PHÒNG GD - ĐT HUYỆN YÊN LẠC
TRƯỜNG THCS PHẠM CÔNG BÌNH
BÁO CÁO KẾT QUẢ
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY- ĐỊA LÝ DÂN CƯ VIỆT NAM
MÔN/NHÓM MÔN : ĐỊA LÍ 9
TỔ : KHOA HỌC XÃ HỘI
MÃ SỐ : 36
NGƯỜI THỰC HIỆN : NGUYỄN THỊ MINH THU
ĐT: 0168 459 0433 EMAIL:
ĐỒNG VĂN - THÁNG 4 NĂM 2014
MỤC LỤC
PHẦN I- ĐẶT VẤN ĐỀ
2
1. Lý do chọn đề tài
2
2. Mục đích nghiên cứu
2
3. Bản chất nghiên cứu
3
4. Đối tượng nghiên cứu
3
5. Phương pháp nghiên cứu
3
6. Giới hạn về không gian của đối tượng nghiên cứu
4
7. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu:
4
PHẦN II. NỘI DUNG
PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
24
1. Kết luận
24
2. Kiến nghị
24
TÀI LIỆU THAM KHẢO
28
3
PHẦN I- ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài:
Xuất phát từ mục tiêu chung về giáo dục dân số, việc vận dụng và cụ thể
hoá mục tiêu giáo dục dân số trong nhà trường là việc làm rất cần thiết, nó chi
phối cách lựa chọn nội dung và phương pháp dạy học trong nhà trường, mục
tiêu này bao gồm:
- Cung cấp cho học sinh những tri thức cơ bản, cần thiết, phổ thông về
tình hình dân cư trong nước và các địa phương. Nắm được chính sách của Đảng
và Nhà nước về dân số và kế hoạch hoá gia đình.
- Giúp học sinh nhận thức rõ sự cần thiết và khả năng thực tế của con
người có thể điều khiển được hoạt động sinh sản của mình để tạo nên sự cân đối
giữa nhịp độ phát triển dân số với việc khai thác hợp lí nguồn tài nguyên và tốc
độ phát triển kinh tế.
- Hình thành thái độ và hành vi đúng đắn trước những vấn đề dân số đặc
biệt là giảm tỷ lệ sinh, phân bố lại dân cư và lao động trong phạm vi cả nước.
- Bồi dưỡng nhận thức đúng về kế hoạch hoá gia đình, về tổ chức cuộc
sống gia đình nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của bản thân, gia đình.
- Mỗi người có hành động đúng và là người hoạt động và tuyên truyền
tích cực về dân số và kế hoạch hoá gia đình.
Mục tiêu giáo dục dân số như đã xác định ở trên phù hợp với mục tiêu của
cải cách giáo dục. Nếu thực hiện được mục tiêu này chính là tích cực phục vụ
- Đề xuất phương pháp dạy học: ‘’Lấy học sinh làm trung tâm để giảng
dạy phần địa lý dân cư Việt Nam’’
- Áp dụng thực tế và đánh giá kết quả.
4. Đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu là học sinh lớp 9. Trường THCS Phạm Công Bình
5. Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu về tâm lí học, giáo dục học, đặc điểm của bộ môn địa lí THCS
- Dự giờ
- Kiểm tra học sinh
- Nghiên cứu chương trình giáo dục dân số bậc THCS
- Tổng kết kinh nghiệm
- Bước đầu thực hiện giảng dạy.
- Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp dạy học: ‘’Lấy học sinh làm
trung tâm’’ giáo viên coi trọng việc tổ chức cho học sinh hoạt động độc lập hoặc
theo nhóm (thảo luận, quan sát bảng số liệu, biểu đồ, bản đồ, lược đồ, tranh
ảnh .v.v.) Qua đó học sinh vừa tự lực nắm bắt tri thức, kỹ năng và rèn luyện
phương pháp tự học tự nghiên cứu, giáo viên quan tâm đến việc chuẩn kiến thức
kỹ năng của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Vận dụng vốn hiểu biết và kinh nghiệm
của từng học sinh và của tập thể học sinh để xây dựng bài học. Các dự kiến của
giáo viên tập trung chủ yếu vào các hoạt động học tập của học sinh và cách tổ
chức các hoạt động đó, cùng với khả năng biểu diễn các hoạt động của học sinh
để khi lên lớp có thể linh hoạt điều chỉnh theo diễn biến của tiết học, thực hiện
giờ học theo trình độ, năng lực của học sinh. Tạo điều kiện cho học sinh bộc lộ
và phát triển tiềm năng của mình để đạt được mục tiêu giáo dục.
