SKKN MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN PHÁT ÂM L-N CHO HỌC SINH LỚP 3 - Pdf 26

Một số biện pháp rèn luyện phát âm l/n cho học sinh lớp 3
Người viết: Nguyễn Thị Tươi
PHẦN I - LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
A - CƠ SỞ LÝ LUẬN :
Dân tộc Việt Nam trải qua lịch sử bốn nghìn năm dựng nước và giữ
nước. Trong suốt hành trình ấy, đã có biết bao thăng trầm, bao biến cố, nhưng
con người Việt Nam vẫn kiên gan để khẳng định tiếng nói riêng của dân tộc
mình . Đóng góp một phần vô cùng quan trọng trong “Tiếng nói” rất riêng
kia, không thể không kể đến việc cha ông đã tìm ra tiếng Việt.
Tiếng Việt là biểu hiện cụ thể của tính dân tộc, sự hình thành và phát
triển lâu dài trong tiến trình lịch sử của nước nhà. Từ xa xưa, bằng thực tiễn
sử dụng ngôn ngữ, cha ông ta đã bày tỏ ý thức bảo vệ và quý trọng tiếng nói
dân tộc. Một kho tàng văn học dân gian phong phú chính là nơi tiếng Việt
được rèn luyện giữ gìn và phát huy. Một thời kỳ rất dài, con người Việt Nam
dùng chữ Hán. Nhưng liệu ai có thể nói rằng cha ông không từng quằn quại
đau đớn để tìm ra ngôn ngữ riêng cho dân tộc mình. Thế kỷ thứ 13, chính là
mốc son đáng nhớ của sự ra đời chữ Nôm. Các nhà thơ, nhà văn Việt Nam có
cơ hội để biểu hiện lòng yêu quý của mình với bản sắc ngôn ngữ dân tộc, với
những tác phẩm chữ Nôm đậm chất Việt Nam. Không dừng lại ở thành quả
đó, chữ Nôm mới chỉ là giai đoạn khởi đầu của Tiếng Việt…ông cha ta lại
tiếp tục học hỏi sáng tạo để rồi cuối cùng một sản phẩm vĩ đại được hình
thành: Chữ Quốc ngữ (Tiếng Việt).
Cũng từ xa xưa, việc giữ gìn tiếng Việt đã trở thành một quan điểm
chính thống, Sử sách đã từng ghi, năm 1374 vua Trần Duệ Tông xuống chiếu
cho quân dân “Không được bắt chước tiếng nói nước Chiêm, nước Lào”.
Nguyễn Trãi trong cuốn Dư Địa Chí (1435) cũng chủ trương: “Người nước ta
không được bắt chước ngôn ngữ và y phục của các nước Ngô, Chiêm, Lào,
Xiêm làm loạn ngôn ngữ và y phục nước nhà”.
Kế thừa và phát triển tư tưởng có tính truyền thống của cha ông, hơn
nữa ngày nay Đảng và Nhà nước, tiêu biểu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có sự
Trang1

Trang2
Một số biện pháp rèn luyện phát âm l/n cho học sinh lớp 3
Người viết: Nguyễn Thị Tươi
thấu hiểu tất cả những gì hàm chứa trong sự diễn đạt ấy. Bằng ngôn ngữ, con
người thế hệ trước có thể lưu truyền vốn tri thức và kinh nghiệm quý báu của
mình cho con cháu, con người thế hệ sau có thể hiểu được cha ông. Như vậy,
là công cụ giao tiếp quan trọng nhất, ngôn ngữ phát huy vai trò đoàn kết, tập
hợp con người trong sinh hoạt cộng đồng, trong lao động sản xuất, trong đấu
tranh phát triển xã hội, duy trì tính liên tục lịch sử của dân tộc, của xã hội.
Là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người; tiếng nói (ngôn
ngữ) gắn bó chặt chẽ với tư duy, cùng với tư duy hợp thành một thể thống
nhất.
Như vậy tiếng nói không chỉ là âm lượng phát ra bên ngoài mà còn là
“Tiếng nói bên trong” của mỗi cá nhân.
Tiếng Việt - ngôn ngữ mẹ đẻ rất phong phú, phức tạp; việc tiếp xúc và
học Tiếng Việt để sử dụng Tiếng Việt không phải là vấn đề đơn giản, đặc biệt
với học sinh tiểu học. Người giáo viên có vai trò vô cùng quan trọng để
hướng dẫn các em học tiếng mẹ đẻ sao cho khoa học và hữu ích nhất; sao cho
ngôn ngữ mẹ đẻ trở thành công cụ đắc lực trong những năm tháng các em học
tập ở nhà trường, cũng như suốt cuộc đời.
Học Tiếng Việt, học phát âm theo đúng chuẩn hóa là để tiến tới yếu tố
thành công đầu tiên của bất kì cuộc giao tiếp nào: Bên trong hay bên ngoài.
Học Tiếng Việt chính là ta đã góp phần vào công cuộc bảo vệ và giữ gìn sự
trọng sáng của ngôn ngữ dân tộc.
Trang3
Một số biện pháp rèn luyện phát âm l/n cho học sinh lớp 3
Người viết: Nguyễn Thị Tươi
PHẦN II– THỰC TRẠNG ĐỀ TÀI
I- THUẬN LỢI :
- Mỗi chúng ta đều đã hiểu giao tiếp là hoạt động quan trọng để phát

