Nghiên cứu cải thiện khả năng chống ẩm của vật liệu polymer thực phẩm trong sản xuất bao bì tự hủy - Pdf 26

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BỘ MÔN CÔNG NGHỆ HÓA HỌC
ĐỀ TÀI SINH VIÊN
NGHIÊN CỨU CẢI THIỆN KHẢ NĂNG CHỐNG ẨM CỦA
VẬT LIỆU POLYMER THỰC PHẨM TRONG SẢN XUẤT
BAO BÌ TỰ HỦY
Giáo viên hƣớng dẫn: Sinh viên thực hiện:
PGS. TS. TRƢƠNG VĨNH LÊ ĐỨC ÂN
NGUYỄN HỮU CHUNG
VÕ HOÀNG HƢNG
TP. Hồ Chí Minh, tháng 08/2011
i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BỘ MÔN CÔNG NGHỆ HÓA HỌC
ĐỀ TÀI SINH VIÊN
NGHIÊN CỨU CẢI THIỆN KHẢ NĂNG CHỐNG ẨM CỦA
VẬT LIỆU POLYMER THỰC PHẨM TRONG SẢN XUẤT BAO
BÌ TỰ HỦY
Giáo viên hƣớng dẫn: Sinh viên thực hiện:
PGS. TS. TRƢƠNG VĨNH LÊ ĐỨC ÂN
NGUYỄN HỮU CHUNG
VÕ HOÀNG HƢNG
TRANG TỰA
TP. Hồ Chí Minh, tháng 08/2011
ii


2.2.5. Ứng dụng của polymer sinh học 11
2.3. Nguyên liệu dùng làm bao bì sinh học 11
2.3.1. Tinh bột sắn 11
2.3.1.1. Giới thiệu chung về tinh bột sắn và các tính chất 11
iii
2.3.1.2. Ứng dụng của tinh bột sắn 12
2.3.1.3. Polymer tự phân hủy sinh học trên cơ sở tinh bột 12
2.3.1.4. Các loại tinh bột biến tính và ứng dụng 13
2.3.2. Polyvinyl alcohol (PVA) 18
2.3.2.1. Khái niệm 18
2.3.2.2. Tính chất của PVA 18
2.3.3. Protein 20
2.3.4. Polylactic acid 21
2.3.5. Glyoxal 21
2.3.6. Phụ gia chống thấm trong ngành giấy 21
2.3.4.1. Keo AKD (Alkyl Ketene Dimer) 21
2.3.4.2. Keo ASA (Alkenyl Succinic Anhydride) 22
2.3.7. Phụ gia tăng độ bền ướt trong ngành giấy 22
2.4. Cơ sở lý thuyết của quá trình chế tạo bao bì tự hủy sinh học 23
Chương 3 VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1. Thời gian và địa điểm thực hiện 24
3.2. Nguyên vật liệu, thiết bị và dụng cụ thí nghiệm 24
3.2.1. Nguyên vật liệu thí nghiệm 24
3.2.2. Thiết bị và dụng cụ thí nghiệm 25
3.3. Phương pháp thí nghiệm 26
3.3.1. Thí nghiệm sơ bộ: Xác định ẩm độ ban đầu của nguyên liệu 26
3.3.2. Thí nghiệm 1: Nghiên cứu tạo màng phân hủy sinh học từ tinh bột sắn

nghiệm 2). 44
4.4. Tính cảm quan của màng polymer ở thí nghiệm 3 47
4.5. Ảnh hưởng của tỷ lệ glyoxal đến các tính chất cơ học của màng (thí
nghiệm 4). 50
4.6. Đánh giá độ bền giữa các màng tạo thành từ tinh bột sắn và tinh bột
biến tính acetate (thí nghiệm 5) 52
4.7. Ảnh hưởng của tinh bột biến tính acetate và tỷ lệ glyoxal đến khả năng
hút ẩm của màng so với tinh bột sắn (thí nghiệm 6) 53
4.8. Khả năng phân hủy trong đất ẩm (thí nghiệm 7) 55
4.9. Khả năng ghép mí và độ bền mí ghép (thí nghiệm 8) 56
4.10. Khả năng chống ẩm, chống thấm cho màng của phụ gia AKD (thí
nghiệm 9). 59
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 61
5.1. Kết luận 61
5.2. Đề nghị 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
PHỤ LỤC 65

