Ô NHIỄM THỰC PHẨM - ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT - Pdf 26

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

Khoa KỸ THUẬT HÓA HỌC
Bộ môn: CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
 Đề tài:
Ô NHIỄM THỰC PHẨM -
ẢNH HƯỞNG CỦA THUỐC BẢO
VỆ THỰC VẬT

Giảng viên HD: Phan Ngọc Hòa
Sinh viên: Nguyễn Đức Thiện 61103366
Nguyễn Đăng Nhân 61102361
Võ Thanh Tùng 61104192
Lớp: HC11TP

Tháng 9/2013

2


5 1. Giới thiệu chung về thuốc bảo vệ thực vật
5 1.1. Sự ra đời của thuốc bảo vệ thực vật
5 1.1.1. Khái niệm thuốc bảo vệ thực vật
5 1.1.2. Trên thế giới
6 1.1.3. Ở Việt Nam
6 2. Phân loại thuốc bảo vệ thực vật
6 2.1. Phân loại theo nhóm chất hóa học
7 2.2. Phân loại theo nguồn gốc
7 2.3. Phân loại theo con đường xâm nhập
8 2.4. Phân loại theo tính độc của thuốc
9 3. Đặc tính sinh, hóa học của một số nhóm thuốc bảo vệ thực vật
9 3.1 Nhóm Clo hữu cơ
10 3.2 Nhóm Phosphor hữu cơ
12 3.3 Nhóm Carbamate
12 3.4 Nhóm Pyrethrum và Pyrethroids
14 4. Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật
14 4.1 Con đường phát tán thuốc bảo vệ thực vật trong môi trường
15 4.2. Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật đến con người
15 4.2.1 Các con đường nhiễm độc hóa chất BVTV.
15 4.2.2 Nhiễm độc thuốc trừ sâu do nghề nghiệp
16 4.2.3 Nhiễm độc cấp tính và mãn tính
18 4.2.4 Đối với trẻ em
19 4.2.5 Nguy cơ phát tán ra môi trường
20 4.2.6 Những nguy cơ liên quan đến chế độ ăn uống
21 5. Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam:
21 5.1 Thực trạng của vấn đề:
22 5.2 Nguyên nhân của việc lạm dụng thuốc và sử dụng không hợp lí thuốc bảo vệ thực vật:

nhóm đó. Thuốc bảo vệ thực vật nhiều khi còn dược gọi là thuốc trừ hại (Pesticide) và khái
niệm này bao gồm cả thuốc trừ các loại ve, rệp hại vật nuô và trừ côn trùng hại cây, thuốc
điều hòa sinh trưởng cây trồng.

1.1.2. Trên thế giới
Khi con người bắt đầu canh tác nông nghiệp và có sự đấu tranh với dịch hại để bảo vệ
mùa màng thì một số biện pháp phòng trừ dịch hại đã hình thành. Chính vì vậy, lịch sử của
thuốc bảo vê thực vật có từ rất lâu đời (cách nay khoảng 10000 năm).
Vào khoảng năm 2500 BC (trước CÔng nguyên), hợp chất lưu huỳnh được sử dụng để
diệt côn trùng và nhện.
Năm 1500 BC, có hợp chất để diệt bọ chét trong nhà.
Năm 1200 BC, Trung Quốc đã có thuốc xử lí hạt giống.
Năm 900 AD (sau Công Nguyên), người ta dùng arsenic sulfides để trừ côn trùng
trong vườn.
Thế kỉ thứ IV, người ta xử lí hạt lúa bằng Arsen trắng.
Từ cuối thế kỉ XVIII đến cuối thế kỉ XIX là thời kì cách mạng nông nghiệp châu Âu,
các hợp chất dùng để sản xuất thuốc trừ sâu, dịch hại chủ yếu là chất vô cơ như Arsen,
Selenium, Sulfur, Song lúc này chưa ai biết tính độc hại của nó.
Từ đầu thế kỉ XX, người ta bắt đầu sản xuất một số loại thuốc trừ sâu hiệu quả hơn và
tích cực hơn. Đó chính là hợp chất DDT thuộc nhóm Clor hữu cơ và năm 1939 và liên tục sau
đó là sự ra đời của các hợp chất hóa học khác. Trong vòng 25 năm sau đó, chúng được coi là
vị cứu tinh của con người trong việc diệt trừ sâu bệnh gây hại và tang nông sản.
Năm 1940, người ta tổng hợp nên các hợp chất có nguồn gốc lân hữu cơ.
Năm 1947, người ta tổng hợp nên hợp chất có nguồn gốc Carbamate.
Năm 1970, phát hiện ra thuốc chứa hợp chất Pyrethroide.
Hiện nay, thuốc trừ sâu tồn tại được 3 thế hệ, tính độc hại của thế hệ sau thấp hơn thế
hệ trước.