5
6. Giới hạn về không gian của đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu khoa học phương pháp dạy học ‘’Lấy học sinh làm trung tâm
đối với học sinh lớp 9 trường THCS Phạm Công Bình.
7. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu khoa học phương pháp giảng dạy ‘’Lấy học sinh làm trung
tri thức khoa học mà người thầy là người giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức
các hoạt động học tập của học sinh. Phát huy được trí thông minh, sáng tạo, lòng
ham hiểu biết khám phá, tác phong lao động, học tập khoa học nghiêm túc. Giúp
học sinh nắm được kiến thức kỹ năng mới vừa rèn luyện được phương pháp tự
học tự nghiên cứu từ đó học sinh bộc lộ và phát triển tiềm năng của mình.
3. Phương pháp dạy học “Lấy học sinh làm trung tâm’’ trong giảng
dạy Địa lí dân cư Việt Nam (lớp 9)
- Chương trình địa lí dân cư Việt Nam lớp 9 được sắp xếp ở cuối cấp học
THCS, để giúp học sinh sau khi học xong phần địa lý dân cư Việt Nam các em
hiểu và trình bày được những kiến thức cơ bản, cần thiết, phổ thông về dân cư
nước ta. Rèn luyện, củng cố và hình thành mức độ cao hơn các kỹ năng cần thiết
trong học tập địa lý, đó là các kỹ năng: đọc và khai thác kiến thức từ bản đồ,
7
lược đồ, át lát địa lý Việt Nam. Phân tích và xử lý bảng số liệu thống kê theo
yêu cầu cho trước.
Học sinh tự sưu tầm và phân tích tài liệu từ các nguồn khác nhau (tranh,
ảnh, bài viết, báo chí ) từ đó giúp học sinh có thể vận dụng những kiến thức đã
học vào thực tế sinh động nơi các em đang sống. Giáo dục cho học sinh tình
cảm yêu quê hương đất nước, ý thức bảo vệ môi trường, ý thức công dân và
định hướng nghề nghiệp để sau này phục vụ tổ quốc. Vậy để chất lượng giảng
dạy đạt kết quả cao, giúp học sinh nắm được các kiến thức kỹ năng qua chương
trình địa lý dân cư Việt Nam. Bản thân tôi đưa ra phương pháp lấy học sinh làm
trung tâm. Đối với phương pháp dạy học này thì hoạt động của giáo viên và học
sinh được thể hiện tương ứng như sau:
- Học sinh tự khai phá tri thức, tự nghiên cứu - giáo viên là người hướng
dẫn và cung cấp thông tin.
- Học sinh tự trả lời câu hỏi, các thắc mắc do chính mình đặt ra, tự nhận
xét, kiểm tra đánh giá mình – giáo viên là trọng tài cho học sinh.
- Học sinh tự hành động, tự kiểm tra, tự điều chỉnh- Giáo viên chỉ làm cố
vấn đối với phương pháp dạy học ‘’Lấy học sinh làm trung tâm’’ bản thân tôi
hoạt động của học sinh, cần phải được quán triệt ở tất cả các khâu từ việc chuẩn
bị bài soạn của giáo viên theo chuẩn kiến thức- kỹ năng, đến khâu chuẩn bị các
phương tiện dạy học đối với từng bài và việc tiến hành dạy học trên lớp tới đánh
giá kết quả học tập của học sinh.
Trong giảng dạy giáo viên nên hạn chế việc thuyết trình giảng giải, minh
họa, việc đưa ra các câu hỏi vụn vặt. Câu hỏi cần có hướng giải quyết tương đối
trọn. Giáo viên không nên sốt ruột khi giành thời gian cho học sinh làm việc,
giáo viên cần theo dõi giải đáp ngay những thắc mắc của học sinh. Sau mỗi hoạt
động giáo viên cần chốt những ý chính giúp học sinh khẳng định lại các kiến
thức cơ bản của bài học.