v
TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu cải thiện khả năng chống ẩm của vật liệu
polymer thực phẩm trong sản xuất bao bì tự hủy” được tiến hành tại phòng thí nghiệm
I4, Bộ môn Công nghệ Hóa học, trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh,
thời gian từ tháng 6/2010 đến tháng 08/2011.
Nguồn nguyên liệu chính được sử dụng là tinh bột sắn (khoai mì), tinh bột sắn
biến tính ester hóa, PVA, sorbitol, glycerol, glyoxal và dung môi là nước.
Nghiên cứu tăng độ bền và khả năng chống ẩm cho màng sinh học với công thức

tương đối trong suốt, láng, bóng, dẻo, khả năng ghép mí tạo bao
bì rất tốt, phân rã tốt trong nước và phân hủy hoàn toàn trong đất ẩm sau 7 ngày. Tuy
nhiên độ ổn định ẩm của màng chưa tốt, thay đổi nhanh theo ẩm độ môi trường. Ẩm
độ của màng càng cao độ bền của màng càng giảm, độ dẻo tăng lên, màng dính vào
nhau.
Nghiên cứu sơ bộ việc sử dụng phụ gia chống thấm ankyl ketene dimer (AKD)
trong ngành giấy cho thấy dung dịch hồ hóa không còn dính vào becher chứa và thiết
bị khuấy trộn, tăng độ bền trong nước cho màng, cải thiện tính cảm quan về màu sắc,
độ trong, nhưng vẫn chưa cải thiện đáng kể khả năng hút ẩm và thấm nước của màng.

vii
DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT
Am/Ap: amylose/amylopectin
TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam
AKD: Alkyl Ketene Dimer: keo chống thấm trong ngành giấy
ASA: Alkenyl Succinic Anhydride: keo chống thấm trong ngành giấy
ASTM: American Standard Testing Method
ISO: International Standard Oganization
PLA: Polylactic acid
PBS: Polybutylene succinate
PS: Polystyrene
PE: Polyethylene
PP: Polypropylene
PVC: Polyvinyl chloride
STT: Số thứ tự
DOP: Dioctinphtalate
PLA: polylactic acid

Hình 3.11. Mẫu cắt để đo độ bền kéo đứt 33
Hình 3.12. Máy phân tích cấu trúc với đầu đo cầu và đo độ bền đâm thủng bằng
đầu đo cầu…… 33
Hình 3.13. Cài đặt thông số cho quá trình đo 33
Hình 3.14. Dạng mẫu cắt để đo độ bền đâm thủng 34
Hình 3.15. Đo ẩm độ của màng trong điều kiện môi trường bình thường 38
Hình 3.16. Khảo sát khả năng phân hủy trong đất ẩm 39

Hình 4.1. Các màng tạo thành từ thí nghiệm 1 43
ix
Hình 4.2. Đồ thị so sánh giá trị đo đâm thủng bằng đầu đo cầu của các màng ở thí
nghiệm 2…… 45
Hình 4.3. Đồ thị so sánh giá trị đo kéo đứt của các mẫu màng ở thí nghiệm 4 46
Hình 4.4. Các màng tạo thành từ thí nghiệm 3 48
Hình 4.5. Đồ thị so sánh giá trị đo đâm thủng bằng đầu đo cầu của các màng ở thí
nghiệm 4… 50
Hình 4.6. Đồ thị so sánh giá trị đo kéo đứt của các mẫu màng ở thí nghiệm 4 51
Hình 4.7. Đồ thị tương quan độ bền đâm thủng giữa tinh bột sắn – tinh bột acetate52
Hình 4.8. Đồ thị tương quan độ bền kéo đứt giữa tinh bột sắn – tinh bột acetate 53
Hình 4.9. Đồ thị so sánh giá trị ẩm độ các màng ở điều kiện thường 54
Hình 4.10. Đồ thị so sánh giá trị ẩm độ các màng ở điều kiện thường 54
Hình 4.11. Kết quả kiểm tra khả năng phân hủy trong đất ẩm 55
Hình 4.12. Mẫu màng đã được ghép mí để đo độ bền mí ghép 56
Hình 4.13. Đo độ bền mí ghép 56
Hình 4.14. Kết quả đo độ bền mí ghép 57
Hình 4.15. Màng được ghép mí tạo thành bao bì 57
Hình 4.16. Đo khả năng chứa đựng của bao bì tạo thành 58

