SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT HOẰNG HOÁ 4
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI
RA ĐỀ BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VÀ GỢI Ý ĐÁP ÁN
THEO HƯỚNG MỞ.
Người thực hiện: Lê Xuân Toàn
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị cômg tác: Trường THPT Hoằng Hoá 4
SKKN thuộc lĩnh vực: Ngữ văn
THANH HOÁ NĂM 2013
1
MỤC LỤC:
Trang
A. Đặt vấn đề: …………………………………………………………………. 3
B. Giải quyết vấn đề ………………………………………………………… 5
I. Cơ sở lý luận ……………………………………………………………….5
II. Thực trạng vấn đề…………………………………………………………6
III. Các biện pháp tổ chức thực hiện ……………………………………… 7
IV. Kiểm Nghiệm …………………………………………………………….15
C. Kết luận và đề xuất………………………………………………………….16
I. Kết luận…………………………………………………………………….16
II. Đề xuất…………………………………………………………………….17
Tài liệu tham khảo …………………………………………………………… 18
2
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ra đề bài và làm bài là một trong những khâu quan trọng của nhà trường phổ
thông. Ra đề bài làm văn thế nào cho hay, là cả một sự trăn trở của những nhà giáo
tâm huyết với nghề dạy học. Thời gian qua, những đề văn quen thuộc đã trở nên
nhàm chán đơn điệu với các em học sinh. Dù xoay xở thế nào thì cũng chỉ quẩn
quanh những đề văn về tìm hiểu các tác phẩm văn chương, mở rộng ra một chút là
luận rút ra bài học cho bản thân. Thực tế cho thấy, một số học sinh chỉ dừng lại ở
việc làm rõ vấn đề nghị luận mà coi nhẹ khâu thứ hai vốn được coi là phần quan
trọng của bài văn nghị luận.
Các kỳ thi tốt nghiệp THPT và các kỳ thi tuyển đại học, cao đẳng những năm gần
đây, giáo viên và học sinh cần chú ý cách làm bài đối với dạng đề tổng hợp về các
giá trị văn chương, về tư tưởng đạo lý có tính chất mở thường trái ngược nhau,
chẳng hạn: nghệ thuật đối lập tương phản trong một tác phẩm văn chương, hoặc
quyền lợi và nghĩa vụ, danh và thực, cho và nhận, trung thực và giả dối…Với dạng
đề này, giáo viên cần rèn luyện kỹ năng tổng hợp, xâu chuỗi đánh giá vấn đề.
Một vấn đề nữa cần thấy rằng: trình độ về tri thức của học sinh ngày càng nâng cao
nhất là tri thức xã hội qua đài ,báo, mạng và các nguồn thông tin khác, các em nắm
bắt các vấn đề xã hội nhạy bén hơn. Tuy nhiên, các vấn đề về xã hội nhân văn cũng
rất phức tạp nên giáo viên trong quá trình dạy, ra đề và trả bài kiểm tra cần định
hướng thanh lọc những kiến thức có ý nghĩa tích cực đối với xã hội còn những vấn
đề tiêu cực phản nhân văn cần loại trừ.
Việc ra đề bài văn mở, giáo viên cần chú ý những điểm “nóng”, những thông tin
thời sự xã hội cập nhật mà mọi người đang quan tâm, những tình huống có vấn đề
trong tác phẩm. Khi tham gia làm những đề bài này tạo hứng thú cho học sinh. học
sinh sẽ tập trung tư duy, bày tỏ chia sẻ và bàn luận một cách sôi nổi dân chủ. Làm
4
đề văn mở có tác dụng thực sự giúp các em có bản lĩnh tự tin hơn trong cuộc sống.
Có khả năng sáng tạo bày tỏ những chứng kiến của mình, những vấn đề mà mình
hằng quan tâm. Điều quan trọng là quá trình làm bài sẽ bồi dưỡng được kỹ năng
sống và rèn luyện phẩm chất đạo đức cho học sinh.
Đứng trước những tầng kiến thức rộng lớn về xã hội và văn chương, bởi vậy, yêu
cầu học sinh phải luôn nỗ lực học tập, nắm bắt cuộc sống thì mới giải quyết được
các vấn đề một cách thấu đáo và thuyết phục.