7 - Gốc phosphor hữu cơ (lân hữu cơ)

Hình 3: Gốc phospho hữu cơ trong thuốc bảo vệ thực vật
Từ những năm 40 và năm 50 các thuốc bảo vệ thực vật có gốc lân hữu cơ bắt đầu dược
sử dụng. Dẫn xuất từ các acid phosphoric, trong công thức chứa P,H,C,O,S… có khả năng
diệt trừ các loại sâu bệnh.

- Carbamate:

Hình 4: Gốc Carbamate trong thuốc bảo vệ thực vật
Thuốc có 2 đâc tính tốt là ít độc đối với dộng vật có vú và khả năng tiêu diệt côn trùng
rộng rãi. Nhiều Carbamate là lưu dẫn dễ hấp thụ qua lá, rễ, mức độ pahn6 dải trong cacy6
trồng thấp, tiêu diệt tuyến trùng mạnh mẽ.

- Pyrethroid và Pyrethrum (Cúc tổng hợp)
Pyrethrum được chiết xuất từ hao cúc, công thức hó học phứa tạp, diệt sau bọ chủ yếu
bằng dường tiếp xúc và tính độc tương dối mạnh, dễ bay hơi…Rau màu sau khi phun
Pyrethrum có thể ăn dược sau vài ngày.

2.2. Phân loại theo nguồn gốc
- Vô cơ
- Thảo mộc
- Hữu cơ tổng hợp: Clo hữu cơ, Carbamate…
- Các chất điều hào sinh trưởng côn trùng
- Vi sinh vật: Nấm, Vi khuẩn, Virus Protoazoa (động vật đơn bào)


lỏng
Ia - Độc mạnh "Rất độc" (chữ
đen, nền đỏ)
Đầu lâu, xương chéo (đen
trên nền trắng)
5
20
10
40
Ib - Độc "Độc" (chữ đen, nền
đỏ)
Đầu lâu, xương chéo (đen
trên nền trắng)
5-50
20-200
10-100
40-400
II - Độc trung bình "Có hại"
(chữ đen, nền vàng)
Chữ thập đen trên nền
trắng
50-500
200-
2000
100-
1000
400-
4000
III - Độc ít "Chú ý" (chữ đen,
nền xanh dương)

50-500
200-2000
III - "Cẩn thận" (chữ đen, vạch màu
xanh nước biển)
Vạch đen không liên tục trên
nền trắng
>500
>2000 9

3. Đặc tính sinh, hóa học của một số nhóm thuốc bảo vệ thực vật
3.1 Nhóm Clo hữu cơ
Nhóm Clo hữu cơ bao gồm những hợp chất hóa học rất bền vững trong môi trường tự
nhiên đất và nước, với thời gian bán phân hủy rất dài, được xếp vào loại độc tính loại I và loại
II. Các chất này tích lũy trong chuỗi thức ăn của hệ sinh thái, trong các mô dự trữ của sinh vật
và rất ít được đào thải ra ngoài. Hợp chất này rất bền vững trong tự nhiên như kim loại nặng.
Trong nhóm Clo hữu cơ có các nhóm thuốc sau:
- Nhóm DDT và các chất liên quan
Nhóm này có các đại diện như DDT, DDD (TDE), Methoxychlor, Ethylen,
Dicofo,Chlorobenzilate. Hai đặc tính cơ bản của DDT và chất chuyển hóa của nó DDE
là:
Bền vững trong môi trường, không bị phân hủy bởi VSV, men, nhiệt, và UV.
Tích lũy và phóng đại sinh học trong chuỗi thực phẩm, chủ yếu tích lũy trong
mô mỡ động vật.
Các nhóm thuốc này có tính độc thần kinh, làm chúng không còn dẫn truyền
thần kinh được nữa. Trong nhóm này, nhà nước Việt Nam đã cấm sử dụng DDT và
hạn chế Dicofo (Kenthal) vào tháng 5 năm 1996.
- Hexachlorcyclohexan (HCH)

