ hệ thống đường tỉnh, đường huyện xuống nông thôn; nhất là đối với vùng
sâu, vùng xa, miền núi, biên giới, hải đảo. Còn 149 xã chưa có đường ô-tô tới
trung tâm xã, trong đó khu vực Tây Nguyên chiếm phần lớn, thấp hơn bảy lần
so với khu vực đồng bằng. Tiêu chuẩn kỹ thuật còn thấp, chủ yếu là đường chỉ
có một làn xe. An toàn giao thông nông thôn vẫn còn nhiều bất cập như thiếu
hệ thống biển báo, tình trạng hành lang an toàn giao thông đường bộ bị lấn
chiếm, phơi rơm rạ, bề rộng mặt đường hẹp, tầm nhìn người lái xe ngắn, nhiều
dốc cao và nguy hiểm, chất lượng công trình còn thấp, tải trọng thấp, chưa
4
đồng bộ trong thiết kế cầu cống và đường. Chất lượng mặt đường giao thông
nông thôn chưa cao. Hiện tỷ lệ mặt đường là đất và cấp phối còn cao, gây khó
khăn cho đi lại và vận chuyển hàng hóa vào mùa mưa.
2.1.3 Tình hình phát triển của giao thông nông thôn huyện Quảng Trạch,
tỉnh Quảng Bình.
Thời gian qua trên địa bàn huyện Quảng Trạch các loại phương tiện giao
thông tăng lên cả về số lượng và chủng loại, số lượng xe máy tăng nhanh dần
dần thay thế xe đạp, đã xuất hiện nhiều xe vận tải vừa và nhỏ thay thế cho các
phương tiện thô sơ trước đây như xe công nông và xe súc vật kéo. Trong khi
đó các tuyến đường giao thông của huyện Quảng Trạch lại nằm trong tình trạng
xuống cấp, chiều rộng lưu thông còn hạn chế, chất lượng mặt đường kém ảnh

đường giao thông của xã Quảng Châu, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình
đến năm 2020 đáp ứng yêu cầu giao lưu đi lại và vận chuyển hàng hóa cho
nhân dân trong vùng.
2.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu khảo sát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa phương
- Khảo sát hiện trạng mạng lưới giao thông của xã Quảng Châu, huyện
Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
- Xây dựng phương án quy hoạch cải tạo nâng cấp hệ thống đường giao
thông của xã Quảng Châu.
- Đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả đầu tư, quản lí và sử dụng.

6
PHẦN 3.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Phương pháp thu thập thông tin
3.1.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Tìm tòi những tài liệu có liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu. Đây là
phương pháp hoàn toàn gián tiếp không tiếp xúc với đối tượng khảo sát. Để
thực hiện đề tài này tôi đã tiến hành nghiên cứu các tài liệu liên quan, cụ thể là:
- Các tài liệu về quy hoạch nông thôn
- Tài liệu về thiết kế đường giao thông nông thôn
- Các tài liệu lấy từ mạng Internet.
3.1.2.Phương pháp quan sát khách quan
Sử dụng phương pháp nghiên cứu này để quan sát và ghi lại hoạt động của
đối tượng được nghiên cứu.
3.1.3.Phương pháp điều tra khảo sát
Đây là phương pháp không thể thiếu trong việc cải tạo, quy hoạch nâng
cấp đường giao thông. Bằng phương pháp này, sẽ nắm được hiện trạng các
tuyến đường, địa hình, địa mạo nơi các tuyến đường đi qua và qua đây có thể
vạch tuyến và xác định các yếu tố kỹ thuật cuả tuyến đường.