Đối với học sinh cần biết rõ mục tiêu của bài học (về kiến thức kỹ năng và
thái độ, hành vi) – theo chuẩn kiến thức- kỹ năng của Bộ Giáo dục – Đào tạo.
- Học sinh cần giành thời gian thích đáng để được làm việc với sách giáo
khoa (dựa vào kênh chữ: hệ thống chữ viết trong sách giáo khoa- nội dung bài
học) các câu hỏi in nghiêng, các câu hỏi và bài tập ở cuối bài học), và dựa vào
kênh hình (biểu đồ, bản đồ, átlát địa lý Việt Nam, bản số liệu tranh ảnh) dưới sự
hướng dẫn của giáo viên để học sinh tìm tòi khám phá ra những kiến thức địa lý.
Qua đó học sinh nắm được nội dung kiến thức cơ bản và được rèn luyện các kỹ
năng và phương pháp học tập.
- Học sinh biết cách làm việc theo nhóm, biết hợp các với bạn để hoàn
thành nhiệm vụ được giao. Học sinh có thời gian để trình bày kết quả làm việc,
học sinh các nhóm khác nhận xét, bổ sung, giáo viên nhận xét, bổ sung chuẩn
xác kiến thức cho học sinh.
Khi giảng dạy phần địa lý dân cư Việt Nam lớp 9 tôi đã đưa ra phương
pháp dạy học “lấy học sinh làm trung tâm”, khi thực hiện phương pháp dạy học
này, tôi thấy rằng toàn bộ quá trình dạy và học đã hướng vào nhu cầu, khả năng
và hứng thú học tập của học sinh. Việc thực hiện phương pháp dạy học ‘’lấy học
sinh làm trung tâm’’ phát triển tối đa các kỹ năng, năng lực độc lập giải quyết
vấn đề của học sinh. Giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn và khuyến khích
hoạt động tích cực học tập của học sinh trên lớp. Thông qua việc thực hiện
Kết quả
Nội dung Phương pháp
Môi trường lớp
học
Lấy học
sinh làm
trung tâm
Các khái
niệm
1. Tự tìm tòi và
ra quyết định
2. Khám phá và
giải quyết vấn
đề
1. Tự chủ, thân
mật, không hình
thức
2. Chỗ ngồi linh
hoạt
1. Phát triển cao
hơn ở các lĩnh vực
nhận thức tình cảm
và tâm lí vận động
(hành vi)
2. Tự tin
Hậu quả
vấn đề và
quá trình
dân số
3. Học sinh chủ
học sinh, gồm trò chơi, câu đố, điều tra, đi thực tế cơ sở, còn gọi là các kĩ thuật
định hướng hoạt động.
PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY
BÀI 1-
CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM
Để thực hiện bài giảng này, giáo viên sử dụng phương pháp ‘’lấy học sinh
làm trung tâm’’. Trước hết giáo viên giúp sinh xác định được:
Mục tiêu bài học: Sau khi học xong, học sinh cần:
1. Kiến thức:
- Nêu được một số đặc điểm về dân tộc Việt Nam
- Biết được các dân tộc có trình độ phát triển kinh tế khác nhau, chung
sống đoàn kết và cùng xây dựng vào bảo vệ tổ quốc.
- Trình bày được sự phân bố các dân tộc của nước ta.
2. Kỹ năng:
- Phân tích bảng số liệu, biểu đồ về số dân phân theo thành phần dân tộc
để thấy được các dân tộc có số dân rất khác nhau, dân tộc kinh chiếm khoảng
4/5 dân số cả nước.
- Thu thập thông tin về một số dân tộc (số dân, đặc điểm, phong tục tập
quán, trang phục, nhà ở, kinh nghiệm sản xuất, địa bàn phân bố chủ yếu )
3. Thái độ:
Giáo dục các em có tinh thần tôn trọng, đoàn kết giữa các dân tộc.
* Các thiết bị dạy học cần thiết:
- Bản đồ dân cư Việt Nam
11
- Át lát địa lý Việt Nam
- Bộ tranh đại gia đình các dân tộc Việt Nam
- Tranh ảnh một số dân tộc.
* Để giúp học sinh nắm được các kiến thức kỹ năng qua bài học, giáo
viên thực hiện phương pháp dạy học ‘’lấy học sinh làm trung tâm’’ cụ thể như
sau:
thay đổi không? tại sao?.