Nhóm Polychlorterpene chỉ có chất là Toxaphene (1947) và Strobane (1951). Trong
nông nghiệp, Toxaphene được dùng rất nhiều, dung ở dạng đơn độc, hoặc phối hợp với
DDT hoặc Metul Parathion. Toxaphene là hỗn hợp gồm 177 chất dẫn xuất chlohoal của
hợp chất 10 carbon. Thành phần cực độc của hỗn hợp Toxaphene này là Toxacant A, chỉ
chiếm 3% trong hỗn hợp kỹ thuật. Chật này độc gấp 18 lần trên chuột, 6 lần trên ruồi và
36 lần trên cá vàng so với hỗn hợp Toxaphene kỹ thuật.
Các loại thuốc này lưu lại trong đất nhưng không bằng Cyclodiene, và thường biến mất
khỏi bề mặt thực vật sau khi phun thuốc hai hay ba tuần. Sự mất đi chủ yếu là do bay hơi
hơn là do biến dưỡng hoặc do quang phân giải. Thuốc dễ bị biến đổi trong cơ thể động vật
hoặc loài chim, không tồn lưu trong mô mỡ. Tuy ít độc cho côn trùng, động vật có vú và
chim, thuốc lại rất độc đối với cá (tương tự như Toxaphene). Cơ chế gây độc cũng tương
tự như Cylodiene.
Ở Mỹ, Toxaphene đã bị cấm vào năm 1993. Trong nhóm này, Việt Nam đã cấm sử
dụng Toxphene và Strobane vào tháng 5 năm 1996.
3.2 Nhóm Phosphor hữu cơ
Nhóm thuốc trừ sâu này gây tác động đến hệ thần kinh và ngộ độc cấp tính rất mạnh
mẽ, làm ngăn cản sự hình thành của các men cholinestera làm thần kinh hoạt động kém, teo
cơ, gây choáng váng và tử vong. Phosphor hữu cơ có độ phân giải rất nhanh, không tích lũy
trong cơ thể sinh vật nhưng ngược lại có thể gây ngộ độc cấp tính và nguy hiểm, dễ dàng gây
tử vong đối với người khi bị nhiễm thuốc với liều lượng nhỏ và nhất là đối với một số loài
chân đốt và các loài thủy sinh như cá, loài hữu nhũ, chim…
Nhóm này dễ bị thủy phân hơn nhóm Clo hữu cơ nên khó xác định được tồn tại của nó
trong môi trường nước. Phosphor hữu cơ được sử dụng nhiều nhất (90% khối lượng, trong khi
đó Clo hữu cơ chỉ có 5%). Các chất này được xếp vào loại độc Ia và Ib. Độc nhất là Systox kế
đến là Thinoc, Wofatox Thiphos. Wofatox được đánh giá là độc hơn DDT (gấp hàng chục
lần). Nông dân thường dùng Methamidophos để phòng trừ sâu cuốn lá, sâu phao, sâu keo và
sâu đục thân.
Trong những năm gần đây, các loại Methyl Parathon, Azodrin, Dichlorvos,
Methamidophos (Monitor), Monocrotophos, Dicrotophos, Phosphamidon cũng đã được đưa
vào

ở Việt Nam.
- Các dẫn xuất Phenyl
Các thuốc nhóm này có một phenyl gắn vào phân tử acid phosphoric, các vị trí còn lại
của phân tử acid phosphoric thường mang các nhóm Cl, NO
2
, CH
3
, CN hoặc S. Các
phosphor phenyl thường bền hơn các phosphor hữu cơ Aliphatic, do đó dư lượng trong
môi trường cũng cao hơn.
12