Bảng 4.9. Bảng kết quả đo độ bền kéo đứt ở thí nghiệm 4 51
Bảng 4.10. Bảng giá trị ẩm độ của các màng trong điều kiện thường 53
Bảng 4.11. Bảng giá trị ẩm độ của các màng trong điều kiện thường 54
Bảng 4.12. Bảng giá trị độ ẩm của các màng có bổ sung AKD và màng đối
chứng……… 59

1
Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Các sản phẩm polymer từ hóa dầu với rất nhiều tính năng ưu việt, giá thành rẻ,
khả năng sử dụng phổ biến, thuận tiện, đã và đang đóng vai trò quan trọng trong đời
sống hằng ngày. Chúng đáp ứng hầu hết các nhu cầu của con người từ đơn giản đến
phức tạp như làm túi xách, bao bì bao gói sản phẩm, màng phủ đất nông nghiệp, túi
làm bầu ươm cây, vật liệu dùng trong y học… Tuy nhiên, chúng lại là mối nguy hại
tiềm ẩn cho môi trường sinh thái vì phải mất đến hàng thế kỷ mới tự phân hủy. Chỉ có
những tác động về cơ và nhiệt mới có thể phá hủy chúng, nhưng lại tạo ra nhiều chất
độc hại hơn và đòi hỏi chi phí khổng lồ, vượt qua cả giá thành tạo ra chúng. Hoạt động
tái chế cần đầu tư thiết bị máy móc đắt tiền, hiệu quả kinh tế thấp.
Trước thực trạng này, từ những năm 1980, nhiều nước trên thế giới đã bắt đầu
nghiên cứu những dạng vật liệu tương ứng tính năng của polymer truyền thống để thay
thế. Đó chính là polymer có khả năng phân hủy sinh học mà khi gặp tác động của
nước, không khí, nấm, vi khuẩn trong tự nhiên, chúng sẽ tự phân hủy thành những chất
đơn giản, có lợi cho đất và không gây độc hại cho môi trường.
Nguyên liệu để sản xuất các loại polymer phân hủy sinh học hiện nay chủ yếu lấy
từ tinh bột. Và để không làm ảnh hưởng đến vấn đề an ninh lương thực thì tinh bột sắn
là sự lựa chọn thích hợp nhất với điều kiện nước ta. Mặc dù đã có nhiều loại bao bì

 Thử nghiệm sử dụng phụ gia chống thấm AKD trong ngành giấy vào việc
chống thấm, chống hút ẩm cho màng.
 Chế tạo bao bì thử nghiệm và đánh giá khả năng ứng dụng trong đời sống.
1.4. Yêu cầu của đề tài
 Đánh giá được ảnh hưởng của loại tinh bột nguyên liệu dùng làm màng đến
độ bền và khả năng hút ẩm của màng.
 Tìm ra được quy trình sản xuất màng sinh học có thể làm bao bì.
 Sản xuất thử bao bì sinh học thay thế bao nylon.
 Bao bì phải có tính bền, dẻo, khả năng hút ẩm kém, không bị độ ẩm của vật
liệu làm hỏng, rách bao bì.
 Bao bì phải phân hủy tốt trong môi trường đất.

3
Chương 2
TỔNG QUAN
2.1. Tổng quan về bao bì
2.1.1. Khái niệm bao bì
Theo Tổng cục Tiêu chuẩn – Đo lường – Chất lượng số 23 TĐC/QĐ ngày 20
tháng 02 năm 2006:
“Bao bì là vật chứa đựng, bao bọc thực phẩm thành đơn vị để bán (bán lẻ và bán
sỉ). Bao bì có thể bao gồm nhiều lớp bao bọc, có thể phủ kín hoàn toàn hay chỉ bao bọc
một phần sản phẩm”.
Theo Wikipedia:
“Bao bì là một ngành khoa học, nghệ thuật và kỹ thuật của việc chứa đựng và bảo
vệ sản phẩm để phân phối, tồn trữ, buôn bán và sử dụng”.
2.1.2. Chức năng của bao bì
Tập hợp, chứa đựng

(Nguồn: công ty Công trình đô thị - thị xã Sóc Trăng)
STT
Hàm lƣợng
Tỷ lệ trung bình, %
1
Rác hữu cơ
80 %
2
Bao bì nhựa, nylon
5 – 7 %
3
Hàm lượng khác
11 – 13 %