4.1.2. Điều kiện tự nhiên
• Đặc điểm địa hình: xã Quảng Châu có 2 loại địa hình chủ yếu, đó là đồi núi
cao ở phía Tây Nam và đồng bằng trung du ven sông Loan thấp dần về phía
Đông Bắc.
+ Phía Tây Nam không được bằng phẳng, chủ yếu là đồi núi chỉ thuận lợi cho
việc phát triển rừng trồng, các loại cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả và
chăn nuôi gia súc gia cầm theo hướng quy mô trang trại
+ Phía Đông Bắc, địa hình tương đối bằng phẳng tạo nên vùng trồng lúa và trồng
màu. Hệ thống ao hồ, kênh mương tại đây tương đối thuận lợi cho sản xuất
nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản.
• Về khí hậu, xã Quảng Châu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với địa
hình phía Tây có dãy núi Trường Sơn, phía Đông là biển Đông do đó chịu ảnh
hưởng rất lớn của gió Tây Nam và gió mùa Đông Bắc. Khí hậu được phân
thành hai mùa rõ rệt, mùa mưa kéo dài từ tháng 7 đến tháng 9, mùa nắng từ
tháng 3 đến tháng 6. Mùa đông ít lạnh hơn Bắc Bộ nhưng lại nhiều mưa. Mùa
hè gió Tây Nam (gió lào) gây ra hạn hán kéo dài hàng tháng.
8
Nhìn chung khí hậu, thời tiết khắc nghiệt, có nhiều biến động so với
vùng Bắc Trung bộ. Nhiệt độ cao nhất khoảng 36 – 39
o
C, nhiệt độ thấp nhất
khoảng 9 – 12
o
C. Lượng mưa trung bình hằng năm từ 1000 – 3.500 mm.
• Tài nguyên đất:
Tổng diện tích đất tự nhiên có: 4.172,98 ha,
* Diện tích đất nông nghiệp: 3.027,30 ha, trong đó:
+ Đất sản xuất nông nghiệp: 535,25 ha
+ Đất lâm nghiệp: 2.477,29ha
+ Đất nuôi trồng thủy sản: 27,5 ha

đặc biệt kinh tế thuộc lĩnh vực nông nghiệp và phát triển ngành nghề nông thôn
gắn với thương mại dịch vụ. Những năm qua được sự quan tâm của Đảng và
nhà nước, các cấp, các ngành cùng với sự vươn lên của Đảng bộ và nhân lực
toàn xã, đoàn kết nhất trí huy động tối đa các nguồn lực với quan điểm “ lấy
sức dân lo cuộc sống cho dân “. Đội ngũ cán bộ xã được trẻ hóa, năng động,
sáng tạo, đoàn kết. Đảng bộ có bề dày thành tích, đặc biệt là trong công tác vận
động quần chúng nhân dân phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, đảm
bảo quốc phòng - an ninh.
∗ Dân số - lao động:
Dân số của xã tính đến thời điểm 30/ 11/2011 là 9875 người, tổng số hộ là
2.222 hộ, 100% là nông nghiệp, trung bình mỗi hộ có 4,44 người. Thành phần
dân tộc: 100% dân số là dân tộc Kinh. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,15%.
Số người trong độ tuổi lao động: 5480 người
- Cơ cấu lao động theo các ngành nông nghiệp 85%. Lao động phi nông nghiệp,
tiểu thủ công nghiệp 10%. Lao động dịch vụ chiếm tỷ lệ 5%.
- Lao động phân theo kiến thức phổ thông:
+ Tiểu học 33%;
+ Trung học cơ sở 42%,
+ Trung học phổ thông 25%.
- Tỷ lệ lao động được đào tạo chuyên môn so với tổng số lao động:
+ Lao động chưa qua đào tạo (lao động phổ thông): 4.550 người, chiếm 83,02%.
+ Sơ cấp (3 tháng trở lên): 266 người, chiếm 4,87%.
+ Trung cấp: 591 người, chiếm 10,78%.
+ Cao đẳng – Đại học: 73 người, chiếm 1,33%.
∗ Việc làm – thu nhập :
10
- Việc làm: Tỷ lệ số lao động sau khi đào tạo có việc làm/ Tổng số đào tạo
75,5%.
- Thu nhập:
Cơ cấu kinh tế: Mức độ tăng trưởng kinh tế năm 2011 đạt 13,66%,

