So n bài V ch ng A Phạ ợ ồ ủ
Soạn bài Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài
I. Đọc – hiểu văn bản
Câu 1. Nhân vật Mị
a. Giới thiệu nhân vật
- Trước nhà thống lí Pá Tra, người ta lúc nào cũng thấy Mị ngồi quay sợi bên tảng đá cạnh tàu ngựa.
- Lúc nào cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi.
- > Vị trí ngồi ấy cho thấy cuộc đời Mị như bị thắt chặt trong kiếp ngựa trâu và khuôn mặt lột tả cỏi
lòng luôn mang nỗi đau buồn thầm lặng dai dẳng, triền miên. Nỗi buồn đông cứng như tảng đá vô
tri và đè nặng lên đôi vai,lên cuộc đời Mị. Tác giả đã thể hiện nỗi buồn của Mị với giọng văn ngậm
ngùi và chiều sâu cảm thông hiếm thấy. Đoạn văn mở đầu giúp người đọc chứng kiến cảnh đời bi
thương của nhân vật Mị.
b. Nỗi khổ nhục của Mị khi ở nhà thống lí.
- Mị không phải là con thống lí mà là đứa con dâu gạt nợ. Vì món nợ từ ngày cưới mà bố mẹ không
trả nổi nên Mị bị bắt về nhà Pá Tra, làm vợ A Sử để trừ nợ.
- > Đây là thủ đoạn cho vay nặng lãi của bọn phong kiến thống trị, là cách bóc lột sức lao động của
người nghèo và chúng đã giam hãm người nông dân trong sự lệ thuộc suốt đời.
- Chúng còn lợi dụng tập quán của người Mèo: đời cha không trả hết nợ thì đến đời con, đời cháu.
Bắt Mị về là cha con Pá Tra liền cúng ma nhà nó.
- > Vĩnh viễn Mị là người nhà thống lí, là người ở trừ nợ suốt đời, là có thể chết rũ ở xó nhà này mà
không thể hi vọng vào sự giải thoát. Thống lí Pá Tra đã lợi dụng óc mê tín dị đoan của người Mèo để
giam hãm Mị, để tăng sức mạnh và vươn xa hơn bàn tay tội ác. Bọn thống trị độc ác đã tước đi
quyền sống tự do của Mị, cướp mất tình yêu, tuổi trẻ và hạnh phúc của Mị.
- Hàng tháng trời, đêm nào Mị cũng khóc. Mị đã nghĩ đến cái chết như là phương cách giải thoát.
Nhưng vì bố mà Mị cam chịu kiếp sống đọa đày. Mị làm việc như cái máy, bị vắt kiệt sức ra để trừ
nợ. Tác giả so sánh Mị khổ hơn con ngựa nhà thống lí. Mị như cái xác không hồn. Mị sống trong căn
buồng kín mít không ánh sáng, chẳng hương người, chỉ có cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay. Lúc
trông ra cũng thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng.
- > Không gian ấy cho biết đời Mị sẽ héo dần trong tăm tối, nô lệ, trong kiếp sống ngục tù. Không
biết gì thế giới xung quanh mình, Mị dần dần tê dại về cảm giác và tê liệt về ý thức, khác gì một đóa
hoa tàn. Nếu đem so sánh với đoạn đời tươi đẹp hồn nhiên khi còn ở nhà với bố mẹ thì hiện trạng
đau và quên lãng. Thế nhưng lòng ham sống vẫn còn le lói. Đến khi mùa xuân về thì ngọn lửa ham
sống chợt bùng lên. Tiếng sáo gọi bạn tình đêm xuân đã đánh thức tâm hồn Mị, lòng Mị cảm thấy
bồi hồi xao xuyến, thiết tha muốn sống lại như những đêm xuân ngày xưa cũ. Mị ngồi nhẩm thầm
hát theo tiếng sáo với những bản tình ca ngày trước, Mị lén lấy rượu uống, uống ừng ực từng bát,
uống như nuốt hận, uống để quên đi cay đắng đoạn trường. Trong khi ấy, tiếng sáo ngoài đường, từ
phía đời tự do cứ lửng lơ, mời gọi giục giã. Mị thấy lòng phơi phới trẻ lại. Mị muốn đi chơi. Sức sống
bấy nay bị đè nén nay bật trào dậy thành khát vọng tự do mạnh mẽ. Nhưng vẻ đẹp sức sống tâm
hồn ấy bị A Sử vùi dập tàn bạo.