Theo thống kê của Quỹ Tái chế thuộc Sở Tài nguyên – Môi trường thành phố Hồ
Chí Minh, hiện nay trung bình mỗi ngày thành phố Hồ Chí Minh thải ra môi trường
khoảng 50 tấn túi nylon, phần lớn trong số này là túi nylon không phân hủy sinh học.
Không chỉ sử dụng nhiều túi nylon, mà một bộ phận không nhỏ người dân thành
phố còn có hành vi ứng xử rất xấu trong việc xả thải túi nylon. Phòng Quản lý chất
thải rắn thuộc Sở Tài nguyên – Môi trường cho hay, rác là túi nylon hiện chỉ chiếm
khoảng 5 – 7 % trên tổng lượng rác thải được ghi nhận “đổ về” tại các bãi rác của
thành phố. Trong khi lượng rác thải ở các bãi rác của thành phố hiện vào khoảng 7.000
tấn/ngày. Như vậy mới chỉ có khoảng 35 – 40 tấn túi nylon được tập trung về các bãi
rác. Số túi nylon còn lại hẳn đã bị vứt bừa bãi xuống sông, kênh, rạch, ….
5

Hình 2.1. Bao nylon trên một kênh tại quận Tân Phú, ảnh chụp chiều 12/3/2009

nghẽn cống rãnh, làm ứ đọng nước thải, phát sinh ruồi, muỗi, dịch bệnh, phá hủy mỹ
quan và hệ sinh thái đô thị. Nằm lẫn trong đất, sẽ cản trở sự sinh trưởng và phát triển
của cây trồng bởi vì nylon rất khó phân hủy,

Hình 2.2. Một dòng kênh đầy bao nylon, một trong những nguyên nhân gây ô
nhiễm môi trường ở TP. Hồ Chí Minh
(Nguồn: http://www.tin247.com)
Nguy hiểm hơn, nếu đốt không đúng cách, nylon sẽ phát thải nhiều loại khí độc,
đặc biệt là dioxin – thứ chất độc mà nhân loại đang tiến hành loại trừ theo Công ước
Stockholm về bảo vệ môi trường.
Người ta tính rằng, vứt bỏ một túi nylon chỉ tốn 1 giây, nhưng nếu không có sự
tác động bởi nhiệt độ cao của ánh sáng mặt trời thì phải mất từ 500 năm đến 1000 năm
mới có thể phân hủy được. Tuy nhiên, nếu đốt nylon không đúng cách sẽ gây ô nhiễm
môi trường, nguy hại đến sức khỏe con người, động vật.
Theo các nhà khoa học, trong một số loại túi nylon có lẫn lưu huỳnh, dầu hỏa
nguyên chất, khi bị đốt cháy, gặp hơi nước sẽ tạo thành acid sulfuric dưới dạng các
7
cơn mưa acid, rất có hại cho phổi người và động vật. Tệ hơn, túi nylon làm bằng nhựa
PVC có chứa chlor, khi cháy tạo ra chất dioxin và hydrochloric acid vô cùng độc hại.
2.2. Polymer tự hủy sinh học
2.2.1. Khái niệm
Polymer tự hủy sinh học là những polymer có khả năng tự phân hủy nhờ vào sự
hỗ trợ của vi sinh vật trong tự nhiên, không đòi hỏi năng lượng, không tạo ra các chất
độc hại cho môi trường mà vẫn đảm bảo được các tính năng của polymer truyền thống.
Sự phân hủy sinh học là một quá trình tự nhiên, trong đó các chất hữu cơ được
chuyển thành những hợp chất đơn giản hơn, không làm ô nhiễm môi trường. Sự phân
hủy sinh học có thể xảy ra trong sinh quyển khi các vi sinh đóng vai trò trung tâm