-Giáo dục:
Trên địa bàn xã có :
+ Trường Mầm non: Có 5 điểm trường gồm một khu trung tâm có diện tích 8012
m2, có 5 phòng học và 2 phòng công vụ được xây dựng kiên cố đạt chuẩn cú 4
điểm lẻ, gồm điểm thôn Hòa Lạc có diện tích 461 m2, điểm thôn Sơn Tùng có
diện tích 1679 m2, điểm thôn Tân Châu diện tích 2106 m2 có 2 phòng học kiên
cố và điểm thôn Trung Minh diện tích 390 m2 có 2 phòng học và một phòng
công vụ bán kiên cố.
+ Trường tiểu học: có 2 trường.
Trường tiểu học số 1 Quảng Châu: Vị trí nằm ở thôn Trung Minh với
diện tích 11.300 m2. Trường đã được công nhận đạt chuẩn Quốc gia giai đoạn
1 năm 2009. Diện tích phòng chức năng, sân chơi bãi tập cho học sinh đã đủ và
đạt chuẩn.
Trường tiểu học số 2 Quảng Châu:
Nằm tại thôn Lý Nguyên với diện tích khuôn viên 8346 m2, cơ sở vật chất
(phòng học, bàn ghế, máy vi tính, trang thiết bị thư viện) chưa đạt chuẩn, đặc
biệt thiếu 2 phòng chức năng, 1 công trình vệ sinh và sân thể dục thể thao.
Trường trung học cơ sở Quảng Châu: có vị trí tại thôn Tiền Tiến với diện
tích 8779 m2, cơ sở vật chất của trường có 2 dãy nhà 2 tầng, các phòng công
vụ, phòng chức năng, nhà vệ sinh, sân chơi bãi tập, trang thiết bị phục vụ cho
học sinh và giáo viên đều đạt chuẩn, hiện tại trường có 21 lớp học với 801 học
sinh, đạt 98% em học sinh trong độ tuổi đến trường và đang xây dựng nhà
công vụ 2 tầng 6 phòng với tổng diện tích 288 m2. Trường đã được công nhận
đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 1 năm 2011.
- Năm 2011, tỷ lệ phổ cập giáo dục Trung học cở sở đạt 98,46%
Học sinh đỗ tốt nghiệp Trung học cơ sở tiếp tục học Trung học phổ thông,
Trung học bổ túc, học nghề là 192/197 em, đạt 98,3% (trong đó phổ thông 110
em, bổ túc 0 em, học nghề 82 em).
Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 23%.
- Y tế:

vụ viêc trong năm có giảm về tính chất nghiêm trọng và số vụ vi phạm, tập
trung chủ yếu vào các đối tượng trộm cắp, cờ bạc, gây rối đánh nhau, say rượu
làm mất trật tự công cộng,buôn lậu, tai nạn giao thông.
Nhận xét chung.
-Thuận lợi:
13
Được sự quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng của cấp trên, phần nào đã tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế ở địa phương mang lại hiệu quả
thiết thực cho người dân.
Có tiềm năng về tài nguyên; Đất đai màu mỡ; Hệ thống kênh thủy lợi nội
đồng cơ bản hoàn thiện đáp ứng nhu cầu tưới tiêu cho toàn bộ diện tích, mang
lại hiệu quả trong sản xuất và nguồn lao động dồi dào.
- Khó khăn:
Là 1 trong 4 xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn của huyện Quảng
Trạch, (đang hưởng Chương trình 135). Phần lớn lao động chưa qua đào tạo,
tập trung chủ yếu là lực lượng lao động nông thôn, hiệu quả lao động năng suất
thấp.Việc sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản mang tính tự phát, thiếu
ý thức bảo vệ môi trường, có nguy cơ hủy hoại nguồn lợi thiên nhiên, phương
pháp khai thác tiềm năng lợi thế của xã chưa được quy hoạch đúng mức.
Trình độ năng lực, quản lý dự án của cán bộ xã còn nhiều hạn chế,
người dân còn nghèo nên việc đóng góp để xây dựng các công trình còn gặp
khó khăn.
4.1.4. Phương hướng chung và mục tiêu tổng quát phát triển kinh tế - xã hội
của xã Quảng Châu
Phương hướng chung:
Tập trung phát triển kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng ngành nghề dịch vụ,
giảm tỷ trọng nông nghiệp, phấn đấu mức độ phát triển năm sau cao hơn năm
trước. Phát triển các thành phần kinh tế, các tổ hợp tác, kinh tế hộ, quản lý các
thành phần kinh tế cá thể trên địa bàn.
Thực hiện tốt công tác quy hoạch sử dụng đất đai, tài nguyên môi trường