Parathion là một phosphor hữu cơ phenyl quen thuộc nhất và là chất phosphor hữu cơ
thứ nhì được đưa vào dùng trong nông nghiệp từ năm 1947 (sau TEPP). Ethyl Parathion là
dẫn xuất phenyl đầu tiên được sử dụng rộng rãi nhưng so quá độc nên đã bị cấm sử dụng ở
Việt Nam từ tháng 5 năm 1996 (ở Mỹ cấm từ năm 1991).
Năm 1949 Methyl Parathion (hiện đã bị cấm sử dụng) xuất hiện và tỏ ra ưu việt hơn
Ethyl Parathion ở chỗ nó ít độc cho gia súc và người, đồng thời tiêu diệt được nhiều côn
trùng. Độ tồn lưu của nó cũng ngắn hơn Ethyl Parathion. Có hai loại dẫn xuất phenyl khác
Profenofos và Sulprofor đều có phổ tiêu diệt rộng và hiện nay được dùng cho các loại hoa
khác nhau.
- Các dẫn xuất dị vòng
Trong phân tử, các thuốc dị vòng các cấu trúc vòng có nhiều carbon bị oxygen hoặc
nitro thế chỗ. Chất đầu tiên trong nhóm này là Diazinom, xuất hiện năm 195. Diazinon là
một chất tương đối khá an toàn và có nhiều công dụng. Azinphosmethyl là chất thứ hai ra
đời sau Diazinon vừa là thuốc diệt nhện. các thuốc khác là Chlorpyrifos, Methidathion,
Phosmet và Pirimiphos, Isazophos, Chlorpyifos-methyl, azinphod-ethyl, phosalon…
Các phosphor hữu cơ dị vòng là những phân tử phức tạp và thường có tính tồn lưu cao
hơn so với các phosphor hữu cơ thuộc nhóm aliphatic và phenyl. Vì phân tử thuốc dị vòng
phức tạp nên khi phân rã sẽ tạo ra nhiều sản phẩm khó có thể xác định hoàn toàn chính

ánh sáng. Gần nay nhiều chất lượng tương tự như Pyrethrum đã được tổng hợp và gọi là
Pyrethroids. Các Pyrethroids bền với ánh sáng và có phổ tiêu diệt côn trùng rộng, sử dụng với
liều thấp. Các Pyrethroids có 4 thế hệ:
- Thế hệ thứ nhất:
Thế hệ này chỉ có một chất là Allethrin (Pynamin), được thương mại hóa vào 1949.
Allethrin là một chất tổng hợp giống hệt Cinerin I (là một thành phần của Pyrethrum) có
các dãy nhánh tương đối ổn định và bền hơn Pyrethrum.
- Thế hệ thứ hai:
Thế hệ thứ hai gồm có Tetramethrin (Neo-Pynamin) ra đời năm 1965. Thuốc có tác dụng
tiêu diệt nhanh hơn Allethrin và có thể phối hợp dễ dàng với các chất cộng hưởng (synergist).
Resmethrin xuất hiện vào năm 1967, hiệu lực hơn Pyrethrum gấp 20 lần (thí nghiệm trên ruồi
nhà), Bioresmethrin là một chất đồng phân của resmethrin hiệu lực hơn Pyrethrum gấp 50 lần.
Cả hai chất này đều bền hơn Pyrethrum nhưng bị phân hủy nhanh chóng trong không khí và
ánh sáng, do đó khó mở rộng sử dụng vào nông nghiệp. Bioallethrin (d-trans-allethrin) được
giới thiệu vào năm 1969, tác dụng mạnh hơn Allethrin và dễ pha trộn với các chất hợ- lực
nhưng không hiệu quả bằng Resmethrin . Chất cuối cùng trong hệ này là Phenonthrin
(Sumithrin), xuất hiện vào năm 1973, chất này có độc lực trung bình và hơi tăng hiệu lực khi
trộn với các chất hợp lực.
- Thế hệ thứ ba:
Thế hệ thứ ba gồm có các Fenvalerate (Pydrin, Tribute) và Permethrin (Ambush,
Dranet, Pouce, Pramex, Torpedo), xuất hiện vào năm 197 – 1973. Các chất này dùng nhiều
trong nông nghiệp vì có hoạt tính diệt côn trùng cao và bền với ánh sáng. Thuốc không bởi
ảnh hưởng UV và ánh sáng, tồn tại 4 – 7 ngày trên mặt đá.
- Thế hệ thứ tư
Thế hệ thứ tư hiện nay có nhiều tính độc đáo, chúng có hiệu lực tiêu diệt với nồng độ
chỉ bằng 1/10 các loại thuốc thế hệ thứ ba. Gồm có các thuốc sau: Bifenthrin (Talsfar), Lamda
Cyhalothrin (Karate, Force), Cypermethrin (Ammo, Cymbush, Cynoff), Cyfluthrin
(Baythroid), Deltamethrin (Decis), Esfenvalerate (Asana XL), Fenpropathrin (Danitol),
Flucithrynate (Pay-off), Fluvalinate (Mavrik, Spur), Tefluthrin, Praleethrin (Eto), và
Tralomethrin (Scout). Tất cả những chất trên đều bền với ánh sáng, rất ít bay hơi nên tồn lưu