12
+ Giáo viên giao nhiệm vụ cho các nhóm và quy định thời gian, sau đó
lần lượt các nhóm lên trình bày kết quả của nhóm mình, học sinh nhóm khác
nhận xét, bổ sung, giáo viên chuẩn kiến thức nhận xét, đánh giá kết quả, bổ sung
chuẩn kiến thức, kỹ năng.
Thông qua phương pháp và nội dung giảng dạy, giáo dục cho học sinh
tinh thần tôn trọng, đoàn kết giữa các dân tộc. Từ đó học sinh có tinh thần trách
nhiệm trước những biến động trong phân bố các dân tộc do đường lối phát triển
kinh tế- xã hội của Đảng ta trong thời gian qua.
Sau bài học giáo viên đánh giá chất lượng học tập của học sinh thông qua
việc củng cố bài học (giáo viên chuẩn bị các câu hỏi trắc nghiệm khách quan và
câu hỏi tự luận) => yêu cầu học sinh trả lời
Nhận xét cho điểm động viên nhắc nhở học sinh, khích lệ việc học tập của
học sinh.
Giáo viên hướng dẫn học sinh làm bài tập ở nhà.
BÀI 2
DÂN SỐ VÀ GIA TĂNG DÂN SỐ
Để thực hiện bài giảng này, giáo viên sử dụng phương pháp ‘’lấy học sinh
làm trung tâm’’. Trước hết giáo viên giúp sinh xác định được:
* Mục tiêu bài học: Sau khi học xong, học sinh cần:
1. Kiến thức:
- Trình bày được một số đặc điểm dân số nước ta, nguyên nhân và hậu quả.
+ Một số đặc điểm của dân số: số dân (gia tăng dân số, cơ cấu dân số)
+ Nguyên nhân và hậu quả (sức ép đối với tài nguyên môi trường, kinh
tến xã hội)
2. Kỹ năng:
- Vẽ và phân tích biểu đồ dân số, bảng số liệu về cơ cấu dân số Việt Nam.
- Phân tích và so sánh tháp dân số nước ta các năm 1989 và 1999 để thấy
rõ đặc điểm cơ cấu, sự thay đổi của cơ cấu dân số theo tuổi và giới và nước ta
- Học sinh trả lời- Học sinh khác nhận xét, bổ sung
- Giáo viên chuẩn mực kiến thức: tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên còn khác
nhau giữa các vùng.
(Chuyển ý) => mục III- Cơ cấu dân số
Hoạt động 4: Giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh
Dựa vào B2.2 và vốn hiểu biết, cho biết:
- Nước ta có cơ cấu dân số thuộc loại nào (già, trẻ?)
- Cơ cấu dân số này có thuận lợi và khó khăn gì?
+ Nêu nhận xét về cơ cấu, sự thay đổi cơ cấu dân số theo giới và nguyên
nhân của nó.
Học sinh làm việc độc lập
- Học sinh trình bày kết quả.
Nguyên nhân: Chiến tranh kéo dài.
- Do chuyển cư: tỉ lệ thấp ở các nơi xuất cư (đồng bằng Sông Hồng), cao
ở nơi nhập cư (Tây Nguyên)
14
Giáo dục học sinh có tinh thần thái độ và trách nhiệm trước vấn đề dân số
của nước ta, cần phải có một quy mô gia đình hợp lí.
Sau bài học giáo viên đánh giá chất lượng học tập của học sinh thông qua
việc trả lời các câu hỏi trắc nghiệm khách quan và tự luận.
- Nhận xét, đánh giá, cho điểm những cá nhân (nhóm) trả lời câu hỏi tốt.
- Động viên, nhắc nhở học sinh
- Giáo viên hướng dẫn học sinh làm bài tập ở nhà.
BÀI 3
PHÂN BỐ DÂN CƯ VÀ CÁC LOẠI HÌNH QUẦN CƯ
Để thực hiện bài giảng này, giáo viên sử dụng phương pháp ‘’lấy học sinh
làm trung tâm’’. Trước hết giáo viên giúp sinh xác định được:
* Mục tiêu bài học: Sau khi học xong, học sinh cần:
1. Kiến thức:
- Trình bày được tình hình phân bố dân cư nước ta
thành thị và nông thôn. Giáo viên nên cho học sinh tìm nguyên nhân của đặc
điểm phân bố không đều này.