a) Đánh giá mạng lưới đường giao thông ở xã Quảng Châu
∗ Giao thông đường sắt:
Trên địa bàn xã Quảng Châu không có đường sắt đi qua, cho nên ở đây
không có đường sắt.
∗ Giao thông đường thủy:
Không có tuyến đường thủy nào đi qua địa bàn xã.
∗ Giao thông đường bộ:
Mạng lưới giao thông đường bộ của xã Quảng Châu phân bố chưa hợp lý.
Số lượng đường tập trung nhiều ở khu vực trung tâm xã. Các mạng lưới đường
khá dày nhưng các tuyến có tình trạng sử dụng chưa tốt, số lượng cầu cống
chưa đảm bảo và chưa đồng bộ, còn có tuyến đường cụt. Tính đến năm 2011,
toàn xã có 126,5 km đường bộ các loại. Trong đó:
15
- Đường liên xã có chiều dài 8,5 km, là trục đường chính của xã nhưng hiện nay
mới chỉ có 4,5 km được nhựa hóa và bê tông hóa, còn lai là đường cấp phối,
tình trạng kỹ thuật còn rất kém, mặt đường nhỏ và có một số đoạn đi qua các
xóm còn bị cây cối che khuất tầm nhìn làm ảnh hưởng rất lớn đến người tham
gia giao thông
- Đường liên thôn, xóm: Với bề mặt sử dụng không được rộng còn xuất hiện
nhiều ổ gà, nhiều đoạn cong queo, nhiều khúc cua nguy hiểm, các cống rãnh
hỏng nhiều, tình trạng lấn chiếm đất của một số hộ dân, về ngày mùa còn xuất
hiện nhiều rơm rạ của dân phơi trên đường làm ảnh hưởng rất lớn đến giao
thông và chất lượng đường.
- Đường nội thôn, xóm: Đường được sử dụng bởi các phương tiện xe máy, xe
đạp và người đi bộ là chính, chưa được cứng hóa chủ yếu là đường đất nên vào
mùa mưa nhiều tuyến đường còn lầy lội, sạt lở gây khó khăn cho việc đi lại của
nhân dân.
- Đường nội đồng: Loại đường này chủ yếu dùng để vận tải và phục vụ cho ngày
mùa là chính nên tình trang kỹ thuật còn rất kém, đặc biệt vào mùa mưa đường
lầy lội, sụt lún rất khó khăn cho việc vận chuyển và đi lại.

tiện giao thông tăng lên cả về số lượng và chủng loại, số lượng xe máy tăng
nhanh dần dần thay thế cho xe đạp, đã xuất hiện thêm nhiều loại xe vận tải nhỏ
thay thế cho súc vật kéo.
Bảng 1. Phương tiện giao thông xã Quảng Châu (năm 2011)
Loại
phương tiện
Hiện có Dự kiến sẽ mua
Số
lượng
Tỷ lệ
(%)
Số
lượng
Tỷ lệ
(%)
Xe đạp
3515 45,00 82 20,60
Xe máy
4254 54,46 300 75,37
Ô tô các loại
14 0,18 6 1,50
Máy thi công
27 0,35 10 2,51
Tổng số hộ
2.222 2.222
(Nguồn UBND xã Quảng Châu)
Trong những năm qua, một số công trình giao thông được nhà nước
quan tâm đầu tư xây dựng, nâng cấp nhưng do địa bàn rộng, cơ sở hạ tầng
kinh tế - xã hội xuất phát điểm thấp, việc đầu tư còn dàn trải nên chưa đáp
17

đường nông thôn trong thời đại hiện nay phải phục vụ cho cơ giới hóa, hiện
đại hóa nông thôn. Đường làng phải được cải tạo phù hợp với chức năng
giao thông, hành lang cấp thoát nước, cấp điện, thông thoáng và làm đẹp cho
nông thôn mới.
18
Việc xác định chiều rộng lưu thông hợp lý cho các con đường nông thôn,
đặc biệt là đường làng xã sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc đo thị hóa, giảm
lãng phí không đáng có khi phải phá dỡ nhà cửa khi mở rộng thêm đường, sao
cho việc lưu thông xe cơ giới tới tất cả các điểm dân cư nông thôn có thể thực
hiên được.
Thực tế thì các tuyến đường giao thông trên địa bàn xã Quảng Châu từ
trước tới nay mới chỉ đơn giản gồm 2 phần là lòng đường và vai đường. Bề
rộng lòng đường liên xã là 3,5m. Các tuyến đường thôn xóm có bề rộng mặt
đường trung bình là 2,7m, với lề đường hẹp. hệ thống thoát nước kém và
thường bị lấn chiếm, không có đất để mở rộng thêm đường khi cần thiết.
4.2.2. Nhu cầu về phát triển giao thông của xã đến năm 2020
Như chúng ta đã biết, mạng lưới giao thông đường bộ là cơ sở hạ tầng cơ
sở thiết yếu cho các nhu cầu dân sinh, kinh tế - xã hội và giao lưu văn hóa.
Mặc dù trong những năm qua đã được chú ý phát triển, nâng cấp song hệ thống
đường đang còn trong tình trạng thiếu và yếu.
Mạng lưới giao thông nông thông phát triển không những tạo điều kiện
thuận lợi trong đi lại cho nhân dân mà còn góp phần thúc đẩy phát triển sản
xuất, giao lưu thương mại tại các xã đặc biệt khó khăn. Lâu nay, khi đề cập đến
những điều kiện để phát triển kinh tế-xã hội tại các xã đặc biệt khó khăn,
đường luôn được yêu cầu phải đi trước một bước. Thực tế cũng cho thấy, nhu
cầu làm đường chiếm tỷ trọng lớn và xếp ở vị trí ưu tiên hàng đầu trong nhóm
những yêu cầu của chính quyền địa phương và người dân về phát triển cơ sở hạ
tầng. Với kết quả đầu tư phát triển giao thông nông thôn tại các xã đặc biệt khó
khăn trong thời gian vừa qua đã chứng minh quyết tâm của các Bộ, ngành
Trung ương và các địa phương cũng như người dân sở tại trong việc cụ thể hóa

