BÀI GIẢNG GIẢI PHẨU SINH LÝ TRẺ - Pdf 26

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
BÀI GIẢNG
GIẢI PHẨU SINH LÝ TRẺ
TH.S NGUYỄN VINH HIỂN
BÌNH DƯƠNG 2009
CHƯƠNG III
HỆ VẬN ĐỘNG
A. ĐẠI CƯƠNG BỘ XƯƠNG

• 2. Thành phần hoá học của xương
• Trong xương có 1/3 chất cốt giao (Hữu cơ) và
2/3 chất vô cơ chủ yếu là muối CaCO3,
Ca3(PO4)2.

Tính đàn hồi của xương là do hữu cơ vì nếu ta
ngâm một mảnh xương vào dung dịch axit HCl
hay axit HNO3 các muối vô cơ trong xương bị
hoà tan chất còn lại chất hữu cơ. Xương vẫn giữ
nguyên hình dạng nhưng mất tính cứng rắn có
thể bị gập lại dễ dàng .

Trong xương chất hữu cơ và chất vô cơ kết hợp
chặt chẽ với nhau. Cơ thể càng trưởng thành
thì tỉ lệ chất hữu cơ càng giảm chất vô cơ càng
tăng. Nên bộ xương người trưởng thành ít mềm
dẻo so với bộ xương trẻ em. Người già khi bị
ngã xương dễ gẫy.

Cấu tạo và thành phần hoá học xương trẻ em .
• Đặc điểm cấu tạo
• Xương trẻ em chưa phát triển, còn tổ chức sụn

• Trẻ 3 – 6 tháng thường xuất hiện điểm cốt hoá ở xương
cả, xương móc.

3 tuổi xuất hiện điểm cốt hoá ở xương thang.

5-7 tuổi xuất hiện cốt điểm cốt hoá ở xương thuyền.
• - Bộ xương trẻ em khác với xương người lớn, xương
đầu to, thân dài, chân tay, ngắn xương sống thẳng, lồng
ngực tròn.
• - Thành phần:

Trong thành phần xương trẻ sơ sinh nhiều nước, ít muối
khoáng. Khi lớn lượng nước giàu. Đến năm 12 tuổi
thành phần cấu tạo xương gần giống người lớn.
3. Chức năng:

Xương là chỗ dựa vững chắc của toàn bộ
cơ thể, làm nhiệm vụ bảo vệ các bộ phận
quan trọng như: não, tim, phổi.
• Hệ xương cùng với hệ cơ, gân, dây chằng
và thần kinh làm cho cơ thể vận động
được
• 4. Đặc điểm hệ xương: hệ xương gồm xương sọ,
xương thân, xương chi.
• Xương sọ: gồm sọ não và sọ mặt, bảo vệ các bộ phận
của hệ thần kinh

• Xương thân: gồm xương lồng ngực và xương cột sống.

+ Xương cột sống vừa là cái khung vừa là cơ quan bảo

tay ngắn, cột sống gần như một đường thẳng, lồng ngực
tròn.
Thành phần hoá học của xương: trẻ càng nhỏ chất hữu
cơ nhiều hơn vô cơ, xương chứa nhiều nước, ít muối
khoáng. Càng lớn thì lượng nước giảm, muối khoáng
tăng lên, đến 12 tuổi thành phần hoá học của xương
giống người lớn. Do đặc diểm xương trẻ em tỷ lệ chất
hữu cơ nhiều hơn do đó xương trẻ thường mềm, kém
rắn chắc. Vì vậy ít gãy và dễ chun giãn. Cấu tạo xương
trẻ em có nhiều mạch máu, màng xương dày và phát
triển hơn cho nên khi gãy thường chóng liền hơn.
2/ Đặc diểm một số xương.
*Xương sọ:
Có kích thước tương đối lớn so với cơ thể, hộp sọ phát
triển nhanh trong năm đầu.
Hộp sọ của trẻ lúc mới sinh có một số xương chưa dính
liền nhau nên tạo thành 2 thóp: thóp trước và thóp sau,
thóp trước được đóng kín lúc 12 tháng, muộn nhất là
18 tháng. Thóp sau nhỏ hơn được đóng kín khi trẻ 3
tháng. Trẻ đẻ non thóp rộng, bờ thóp mềm, trẻ còi
xương thường thóp chậm kín.
Các xoang trên trán, xoang sàng trên 3 tuổi mới phát
triển do đó trẻ < 3 tuổi không bị viêm xoang.


* Xương cột sống: cột sống trẻ em chưa ổn định.
Trong thời kỳ bào thai cột sống hình vòng cung.
Ở trẻ sơ sinh cột sống thẳng, các đoạn cong được
hình thành trong quá trình phát triển


Trẻ mới sinh: chi hơi cong đến 1-2 tháng thì hết.
• Trẻ còi xương, viêm khớp chi có thể bị cong.
• Xương cổ tay, ngón tay là những xương nhỏ cốt hoá
muộn, sự phát triển xương cổ chân mạnh hơn cổ tay do
đó ở trẻ nhỏ các động tác còn vụng về. Từ 6 tuổi trở đi
trẻ có thể làm được những động tác tỷ mỷ đòi hỏi sự
khéo léo của cơ tay.

Trích đoạn Không nên cho trẻ nằm giường có nệm quá mềm hay dụng cụ dễ cong lõm (võng) hoặc nằm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status