trừ sâu trong đất, dưới tác động của mưa và rửa trôi tích lũy, lắng đọng trong lớp bùn đáy ở
sông, hồ, ao,… sẽ làm ô nhiễm nguồn nước. Thuốc trừ sâu có thể phát hiện trong các giếng,
ao, hồ, suối cách nơi sử dụng thốc trừ sâu vài km.
Thuốc trừ sâu phun lên cây trồng thì trong đó có đến khoảng 50% rơi xuống đất, sẽ tạo
thành lớp mỏng trên bề mặt, một lớp lắng, gọi là dư lượng gây hại đáng kể cho cây trồng. Sự
lưu trữ của thuốc trừ sâu trong đất là yếu tố quan trọng để đánh giá khả năng gây ô nhiễm môi
trường.
4.2. Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật đến con người
4.2.1 Các con đường nhiễm độc hóa chất BVTV.
Các vấn đề sức khỏe liên quan đến thuốc BVTV kết quả của quá trình tiếp xúc, chủ
yếu thong qua một hoặc một số con đường sau:
+ Hệ tiêu hóa
+ Hệ hô hấp
+ Da
Các con đường nhiễm độc rất khác nhau đối với từng loại hóa chất. Ví dụ, dichlorvos
(DDVP) dễ bay hơi và dễ nhiễm qua đường hô hấp, endosulfan gây độc khi nhiễm qua da
hơn là qua đường hô hấp, còn chlorpyrisfos lại dễ gây nhiễm qua đường tiêu hóa hay đường
hô hấp hơn là qua da.
4.2.2 Nhiễm độc thuốc trừ sâu do nghề nghiệp
Công nhân làm việc tại nông trại và các nhà máy sản xuất thuốc BVTV đặc biệt chịu
rủi ro nhiễm độc do tiếp xúc với các loại hóa chất này. Những rủi ro như vậy thường xảy ra ở
các nước đang phát triển, nơi mà những nguy cơ ít được hiểu rõ về các quy định an toàn về
sức khỏe không nghiêm ngặt hoặc là ít có hiệu lực.
Việc nhiễm độc HCBVTV qua đường tiêu hóa có thể xảy ra ngẫu nhiên khi người
nông dân ăn, uống, hay hút thuốc khi đang phun thuốc BVTV hoặc sau khi phan thuốc một
thời gian ngắn mà không rửa tay. Nhiễm độc HCBVTV dễ xảy ra qua đường hô hấp khi phun
thuốc không có mặt nạ bảo vệ. Đồng thời thuốc BVTV có thể hấp thụ qua da nếu người phun
để da và quần áo ẩm ướt trong khi phun thuốc, trộn các thuốc BVTV bằng tay không hay đi
chân trần trên những cánh đồng khi đang phun thuốc.
16