tiềm năng ở khu vực lãnh thổ nông thôn nhằm tạo ra sự phát triển tốt nhất
trong những điều kiện cụ thể.
Trong những năm qua công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã đem lại những thành tựu to lớn.
Bằng những chính sách về đổi mới kinh tế nông nghiệp và phát triển kinh tế
- xã hội nông thôn mà đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII và IX đề ra, chú
trọng phát triển kinh tế hộ gia đình trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, ứng dụng những tiến bộ khoa học
kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp nhăm tạo ra năng suất và nhiều hàng
hóa. Nghị quyết Trung ương 5 đã chỉ rõ: “ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp nông thôn là nhiêm vụ trọng tâm trong những năm trước mắt,
công nghiệp hóa nông thôn được coi là nhiệm vụ hàng đầu nhằm nâng cao
đời sống nhân dân, ổn định xã hội.”
Tiếp tục tổ chức sản xuất, thúc đẩy mạnh mẽ sự chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giảm tỷ trọng nông – lâm – ngư
nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ - thương mại.
20
Xây dựng cơ sở hạ tầng, trong đó quy hoạch phát triển giao thông nông thôn là
một yêu cầu cấp thiết nhằm thúc đẩy nhanh sự phát triển kinh tế - văn hóa và
xã hội ở từng địa phương, góp phần xây dựng thành công sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, đưa đất nước tránh khỏi nguy
cơ tụt hậu và phát triển nhanh trong thế kỷ XXI, rút ngắn khoảng cách giữa
thành thị và nông thôn.
Nhằm làm tốt vai trò trung tâm hệ thống vật chất cở sở hạ tầng của toàn
xã hội, đáp ứng yêu cầu giao thông kịp thời, thông suốt và an toàn. Từ nay đến
năm 2020 cần cố gắng khắc phục tình trạng đứt quãng của hệ thống giao thông.
Tạo ra thế liên hoàn liên kết giữa các vùng kinh tế, giũa thành phố và nông
thôn, giữa đồng bằng và miền núi. Cần ưu tiên các vùng trọng điểm như miền
núi phía Bắc, Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long và một số vùng còn
nghèo ở miền Trung.

đường đất tình trạng kỹ thuật tương đối thấp còn xuất hiện nhiều ổ gà, ổ trâu.
Đến năm 2020 sẽ hoàn thành việc đổ bê tông .
Các tuyến đường nội đồng có tổng chiều dài 37 km, chiều rộng trung bình
la 2,75m là đường đất tình trạng kỹ thuật xấu. Xã đã chủ trương quy hoạch và
sớm đưa vào sử dụng.
4.3.2. Phương án quy hoạch hệ thống giao thông của xã đến năm 2020
a) Tình hình quy hoạch mạng lưới đường giao thông của huyện
Quảng Trạch nói chung và xã Quảng Châu nói riêng:
+ Tình hình quy hoạch mạng lưới đường giao thông của huyện Quảng Trạch,
nhằm đáp ứng yêu cầu giao thông kịp thời thông suốt và an toàn. Từ nay đến
năm 2020 huyện cần khắc phục tình trạng đứt quãng của hệ thống giao thông,
phải tạo được sự liên kết giao thông giữa các xã và với các huyện lân cận. Cần
ưu tiên phát triển giao thông các vùng trọng điểm kinh tế của huyện, hoàn
thành các tuyến đường giao thông ở các xã.
+ Tình hình quy hoạch giao thông của xã Quảng Châu:
∗ Tuyến đường giao thông liên xã (Tùng – Châu - Hợp) chiều dài 7 km và
đường liên xã ( Phú – Kim – Châu – Hợp) có chiều dài 1,5 km, đoạn đi qua
xã Quảng Châu cần đầu tư quy hoạch mở rộng 7,5m, bê tông mặt đường
rộng 5,5m.
∗ Cải tạo nâng cấp (cứng hóa): 19 km đường giao thông ,trong đó:
- Đường liên xã: 4 km (đạt tổng số 8,5/8,5 km = 100%)
- Đường trục thôn, liên thôn: 5 km (đạt tổng số 10/21 km = 47,6%)
- Đường nội thôn liên xóm : 9 km (đạt tổng số 16/60 km = 26,65 %)
∗ Cải tạo nâng cấp (cấp phối) đường đảm bảo không lầy lội
- Đường nội thôn: 27 km (đạt tổng số 27/37 km = 72,9 %)
22
∗ Nâng cấp, cải tạo đường dân sinh đảm bảo xe cơ giới đi lại thuận tiện:
- Đường dân sinh nội thôn: 6 km (đạt tổng số 6/15 km = 40%)
- Làm mới cầu qua kênh nam hồ Vực Tròn: 2 cầu.
Trong cơ chế thị trường quy hoạch phát triển giao thông của xã Quảng