- Thế rồi sức sống ấy bật dậy lần nữa trong hành động cứu A Phủ. A Phủ là đứa ở gạt nợ của nhà
thống lí. Đi chăn bò, sơ ý để hổ ăn mất bò nên bị Pá Tra bắt trói đứng vào cột và bỏ đói gần chết.
Bỗng đêm khuya hôm ấy, Mị đang sưởi lửa thì ngọn lửa bếp bỗng bùng sáng lên. Nhờ đó mà Mịn
nhìn thấy dòng nước mắt tuyệt vọng của con người bất hạnh ấy. Vừa xót thương người cùng cảnh
ngộ vừa căm thù thống lí Pá Tra nên Mị dám đứng dậy cắt dây trói cứu A Phủ. Khi A Phủ thoát rồi,
Mị đứng lặng trong bóng tối và nỗi sợ hãi bị chết thay chợt ập về khiến Mị vùng bỏ chạy theo A
Phủ. Thế là ngẫu nhiên Mị lại cứu được đời mình.
- Hành động cứu người rồi cứu mình của Mị được thôi thúc bởi lòng ham sống, lòng khát khao tự
do, biểu hiện tính cách ngoan cường. Hành động của Mị thật mạnh mẽ vì cô dám đứng lên chống
đối lại số phận, chống lại thế lực bảo quyền và cả thế lực thần quyền : vì Mị đã hết sợ ma nhà thống
lí rồi. Hành động giải phóng của Mị dù tự phát nhưng phù hợp với quy luật tình cảm, quy luật xã hội
và thể hiện đúng quy luật phát triển của tính cách. Đó chính là lúc sức sống nội tại đã bùng lên một
cách mạnh mẽ nên đã có một kết quả rực rỡ. Nó khép lại quãng đời nô lệ tăm tối ở Hồng Ngài, mở
ra một cuộc đời tự do và ánh sáng ở Phiền Sa. Hành động cứu người của Mị không chỉ thể hiện vẻ
đẹp tính cách mạnh mẽ, khát vọng sống, lòng ham sống còn là biểu hiện của tình thương thân
tương ái.
Tóm lại, nhờ sức sống tiềm tàng, tính cách mạnh mẽ, lòng ham sống mà những người lao động
miền núi đã có khả năng đứng lên để tự giải phóng. Họ biết tự cứu đời mình trước khi tìm đến với
cách mạng. Do đó, qua tình tiết này, truyện còn phản ánh hiện thực đời sống của người dân miền
núi là khả năng tự đứng lên giải phóng cuộc đời. Đây là cơ sở tốt để sau này gặp cán bộ A Châu họ
nhanh chóng được giác ngộ cách mạng.
Câu 2. Nhân vật A Phủ.
đau khổ của Mị thiên về tinh thần thì nỗi đau khổ của A Phủ thiên về thể xác, do đó bút pháp xây
dựng nhân vật có điểm khác nhau. Tác giả dùng bút pháp tả nội tâm để khắc họa tâm trạng và sức
sống tiềm tàng của Mị ; Còn đối với A Phủ, tác giả tả ngoại hình, tả hành động để làm bổi bật tính
cách bộc trực, hồn nhiên, ưa hoạt động.
- Khi được Mị cắt giúp dây trói cứu thoát, A Phủ đổ ập xuống nhưng anh liền quật sức vùng lên. Sức
sống tiềm tàng và lòng khát khao được sống giúp A Phủ chiến thắng nỗi đau thể xác và cả số phận
nghiệt ngã để trở thành người tự do.
Câu 3. Thành công nghệ thuật.
- Nghệ thuật kể chuyện thành công. Truyện có kết cấu, bố cục chặt chẽ, hợp lí ; dẫn dắt những tình
tiết đan xen kết hợp một cách khéo léo tạo sức lôi cuốn.
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật cũng rất thành công. Mỗi nhân vật được sử dụng bút pháp khác
nhau để khắc họa tính cách khác nhau trong khi họ có số phận giống nhau. Tác giả tả ngoại hình, tả
tâm lí với dòng kí ức chập chờn, những suy nghĩ thầm lặng để khắc họa nỗi đau khổ và sức sống
của Mị, còn A Phủ thì tả ngoại hình, hành động và những mẫu đối thoại ngắn để thấy tính cách giản
đơn.
- Ngòi bút tả cảnh rất đặc sắc : cảnh mùa xuân, cảnh trai gái đi chơi ngày Tết, cảnh xử kiện… từ
không khí, con người đến phong tục đều mang đậm bản sắc miền núi.
- Ngôn ngữ tạo hình cao, giàu chất điện ảnh. Giọng điệu trần thuật có sự pha trộn giữa giọng người
kể với giọng nhân vật nên tạo ra chất trữ tình.