Nhiễm độc mãn tính do tiếp xúc với thuốc BVTV trong thời gian dài bao gồm: suy
giảm trí nhớ và khả năng tập trung, mất phương hướng, suy nhược nghiêm trọng, dễ bị kích
động, rối loạn, đau đầu, nói khó, phản ứng chậm, hay gặp ác mộng, mộng du, thờ thẫn hoặc
mật ngủ.
Các nhà khoa học cũng đã ghi nhận các triệu chứng giống bệnh cảm như đau đầu,
buồn nôn, mệt mỏi, chán ăn và khó thở. Những thí nghiệm trên động vật cho thấy sự nhiễm
độc loại hóa chất bị cấm cholinesterase có thể gây ra những tổn hại cho gan, thận và não.
Dưới tác động đến người lớn hay trẻ nhỏ, hậu quả của việc nhiễm HCBVTV có thể chỉ
xuất hiện rất muộn sau nhiều năm, hay thậm chí tới tận thế hệ sau, gây ra nhựng khó khan
trong học tập, điều khiển hành vi ứng xử và khả năng sinh sản (ví dụ sớm dậy thì, mau lão
hóa) và tang khả năng mắc bệnh ung thư. Ngoài ra, còn có một số tác động lâu dài khác như
gây quái thai (cơ thể bị dị tật từ trong phôi thai) và đột biến gen (gây ra đột biến gen hoặc đột
biến nhiễm sắc thể).
Việc tiếp xúc với thuốc BVTV liều cao trong thời gian ngắn cũng có thể làm hại da,
chẳng hạn như chất chloracne gây bệnh nám da và làm thay đổi chức năng gan. Việc tiếp xúc
với thuốc BVTV lâu dài có lien quan đến sự giảm sút sự miễn dịch, ảnh hưởng đến quá trình
phát triển hệ thần kinh, tuyến nội tiết và chức năng sinh sản. Một số ví dụ: chất trơ độc hại o-
cresol có thể phá hủy gen, ethoxylated p-nonylphenol phá các hoc môn, ethyl benzene tác
động đến hệ thần kinh, naphthalene gây các bệnh thiếu máu, vàng da, o-phenylphenol, toluene
hydrocarbon muối Natri làm tang độc tính của xylene đối với hệ thần kinh.
18

4.2.4 Đối với trẻ em
Trong giai đoạn phát triển, cơ thể nhạy cảm hơn đối với các phản ứng do hóa chất phá
vỡ tuyến nội tiết vì một loạt các mô tách biệt dễ tổn thương trước sự thay đổi mức độ hoc
môn. Do đó, trẻ em có nguy cơ mắc bệnh do nhiễm độc cao hơn so với người lớn.
Trẻ em cũng có nguy cơ nhiễm thuốc BVTV. Chẳng hạn, trứng hoặc tinh trứng của
thế hệ bố mẹ bị nhiễm thuốc BVTV có thể truyền sang con. Cũng như vậy, những bào thai
đang phát triển có thể bị nhiễm thuốc bảo vệ thực vật từ máu mẹ do truyền qua nhau thai, và
trẻ em có thể bị nhiễm qua sữa mẹ khi sữa mẹ chứa lượng HCBVTV vượt mức cho phép.

trùng. Điều đáng nói là hệ thần kinh của côn trùng và động vật có vú về cơ bản là giống nhau,
khiến cho con người dễ bị tác động bởi các chất hóa học có nguy cơ gây chết người này.
19