Trong bài làm, học sinh phải biết trình bày vốn hiểu biết đó một cách khoa học, lập
luận chặt chẽ đúng đắn, lý lẽ sắc sảo hợp tình hợp lý, lời văn trau chuốt co dãn hài
hoà, dẫn chứng đưa ra vừa tiêu biểu vừa thuyết phục cao.
nhân). Giáo án của giáo viên soạn chi tiết, khoa học có tiếp cận sự đổi mới. Học
sinh nhìn chung chăm ngoan, ý thức học tập tốt.
- Nhìn chung, các vấn đề về xã hội và văn chương rất phong phú nhưng để có
những dạng đề hay khơi gợi sự hứng thú cho học sinh thì còn nhiều hạn chế. Điều
dể nhìn thấy nhất là đề bài và đáp án còn chung chung, đơn điệu, mang tính công
vụ hình thức, đầu tư chưa cao. Từ đó dẫn đến thực trạng là việc cho điểm còn rộng
dể dãi, điểm trung bình chiếm trên 90%, điểm khá giỏi ít và điểm yếu kém lại càng
hạn chế hơn, chưa đánh giá chính xác phân loại được học sinh. Bài viết của học
sinh thường rơi vào tình trạng khô khan, viết các ý chung chung, diễn đạt rời rạc,
lủng củng, lộn xộn. Người chấm thường gặp các bài na ná như nhau, nhàm chán
thiếu sáng tạo. một phần nữa là do vốn kiến thức của một bộ phận học sinh còn
nghèo nàn nên trình bày cách hiểu sáo mòn công thức thậm chí là sai lệch một cách
tai hại. Số học sinh này kỹ năng diễn đạt yếu nên bài văn hệ thống lộn xộn, bố cục
không rõ ràng. Giáo viên còn lúng túng trong việc ra đề vì thiếu một “cơ chế mở”
6
trong khi yêu cầu của ngành học và người học ngày càng cao và yêu cầu đổi mới.
Điều đó lý giải vì sao mà học sinh nhiều em không thích học môn văn học.
Đây là kết quả theo dõi học tập của học sinh hai lớp 11C1 và 12B2 trường THPT
Hoằng Hoá 4 năm học 2012 – 2013:
- Mức độ hứng thú làm bài: + 20hs/100hs = 20% hứng thú làm bài.
+ 40hs/100hs = 40& làm bài ở mức độ trung bình.
+ 20hs/100hs = 20% làm bài ở mức độ cầm chừng.
+ 20hs/100hs = 20% không biết cách làm bài chán nản.
- Mức độ kiến thức: + 15hs/100 hs hiểu biết cao.
+ 40hs/100hs = 40% hs hiểu biết ở mức độ trung bình.
+ 45hs/100hs = 45% hs hiểu biết ở mức yếu.
- Mức độ diễn đạt: + 20hs/100 = 20% hs khá giỏi.
+ 50hs/100hs = 50% hs đạt trung bình. + 30hs/100hs = 30% hs yếu kém.
Kết quả còn hạn chế trên là do giáo viên chưa quyết liệt trong việc phát huy tính
tích cực chủ động trong học sinh, yêu cầu các em tự giác học tập nắm vững kiến
hoa, nghệ sĩ (phong cách).
- “Hai đứa trẻ”: + Hoàn cảnh: nghèo khó, tù túng, đơn điệu, buồn tẻ - một kiểu
hoàn cảnh có thể tạo ra sự chết mòn về tinh thần.
+ Tính cách: sự hồn nhiên ngây thơ trong cách nhìn và rung động; sống với một
tấm lòng nhân hậu và thế giới tâm hồn trong sáng, phong phú.