trong các chu kỳ sinh trưởng của các cơ thể sống. Việc tổng hợp chúng chủ yếu là sự
trùng hợp từ các monomer xúc tác hoạt hóa bằng enzyme. Các monomer này được
hình thành một cách đặc thù nội trong các tế bào nhờ các quá trình trao đổi phức tạp.
(Phạm Ngọc Lân, 2006).
Các polymer tự phân hủy sinh học tự nhiên chủ yếu như polysaccharide (tinh bột,
cellulose, chitin/chitosan), alginate, gelatine, …
2.2.3.2. Các polyester phân hủy sinh học
Polyester đóng vai trò áp đảo trong chế tạo nhựa phân hủy sinh học nhờ có chứa
các liên kết ester dễ bị thủy phân. Polyester có hai nhóm chính đó là polyester mạch
thẳng và polyester vòng thơm.
Các polyester phân hủy sinh học chủ yếu: PLA, PBS, PBAT, PHB, PHV, PCL…
Các polymer phân hủy sinh học khác:
Polymer tan trong nước: PVA, EVOH.
Nhựa phân hủy quang.
Hạt phụ gia kiểm soát phân hủy.
Polymer có mạch chính dễ bị thủy phân: polyester, polyamide, polyuretane và
polyurea, polyanhydride, polyamide – enamide.
Polymer có mạch chính chứa carbon: polyvinyl.
Acetate, polyacrylate.
2.2.4. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc và trên thế giới về các loại polymer tự
phân hủy sinh học
 Trên thế giới
Theo Tạp chí công nghiệp hóa chất số 06/2007, năm 2005 sản lượng polymer
sinh học trên toàn thế giới đạt khoảng 52 nghìn tấn.
Theo kết quả nghiên cứu của Business Communication – một tổ chức hàng đầu
trong nghiên cứu thị trường, dự báo đến năm 2010, sản lượng polymer sinh học toàn
cầu có thể lên đến 94 nghìn tấn, với tốc độ tăng trưởng hơn 12 %/năm trong 5 năm tới.
9
cho kết quả: màng polymer tự phân huỷ 100 % sau 4 tháng sử dụng. Triển vọng thị
trường nội địa là rất lớn.
10
Công ty cổ phần văn hóa Tân Bình (ALTA) đã sản xuất được bao bì nhựa tự hủy
sinh học theo công nghệ nước ngoài. Năm 2003, công ty ALTA đã sản xuất và xuất
khẩu mặt hàng này qua các nước Ý, Đức, Anh, Pháp theo đơn đặt hàng của khách
hàng. Trong 6 tháng đầu năm 2005, công ty ALTA đã xuất khẩu được 30 tấn bao bì
nhựa tự hủy.
Trong những năm gần đây, có khá nhiều doanh nghiệp bắt tay vào sản xuất bao bì
không gây ô nhiễm môi trường. Cụ thể, cuối năm 2005, công ty cổ phần văn hoá Tân
Bình đầu tư sản xuất bao bì nhựa tự hủy theo công nghệ hiện đại của Canada. Kế tiếp
là công ty Phú Hoà (Bến Tre) ra mắt các sản phẩm bao bì không gây ô nhiễm môi
trường tận dụng từ nguồn phế liệu bã mía, xơ dừa bỏ lại sau thu hoạch.
Gần đây nhất là công ty cổ phần Công nghệ mới (Long Biên, Hà Nội) đã ra mắt
sản phẩm bao bì tự hủy được làm từ nhựa PE, PP, PVC trộn thêm các phụ gia tự hủy là
các polymer sinh học.
Một số trường đại học cũng đã nghiên cứu và tìm ra các loại vật liệu tạo thành
màng sinh học có thể phân hủy hoàn toàn. Cụ thể, trường Đại học Khoa học tự nhiên –
Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh đã tạo ra một loại vật liệu sản xuất bao bì tự
hủy hoàn toàn trong môi trường tự nhiên. Hàm lượng của màng là tinh bột sắn kết hợp
với PVA và chất độn là khoáng sét phân tán ở kích thước nanomet.
Năm 2008, Bộ Môn Công Nghệ Hóa Học trường ĐH Nông Lâm có một số đề tài
nghiên cứu về màng polymer sinh học và đã tạo ra được màng sinh học có nhiều triển
vọng trong các ứng dụng thực tế. Ví dụ như Phan Thị Ngọc Hường – Trần Thuỳ Trang
(2008) tạo ra màng sinh học có nguồn gốc từ tinh bột kết hợp với lòng trắng trứng có
bổ sung thêm PVA để tăng tính bền dẻo cho màng và kết hợp thêm đất sét làm tăng
tính bền cơ học. Nguyễn Ngọc Hoá (2008) với màng polymer tự hủy sinh học trên cơ