* Phương pháp dạy Mục II các loại hình quần cư:
Học sinh có thể hoạt động nhóm
- Nhóm 1: thảo luận các vấn đề về quần cư nông thôn (nêu đặc điểm loại
hình quần cư nông thôn về mật độ, tên gọi, kiến thức nhà, hoạt động kinh tế, sự
thay đổi hiện nay)
- Nhóm 2: thảo luận các vấn đề về quần cư thành thị (nêu đặc điểm loại
hình quần cư nông thôn về mật độ, tên gọi, kiến thức nhà, hoạt động kinh tế, sự
thay đổi hiện nay)
Sau khi giành thời gian các nhóm thảo luận, giáo viên yêu cầu đại diện
nhóm trình bày kết quả làm việc, học sinh nhóm khác nhận xét, bổ sung. Giáo
viên nhận xét, bổ sung chuẩn xác kiến thức.
Học sinh có thể làm việc cá nhân.
- Quần cư nông thôn:
+ Giáo viên yêu cầu học sinh dựa vào sách giáo khoa, quan sát các tranh
ảnh về quần cư, tìm đặc điểm chung của quần cư nông thôn, sự khác nhau của
quần cư nông thôn ở các vùng và giải thích.
+ Khi phân tích về đặc điểm quần cư nông thôn, bên cạnh việc giúp học
sinh hiểu về quy mô dân số, tên gọi các điểm quần cư ở các vùng miền, các dân
tộc khác nhau, giáo viên nên tập trung sự chú ý học sinh về hoạt động kinh tế
chính của loại hình này, từ đó hiểu vì sao các làng bản ở nông thôn thường cách
xa nhau.
+ Mật độ nhà ở và cách bố trí các không gian trong nhà cũng có đặc điểm
riêng ở các vùng miền. Đó chính là sự thích nghi cua con người với thiên nhiên
và hoạt động kinh tế của người dân.
+ Giáo viên cho học sinh phân tích sâu một loại hình quân cư ở một vùng
cụ thể, tốt nhất là địa phương nơi HS đang số để từ đó học sinh tự tìm hiểu về
các vùng miền khác.
b) Quần cư thành thị:
làm trung tâm’’. Trước hết giáo viên giúp sinh xác định được:
* Mục tiêu bài học: Sau khi học xong, học sinh cần:
1. Kiến thức:
- Trình bày được đặc điểm về nguồn lao động và việc sử dụng lao động ở
nước ta.
- Biết được sức ép của dân số đối với giải quyết việc làm
- Trình bày được hiện tượng, hiện trạng chất lượng cuộc sống ở nước ta.
17
2. Kỹ năng:
- Phân tích biểu đồ, bảng số liệu về cơ cấu lao động phân theo thành thị,
nông thôn, theo đào tạo cơ cấu sử dụng lao động theo ngành, cơ cấu sử dụng lao
động phân theo thành phần kinh tế ở nước ta.
3. Thái độ:
- Giáo dục tình yêu quê hương đất nước, yêu người lao động, ý thức về sự
cần thiết để nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân và định hướng nghề
nghiệp để sau này phục vụ quê hương đất nước.
* Các thiết bị dạy học cần thiết:
+ Các biểu đồ cơ cấu lao động (phóng to theo sách giáo khoa)
+ Các bảng thống kê về sử dụng lao động
+ Tranh ảnh thể hiện sự tiến bộ về nâng cao chất lượng cuộc sống.
Để giúp học sinh nắm được các kiến thức kỹ năng qua bài học, giáo viên
thực hiện phương pháp dạy học ‘’lấy học sinh làm trung tâm’’ cụ thể như sau:
* Phương pháp dạy mục I: Nguồn lao động và sử dụng lao động
a) Nguồn lao động:
Giáo viên yêu cầu học sinh dựa vào sách giáo khoa và vốn hiểu biết thảo
luận theo gợi ý: Nguồn lao động nước ta có những mặt mạnh và những hạn chế
nào? giải thích về sự phân bố lao động giữa thành thị và nông thông. Để nâng
cao chất lượng nguồn lao động, cần có những biện pháp gì?
b) Sử dụng lao động:
Giáo viên có thể thuyết trình về những cố gắng của Nhà nước trong việc
Để thực hiện bài giảng này, giáo viên sử dụng phương pháp ‘’lấy học sinh
làm trung tâm’’. Trước hết giáo viên giúp sinh xác định được:
* Mục tiêu bài học: Sau khi học xong, học sinh cần:
1. Kiến thức:
- Biết cách phân tích so sánh các phân số
- Trình bày sự thay đổi và su hướng thay đổi cơ cấu dân số theo tuổi ở
nước ta.