Từ cách miêu tả, có thể thấy tấm lòng yêu thương, cái nhìn trìu mến mà nhà văn
đàn cho những tâm hồn thơ trẻ.
b. Đều miêu tả sự đối lập, tương phản giữa ánh sáng và bóng tối mà cả ánh sáng và
bóng tối đều hiện diện với nghĩa thực và nghĩa tinh thần:
- “Chữ người tử tù”: + Bóng tối: theo nghĩa thực là của đêm khuya, của buồng
giam tử tù- nơi ánh sáng không thể lọt qua được; theo nghĩa tinh thần lại chính là
8
cảnh ngộ éo le mà con người phải đối mặt ( Huấn Cao - án tử tù, quản ngục – môi
trường sống không phù hợp với tính cách con người ông). Là biểu tượng cho cái
xấu xa.
+ Ánh sáng: theo nghĩa thực là bó đuốc tẩm dầu khói toả như đám cháy nhà - thứ
ánh sáng khá mờ nhạt; theo nghĩa tinh thần là ánh sáng toả ra từ cái đẹp của nghệ
thuật ( chữ Huấn Cao) và tư thế tâm hồn con người. Chính thứ ánh sáng này soi
sáng con đườngđể những kẻ tri âm đến với nhau. Đó là sự đối lập giữa cái đẹp và
cái xấu xa.
- “Hai đứa trẻ”: + Bóng tối: theo nghĩa thực là của phố huyện trong thời khắc
chiều muộn và đêm khuya; theo nghĩa tinh thần là nỗi buồn đang lan toả, thấm thía
và trĩu nặng dần trong tâm hồn nhân vật.
+ Ánh sáng: theo nghĩa thực là của thiên nhiên ( ráng chiều, vì sao, đom đóm) và
cuộc sống con người ( các loại đèn, bếp lửa); theo nghĩa tinh thần là hồi quang ký
ứcvề một thiên đường đã mất và nìêm hy vọng dù le lói, mong manh. Đó là sự đối
lập tương phản giữa cuộc đời thường nhật và khát vọng trong tâm hồn con người.
Điểm riêng: cách xử lý mối quan hệ cụ thể của tương quan ánh sáng- bóng tối, tính
cách- hoàn cảnh.
1. Ánh sáng và bóng tối: - “Chữ người tử tù”: sự chiến thắng tuyệt đối của ánh sáng
ngày chỉ biết chèo thuyền, không có thời gian nghiên cứu triết học. – Như vậy là
anh đã lãng phí mất một nửa cuộc đời rồi- nhà bác học nói. Nói xong, ông ta quay
mặt ra ngoài, ngắm nhìn sông nước, không nói chuyện với người chèo thuyền nữa.
Nào ngờ, một lúc sau, trời nổi giông bão, con thuyền đã xa bờ, chao đảo trong sóng
gió, lúc nào cũng như sắp bị chìm.
Bỗng nhiên, một cơn gió lớn thổi đến, con thuyền nhỏ bị lật, cả nhà bác học và
người chèo thuyền đều bị rơi xuống nước.
- Ông có biết bơi không? người chèo đò hét lớn, hỏi nhà bác học.
10
Lúc này, nhà bác học đã bị chìm đến tận cổ, lập cập trả lời:- Không biết!
Vậy thì, ông đã lãng phí cả cả cuộc đời mình rồi!- Người chèo thuyền nói.
(Trích 200 bài đạo lý, NXB Văn hoá- Thông tin, 2001).
Câu chuyên gợi cho anh/chị những suy nghĩ gì?
- Gợi ý đáp án làm bài: Yêu cầu học sinh viết ra những suy nghĩ thông qua nội
dung câu chuyện trên. Muốn có cơ sở suy luận, cần thể hiện nội dung câu chuyện,
không thoát ly văn bản.
học sinh được chọn bất cứ cách viết nào, vận dụng nhuần nhuyển nhiều thao tác lập
luận; vận dụng các tài liệu sách vở, thực tế, trải nghiệm, chiêm nghiệm… để tạo
nên cách viết riêng, gây được ấn tượng sâu sắc cho người đọc.
Với đề bài này, cần hướng vào một số nội dung chính sau:
1. Mỗi người chúng ta đều có điểm mạnh của riêng mình, không nên lấy điểm
mạnh của mình để đo điểm yêú của người khác. Bởi vì, mỗi chúng ta đều có điểm
yếu riêng, không thể nào tất cả mọi mặt đều tốt hơn người khác. Chính vì vậy, mà
chúng ta không nên cười nhạo, coi thường những người xung quanh.