trên toàn thế giới.
Tinh bột sắn có màu rất trắng. Trong quá trình sản xuất nếu củ được nghiền khi
chưa bóc vỏ thì tinh bột thu được thường có màu tối. Màu xám của tinh bột sắn ảnh
hưởng tới chất lượng cũng như giá thành sản phẩm. Củ sắn và tinh bột sắn có pH trong
khoảng 6,0 – 6,3.
Quan sát bằng SEM, hạt tinh bột sắn có kích thước từ 5 đến 40 µm với những hạt
lớn từ 25 – 35 , hạt nhỏ từ 5 – 15 và nhiều hình dạng, chủ yếu là hình tròn, bề mặt
nhẵn một bên mặt, có chỗ lõm hình nón và một núm nhỏ ở giữa.
12

Hình 2.3. Cấu trúc hạt tinh bột sắn quan sát trên kính hiển vi điện tử quét SEM
Tinh bột sắn có hàm lượng amylopectin và phân tử lượng trung bình tương đối
cao, 215000 g/mol so với 30500, 13500, 224500, và 276000 g/mol tương ứng ở
amylose của ngô, tinh bột lúa mì, tinh bột lúa mì, khoai tây và bắp sáp. Hàm lượng
amylose trong tinh bột sắn khoảng 8 – 29 %, nhưng nói chung đa số các giống sắn có
tỷ lệ amylose từ 16 – 18 %. Tinh bột sắn có tính chất tương tự tinh bột giàu
amylopectin như có độ nhớt cao, xu hướng thoái hóa thấp và độ bền gel cao. Hàm
lượng amylose và amylopectin trong tinh bột sắn liên quan tới độ dính của củ nấu chín
và nhiều tính chất trong các ứng dụng công nghiệp.
Tinh bột sắn có nhiệt độ hồ hóa trong khoảng 58,5 – 70
o
C so với 56 – 66
o
C ở
khoai tây và 62 – 77
o
C ở tinh bột ngô. Việc tạo ra các dẫn xuất của tinh bột nhờ các

Các polymer phân hủy sinh học trên cơ sở tinh bột bao gồm:
Tinh bột nhiệt dẻo.
Blend tinh bột với polyester tổng hợp mạch thẳng, no.
Blend tinh bột / PVA.
2.3.1.4. Các loại tinh bột biến tính và ứng dụng
Các loại tinh bột tự nhiên đã được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành công
nghiệp. Các ứng dụng khác nhau đòi hỏi những đặc tính khác nhau của tinh bột. Ngoài
ra, do sự cải tiến công nghệ sản xuất và sự phát triển liên tục các sản phẩm mới, nhu
cầu nghiêm ngặt hơn đối với các đặc tính và tính phù hợp sử dụng của tinh bột được
đặt ra. Các thuộc tính của tinh bột tự nhiên không đáp ứng đủ yêu cầu trong các ứng
dụng và gia công. Hậu quả là, cần thiết phải biến đổi các đặc tính của tinh bột để nhận
được loại tinh bột có những tính năng đáp ứng yêu cầu.
Công nghệ biến đổi tinh bột là nhờ vào các phương pháp chuyển đổi hoá học , vật
lý hoặc enzyme qua việc cắt các liên kết, định hình lại, oxy hoá hoặc thay thế hoá học
trong phạm vi hạt tinh bột để làm thay đổi các đặc tính của tinh bột tự nhiên cho ra sản
phẩm tinh bột biến đổi có các tính năng tốt hơn.
14
Các loại tinh bột biến tính này có ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực sau: công
nghệ dệt, bột và giấy, thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, nghề đúc, dược phẩm và khoan
dầu.
 Tinh bột acetate:
Bằng cách cho tinh bột tự nhiên phản ứng với anhydride acetic hoặc vinyl
acetate, thu được sản phẩm tinh bột acetate (hay còn gọi là tinh bột acetyl hoá).
Các nhóm ester có tác dụng ngăn ngừa sự thoái biến của nhóm amylose trong
tinh bột. Sự biến đổi này ngăn chặn tự tạo gel, sự rỉ nước và duy trì ngoại quan cấu
trúc của sản phẩm gia công. Nó cũng cải thiện độ ổn định sau quá trình đông lạnh-rã
đông, cải thiện khả năng giữ nước và hạ thấp nhiệt độ hồ hoá của tinh bột, làm tăng độ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status