2. Kỹ năng:
- Xác lập được mối quan hệ giữa gia tăng dân số và cơ cấu dân số theo độ
tuổi, giữa dân số và phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
3. Thái độ:
- Giáo dục tuyên truyền về công tác dân số - KHHGĐ, các em thấy sự cần
thiết về quy mô một gia đình hợp lý.
* Các thiết bị dạy học cần thiết:
- Tháp dân số của năm 1989 và năm 1999
Để giúp học sinh nắm được các kiến thức kỹ năng qua bài học, giáo viên
thực hiện phương pháp dạy học ‘’lấy học sinh làm trung tâm’’ cụ thể như sau:
Giáo viên chia lớp thành các nhóm tuỳ theo số lượng học sinh trong lớp;
yêu cầu các nhóm làm các bài tập trong sách giáo khoa. Giáo viên nhắc học sinh
thực hiện các bài tập theo hướng dẫn trong sách giáo khoa.
Sau khi các nhóm hoàn thành nhiệm vụ, Giáo viên tổ chức cho các nhóm
trình bày kết quả, bổ sung và chuẩn xác kiến thức theo dàn ý sau:
a) Phân tích và so sánh 2 tháp dân số
19
- Hình dạng: Đều có đáy rộng, đỉnh nhọn nhưng chân của đáy ở nhóm 0-4
tuổi của năm 1999 đã thu hẹp hơn so với năm 1989
- Cơ cấu dân số:
+ Theo độ tuổi: Tuổi dưới và trong tuổi lao động đều cao nhưng độ tuổi
dưới lao động năm 199 nhỏ hơn năm 1989. Độ tuổi lao động và ngoài lao động
năm 1999 cao hơn 1989
nghiệp, bảo vệ môi trường nơi đang sống, chấp hành các chính sách của Nhà
nước về phân bố dân cư.
II. Thiết bị dạy học cần thiết:
+ Bản đồ phân bố dân cư và đô thị Việt Nam
+ Tranh ảnh về nhà ở, một số hình thức quần cư ở Việt Nam
+ Bảng thống kê mật độ dân số một số quốc gia và đô thị ở Việt Nam.
III. Tiến trình bài dạy:
1. Ổn định lớp:
2. Kiểm tra bài cũ
- Em hãy cho biết số dân và tình hình gia tăng dân số ở nước ta? Nguyên
nhân và hậu quả của tình hình dân số trên? Nêu biện pháp giải quyết?
3. Bài mới
Giới thiệu bài: Như chúng ta đã biết, Việt Nam là một nước đông dân, dân
số tăng nhanh nên nước ta có mật độ dân số cao. Sự phân bố dân cư, các hình
thức quần cư, cũng như quá trình đô thị hoá ở nước ta có đặc điểm như thế nào?
Chúng ta tìm hiểu trong bài học hôm nay.
21
Hoạt động của thầy và trò Nội dung
Hoạt động 1: (Cá nhân) I. Mật độ dân số và phân bố dân
cư
? Em cho biết mật độ dân số là gì?
? Em nhắc lại thứ hạng diện tích lãnh thổ và
dân số nước ta so với các nước trên thế giới?
? Dựa vào hiểu biết và nội dung SGK cho
biết mật độ dân số nước ta.
- So sánh mật độ dân số nước ta với mật độ
dân số thế giới năm 2003.
- So sánh mật độ dân số nước ta với châu Á,
với các nước trong khu vực Đông Nam Á.
- GV cung cấp số liệu năm 2003.
2. Phân bố dân cư:
- Phân bố dân cư rộng khắp cả
nước nhưng không đồng đều
+ Tập trung chủ yếu ở đồng bằng,
ven biển và các đô thị.
Năm 2003:
ĐBSH: 1192ng/km
2
TP HCM: 2664 ng/km
2
Hà Nội: 2830 ng/km
2
+ Dân cư thưa thớt ở những vùng nào? Vì sao?