2. Biết cách nhận thấy và học theo cái mạnh của người khác để bổ sung cái yếu của
mình thì mới có thể tiến bộ. Nếu không, kết quả cuối cùng sẽ giống như nhà bác
học trong câu chuyện trên, bị chết chìm nơi đáy sông.
3. Bài học về tính khiêm tốn, luôn học hỏi những người xung quanh để bản thân
mình ngày càng hoàn thiện.
3. Đề bài số ba: “Một nhân vật văn học sống mãi trong em”.
bày mạc lạc, trôi chảy, không mắc lỗi chính tả, ngữ pháp.
B. Về kiến thức: 1. Hiểu đúng vấn đề đặt ra ở đề bài. “ Nguồn mạch mới”mà Thanh
Thảo đã “khơi”chính là nói về sự sáng tạo nghệ thuật của Thanh Thảo- một nhà thơ
12
ham tìm tòi, cách tân. Viết về đề tài người nghệ sĩ, Thanh Thảo đã có cách xử lý
nghệ thuật rất riêng, rất độc đáo tạo nên một thi phẩm có “ sự phát minh về hình
thức, khám phá về nội dung”.
2. Chỉ ra và phân tích, đánh giá được những sáng tạo của Thanh Thảo trong bài.
- Sử dụng thi liệu: + Thanh Thảo đã nhập cảm về thế giới nghệ thuật của Lor Ca rồi
lựa chọn những thi liệu đầy ám ảnh, gợi cảm từ thế giới nghệ thuật ấy đưa vào bài
thơ của mình. Đó là những thi liệu: đàn ghi ta, yên ngựa, vầng trăng, chàng kỵ sĩ,
bước chân lang thang, áo choàng đỏ, cô gái di gan, lá bùa hộ mệnh, hoa hương
+ Thanh Thảo đã xử lý những thi liệu được lựa chọn một cách sáng tạo: những thi
liệu được lấy từ nhiều văn bản khác nhau của thơ Lor Ca, chúng vốn rời rạc nhưng
khi đi vào bài thơ của Thanh Thảo chúng được “làm mới”, trở nên hoà hợp, ăn ý.
Tất cả cộng hưởng ngữ nghĩa với nhau, cùng nhau làm sống dậy thế giới nghệ thuật
đặc sắc của Lor Ca, tái hiện số phận bi thảm của Lor Ca, gợi vẻ đẹp của người nghệ
sĩ vĩ đại sống trong một thời đại biến động và sức sống mạnh mẽ,bất diệtcủa nghệ
thuật, của thơ ca. Thanh Thảo đẫtí hiện và tái sinhthi liệu được sử dụng từ thế giới
nghệ thuật của Lor Ca bằng tài năng và tấm lòng đồng cảm, ngưỡng mộ .
- Sử dụng thể thơ tự do với lối diễn đạt câu thơ không viết hoa đầu dòng, nhịp điệu
phóng khoáng, liên tưởng bất ngờ. ngôn từ mới mẻ: cảm xúc thơ liền mạch, nối két
được các biểu tượng, hình ảnhvthơ trong một thế giới nghệ thuạt hài hoà, gợi mở.
- Xây dựng câú trúc bài thơ đâỳ ngâũ hứng: thơ- ca khúc ( thi phẩm - nhạc phẩm).
+ Nhập cấu trúc ca khúc vào bài thơ: mạch kể chuyện tự sự hiện ra qua cấu trúc của
một ca khúc. Thanh Thảo đã vận dụng phương thức của nhạc để làm thơ và cách
thể hiện này rất thành công.
+ Mô phỏng lối tiết tấu của nhạc, mô phỏng chuỗi âm thanh “li la li la li la”. Thanh
Thảo đã khảm tiếng nhạc vào ngôn từ, hình ảnh thơ để âm nhạc đến cùng với thi
ảnh, với ngôn từ và tạo nên sức gợi vô cùng lớn.
thấy hiện hữu ngay giữa cuộc đời, lấp lánh giá trị nhân văn.