Trong cả hai nhóm sinh vật, các thông điệp được truyền qua tế bào thần kinh thông
qua các xung điện. Khi các xung điện chạm vào đầu tế bào thần kinh, một tác nhân truyền tin
hóa học kích hoạt tế bào tiếp theo trong chuỗi.
Mỗi tác nhân tryền tin được giải phóng ra cơ thể bị phát hiện bởi tế bào nhận khi các
enzyme tồn tại, điều này phá hủy và loại bỏ các tác nhân truyền tin còn lại từ các dấu hiệu
trước. Một tác nhân truyền tin quan trọng là acetylcholine bị phá hủy bởi enzyme
acetylcholinesterase. Hai nhóm thuốc BVTV chính là lân hữu cơ (organophosphates) và
carbamates ngăn chặn acetylcholinesterase (gọi là chất kháng cholinesterase). Acetylcholine
tích lũy trong khớp thần kinh và gây ra sự tắc nghẽn thông tin, cản trở các thong điệp cụ thể di
chuyển tự do giữa các tế bào thần kinh. Tùy thuộc vào liều dung, các tác động có thể nhỏ hoặc
ở mức cao nhất gây tử vong.
4.2.5 Nguy cơ phát tán ra môi trường
Hầu hết các nghiên cứu về ảnh hưởng của thuốc BVTV đến sức khỏe mới chỉ xem xét
ảnh hưởng trên khía cạnh nghề nghiệp và tương đối ít đề cập tới những hiểm họa về sức khỏe
đối với cộng đồng. Ở vùng nông thôn El Salvador, một lượng chất chuyển hóa thuốc BVTV
lân hữu cơ đã được tìm thấy trong nước tiểu của 30% những chủ thể không tham gia hoạt
động nông nghiệp. Do đó, việc phát tán qua mội trường cũng như theo con đường nghề
nghiệp là một nguyên nhân gây ra các mối lo ngại cho sức khỏe cộng đồng, mặc dù rất khó để
chỉ ra mối lien hệ giữa các căn bệnh và sự phát tán ấy.
Những tác động phi nghề nghiệp của thuốc BVTV có thể ảnh hưởng tới sức khỏe con
người theo rất nhiều cách, ví dụ như các hóa chất lơ lửng trong không khí khi phun thuốc hay
tồn tại trong các loại thực phẩm, nước, đất, quần aó hay sữa mẹ… Một nghiên cứu gần đây
cho thấy, nhiễm thuốc BVTV clo hữu cơ đã được phát hiện 25 năm sau khi ngừng sử dụng ở
những trẻ sơ sinh. Do đó, chúng có thể gây ra những vấn đề lâu dài về sức khỏe.
Thuốc BVTV clo hữu cơ thường có khả năng chống lại sự thoái hóa, do đó chúng có
thể tồn tại lâu dài trong môi trường. Chúng có thể tích tụ trong mô mỡ của động vật và tích tụ
dần qua chuỗi thức ăn. Vì thế, có thể thấy những tác động nguy hại của chúng ở những mắt
xích cao nhất của chuỗi thức ăn, như các loại chim săn mồi hay con người. đây là lí do chủ
yếu tại sao việc sử dụng loại thuốc BVTV này ngày càng bị ngăn cấm, đặc biệt là ở các nước
công nghiệp hóa.
Quá trình nhiễm độc rất khó tránh vì điều kiện ở một số nước khiến cho việc mặc quần
áo bảo hộ hay đeo mặt nạ là không thể thực hiện được. Trong những tình huống như vậy, việc
thay quần áo sau khi phun HCBVTV có thể giảm thiểu các rủi ro. Một nghiên cứu của
Inđonêxia cho thấy, việc giặt quần áo ngay sau khi phun thuốc BVTV loại bỏ một lượng đáng
kể (96-97%) những tồn dư của thuốc.
5. Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở Việt Nam:
5.1 Thực trạng của vấn đề:
Thống kê của Viện Bảo Vệ Thực Vật Việt Nam, năm 1990 lượng thuốc bảo vệ thực
vật từ 10.300 tấn lên 33.000 tấn, đến năm 2003 tăng lên 45.000 tấn và năm 2005 là 50.000
tấn. Chưa dừng lại ở đó nhu cầu ngày càng tăng lên. Theo con số thống kê gần đây trên radio
đưa tin có tới 50 % nguồn thuốc bảo vệ thực vật và thuốc trừ sâu là từ TQ và nước ngoài.
Nguồn nguyên liệu tạo ra thuốc bảo vệ thực vật cũng được nhập khẩu chủ yếu từ nước ngoài.
Không chỉ tốn kém về mặt tiền bạc mà còn cho thấy nhu cầu tăng lên nguy cơ gây ô nhiễm
môi trường càng trở nên trầm trọng hơn. Và mức độ phụ thuộc của nông nghiệp vào hóa chất
bảo vệ thực vật cũng gia tăng theo.
Chè có tồn dư thuốc bảo vệ thực vật - nguy cơ mất thị trường. Một trong những khó
khăn hiện nay là tình trạng chè sản xuất không đúng quy trình. Hiệp hội Chè việt Nam cho
biết, mặc dù sản lượng và kim ngạch xuất khẩu chè năm 2012 của Việt Nam tăng so với năm
ngoái, nhưng hiện ngành chè vẫn phải đối mặt với tình trạng sản phẩm chè có tồn dư thuốc
bảo vệ thực vật. Vấn đề này đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới uy tín chè Việt Nam và nếu
không giải quyết triệt để sẽ dẫn tới nguy cơ mất thị trường xuất khẩu chè. Ông Đoàn Anh
Tuân, Chủ tịch Hiệp hội Chè Việt Nam cho biết, sản lượng chè năm 2012 của cả nước nước
đạt 150.000 tấn, tăng 15% so với năm 2011, kim ngạch xuất khẩu đạt 220 triệu USD. Việt
Nam là nước xuất khẩu lớn thứ 5 thế giới về mặt hàng chè. Tuy nhiên, một trong những khó


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status