Tăng thu nhập của người dân năm 2015 lên 9,5 triệu đồng và đên năm
2020 là 16 triệu đồng, đạt chỉ tiêu 1,4 lần so với bình quân thu nhập của tỉnh.
Một số chỉ tiêu về sản xuất hàng hóa đến năm 2015:
- Cơ cấu kinh tế: mức độ tăng trưởng cơ cấu kinh tế hằng năm đạt từ 11,2% đến
12%; trong đó:
+ Gía trị sản xuất Nông, Lâm, Ngư nghiệp tăng 55%;
+ Gía trị tiểu thủ công nghiệp ngành nghề nông thôn tăng 20%;
+ Gía trị thương mại dịch vụ và thu nhập từ ngoài tỉnh chuyển về chiếm 25%.
∗ Về văn hóa – xã hội:
Bổ sung các quy ước về nếp sống văn hoá vào Hương ước; xây dựng làng
văn hóa ở 6 thôn còn lại .
- Các chỉ tiêu phấn đấu về đời sống văn hoá:
+ Tỷ lệ thôn đạt tiêu chuẩn làng văn hoá: 55,5% ( 5/9 thôn)
+ Tỷ lệ gia đình đạt gia đình văn hoá: 80%;
+ Tỷ lệ gia đình đạt gia đình văn hoá làm giàu từ sản xuất nông nghiệp:
17%;
+ Tỷ lệ người tham gia hoạt động thể dục, thể thao thường xuyên: 40%;
+ Tỷ lệ người tham gia hoạt động văn nghệ: 25%;
+ Tỷ lệ đám cưới, đám tang thực hiện nếp sống văn hoá: 100%;
+ Tỷ lệ người dân được phổ biến pháp luật: 100%.
+ Tỷ lệ người dân được tập huấn khoa học kỹ thuật: 65%.
c) Nhu cầu dự báo giao thông về người và hàng hóa
Với đà tăng trưởng của tỉnh nhà nói chung và xã Quảng Châu nói riêng,
mức sống của người dân ngày càng được tăng cao nên nhu cầu của người dân
tăng lên dẫn đến các phương tiện giao thông cũng tăng lên. Trong các hình
thức giao thông vận tải thì hình thức giao thông đường bộ đóng vai trò chủ đạo
trong việc lưu thông người và hàng hóa. Dự báo các phương tiện giao thông đi
lại trong địa bàn xã sẽ tăng nhanh, với tốc độ gia tăng hiện nay vào các năm
tiếp theo số phương tiện giao thông sẽ tăng từ 7810 phương tiện vào năm 2011
đến năm 2020 sẽ lên đến 10.591 phương tiện.

Phát triển mạng lưới giao thông theo phương châm “Nhà nước và nhân
dân cùng làm”. Dân làm là chính, với sự hỗ trợ chính đáng của Nhà nước, đảm
bảo nguyên tắc công khai, dân chủ, dân biết, dân làm, dân quản lý và sử dụng.
Kết hợp chặt chẽ giao thông với thủy lợi, định canh, định cư và các ngành kinh
tế khác. Khai thác có hiệu quả các tiềm năng phù hợp với điều kiên tự nhiên
25

Trích đoạn KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status