14
Đó có thể là những chuyện oái oăm, trớ trêu được giải quyết “có hậu”.
- Câu chuyện kể phải có ý nghĩa, gửi gắm một thông điệp nhất định, hướng người
đọc tới những giá trị chân -thiện- mĩ.
- Chuyện kể cần có tình huống độc đáobất ngờ, nhiều tình tiết hấp dẫn, lời kể lời
thoại phù hợp với “không khí truyện”. Đảm bảo tính “đời thường”chân thật cả nội
dung và diễn đạt.
Trên đây là năm đề bài và gợi ý đáp án theo hướng mở ở bậc học THPT. Qua đây,
tôi suy ngẫm một điều, giáo viên trong quá trình dạy học cần đầu tư nhiều hơn nữa
về kiến thức và kỹ năng, giàu nhiệt tình và tâm huyết nghề nghiệp để có nhiều đề
văn theo hướng mở kích thích sự ham mê học văn của học sinh ( dẫn dụ, lôi kéo
học sinh trở về với môn ngữ văn ). Từ đó để rèn luyện bồi dưỡng học sinh về tâm
hồn và kiến thức để viết bài tốt hơn. đồng thời, trên lớp, giáo viên phải dày công
rèn luyện kỹ nănglàm bài và huy động kiến thức cho học sinh.
IV. Kiểm nghiệm:
Sau thời gian năm tiến hành ra đề và làm bài theo hướng mở, ra đáp án khoa học,
chi tiết theo hướng mở phát huy tư duy sáng tạo của học sinh, chấm trả bài nghiêm
túc ( biểu dương những bài làm hay, sữa chữa chi tiết những lỗi về diễn đạt và kiến
thức), tôi thu được những kết quả sau:
- Học sinh tham gia làm bài số lượng đầy đủ và hứng thú.
- Các em tích cực tìm tài liệu tham khảo, xử lý các thông tin trên mạng, ti vi, báo…
- Chất lượng bài làm của các em được nâng lên một cách rõ rệt, kiến thức được
khắc sâu. Đặc biệt phát huy được tính tích cực sáng tạo của học sinh.
Trong quá trình chấm và trả bài cho học sinh, giáo viên luôn chú ý khắc phục
những nhược điểm thường hay mắc phải khi làm bài làm văn nói chung và bài làm
văn theo hướng mở nói riêng như: viết chung chung, khô khan, diễn đạt lộn xộn
(luận điểm không rõ ràng), thiếu sự uyển chuyển mềm mại.
Kết quả cụ thể như sau: a. Về mức độ hứng thú của học sinh:
15
vào bài làm.
- Một điều then chốt, để tạo hứng thú cho học sinh, giáo viên cần dày công nghiên
cứu các đề hay có hướng mở, có tính khoa học, hấp dẫn.
- Giáo viên cho các em luyện tập nhiều dạng đề bài từ dể đến khó giúp các em
thành thạo trong kỹ năng làm bài.
- Công tác coi thi nghiêm túc cũng là một hình thức rèn luyện các em tính tự giác, ý
thức tự trọng, tự tin khi làm bài.
Cuối cùng, chấm, trả bài cũng là một công việc rất quan trọng: phân tích đáp án kỹ
lưỡng, sát đúng, biểu điểm khoa học chính xác. Giáo viên cần mạnh dạn cho điểm
cao 9,10, đánh giá ưu điểm nhược điểm chính xác. Đặc biệt chú ý các lỗi về kỹ
năng và kiến thức của học sinh.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ:
Thanh hoá, ngày 27tháng 5 năm 2013.
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.
Họ và tên
Lê Xuân Toàn.
17
Tài liệu tham khảo :
1. Tạp chí văn học và tuổi trẻ.
2. Phương pháp làm đề bài văn nghị luận ( Tác giả Chu Văn Sơn, NXB Giáo
Dục-2009)
3. Phân tích bình giảng TP văn học ( Tác giả Nguyễn Đăng Mạnh, NXB Giáo
dục - 2008)
18