- Do điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã
hội khó khăn
- Miền núi và cao nguyên dân cư
thưa thớt.
? Nhận xét sự phân bố dân cư giữa thành phố
thị và nông thôn? Tại sao?
- Phân bố dân cư có sự chênh lệch
giữa thành thị và nông thôn
+ Thành thị: 26%
+ Nông thôn: 74%
22
- Giáo viên: Với sự chênh lệch dân cư giữa
đồng bằng và miền núi gây vùng thì quá tải
vì quỹ đất cạn kiệt nguồn tài nguyên, ô
nhiễm môi trường. Nơi đất nhiều nhưng
- Tên gọi: Làng , ấp, thôn, xóm
(đồng bằng),bản, buôn, plây,
phum, sóc,
Kiến trúc nhà: Nhà cấp 4, nhà sàn,
nhà rông, nhà ống
- Hoạt động kinh tế: chủ yếu nông
– lâm – ngư nghiệp.
- Thay đổi: Điện, đường, trường,
trạm, nhà ở, dịch vụ đa dạng.
b. Quần cư thành thị
- Mật độ: cao
- Tên gọi: Phố, phường, quận,
ngõ, ngách
- Kiến trúc nhà: Nhà ống, nhà cao
tầng, chung cư, biệt thự, nhà vườn
23
- Giáo viên chuẩn xác kiến thức
=> Nhà ở nông thôn thì cách xa, còn thành
thị thì san sát. Hoạt động kinh tế cùng khác
nhau, quần cư nông thôn chủ yếu là sản xuất
nông nghiệp, còn quần cư thành thị chủ yếu
là sản xuất công nghiệp và dịch vụ
? Quan sát hình 3.1. hãy nêu
Nhận xét về sự phân bố các đô thị của nước
ta? Giải thích?
? Địa phương em thuộc loại hình quần cư nào?
Hoạt động 3 (Cả lớp) III. Đô thị hóa
- Học sinh quan sát bảng 3.1. Số dân thành
thị và tỷ lệ dân thành thị nước ta thời kỳ
1985 – 2003.
24
4. Củng cố:
- Gọi học sinh đọc kết luận SKG
- Em hãy trình bày đặc điểm phân bố dân cư của nước ta
- So sánh đặc điểm của quần cư nông thôn và quần cư thành thị ở nước ta
- Cho biết sự thay đổi về tỷ lệ dân thành thị đã phản ánh quá trình đô thị
hóa ở nước ta như thế nào? Vấn đề bức súc cần giải quyết cho dân cư tập trung
quá đông ở các thành phố lớn?
5. Hướng dẫn về nhà
- Học thuộc bài
- Làm câu hỏi và bài tập 1,2,3 SGK trang 14
- Đọc trước bài 4: Lao động và việc làm, Chất lượng cuộc sống
4. Kết quả nghiên cứu:
Trên đây là phương pháp dạy học ‘’ Lấy học sinh làm trung tâm’’ để
giảng dạy Địa lí dân cư Việt Nam SGK lớp 9. Qua thực tế giảng dạy, ứng dụng
đề tài mà tôi nghiên cứu đã tỏ ra thành công bước đầu. Hầu hết học sinh khi đã
được học tập theo phương pháp mới ‘’lấy học sinh làm trung tâm’’, dưới hình
thức thảo luận theo nhóm, cá nhân. Các em hiểu và ghi nhớ, nắm bắt được
những kiến thức cơ bản của bài. Các em đã được rèn luyện các kỹ năng địa lí.
Sử dụng số liệu, biểu đồ, tháp tuổi phân tích, nhận xét các kiến thức địa lí một
cách thành thạo, phát huy tính tích cực học tập của học sinh. Qua bài học, các
em tự tin hơn đối với vấn đề dân số. Chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà
nước ta. Từ đó đã hình thành thái độ và hành vi đúng đắn về những vấn đề dân
số. Với phương pháp phát huy tính tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh,
giáo viên đã phát hiện ra những em có năng lực học tập thực sự và chất lượng
học tập của học sinh được nâng lên rõ rệt.
Từ thực nghiệm này đã khẳng định tính đúng đắn của đề tài, đồng thời nói
lên tác dụng của chúng trong quá trình giảng dạy.
Tổng hợp kết quả khảo sát chất lượng trước và sau khi thực hiện sáng
kiến kinh nghiệm