năng: nghe, nói, đọc, viết. Khi sử dụng 4 kỹ năng này thì hai kỹ năng: nghe,
viết được giáo viên thực hiện tương đối tốt trong giao tiếp cũng như trong quá
trình giảng dạy. Song hai kỹ năng còn lại là kỹ năng đọc và kỹ năng nói còn
gặp nhiều khó khăn và bất cập.
Do những nét dị biệt về phương ngữ, thổ ngữ có từ lâu đời nên một số
người khi viết một âm vị biết cách phân biệt chữ viết và tuân theo đúng quy ước
về chính tả với nhiều cách viết khác nhau. Song khi phát âm đọc và nói còn chưa
phân biệt rõ các phụ âm của tiếng. Sự phát âm giống nhau l/n, biến vần rất phổ
biến ở một số địa phương trong đó có khu vực huyện Mỹ Đức, nói riêng.
Ví dụ: Khi nói: Bạn Long thành bạn Nong
Lý ơi ! thành Ní ơi !
Cái chổi thành cái chủi
Với kiểu phát âm như vậy khiến cho một số giáo viên cảm thấy mình
không tự nhiên, mất tự tin, xấu hổ khi giao tiếp với người có giọng chuẩn
mực.
Trong giao tiếp kỹ năng đọc, nói cần phân biệt rõ l/n thì người nghe
(ngôi thứ 2) mới tiếp nhận được thông tin một cách chính xác và hiểu được
nội dung của người nói cần truyền đạt thông tin, tránh được tình trạng nhầm
lẫn và hiểu sai vấn đề nghĩa của từ.
Ví dụ: Khi phát âm vị sai dẫn đến hiểu nghĩa từ bị sai.
N trong tiếng nắng chỉ ánh nắng hiểu thành tiếng lắng chỉ lắng nghe.
N trong tiếng no chỉ no ấm thành tiếng lo chỉ lo âu.
N trong tiếng nắm chỉ nắm tay thành tiếng lắm chỉ nhiều lắm hoặc ngược lại.
Học sinh trường tôi nhiều em còn ngọng ở các dạng trên.
Qua khảo sát học sinh đầu năm, lớp do tôi chủ nhiệm đạt được kết quả như
sau:
Chất lượng khảo sát đầu năm học 2009-2010 điểm đọc lớp 3D (30 em) đạt như
sau:
XẾP LOẠI ĐIỂM SỐ LƯỢNG TỶ LỆ (%)
Trang5

sửa cách phát âm không còn bị ngọng nữa.
+ Một số người ở địa phương họ đã có ý thức sửa ngọng.
+ Còn lại là những người phát âm ngọng (phần đông là học sinh
mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở.)
a) Đối với giáo viên:
Làm “mẫu” là một trong những biện pháp dạy học có tác dụng tốt ở
Tiểu học nói chung. Trong việc rèn luyện đọc đúng l/n cho học sinh, việc đọc
mẫu của giáo viên có một vai trò rất quan trọng. Khi đọc mẫu các bài và giảng
bài cho học sinh, giáo viên phát âm đúng sẽ ảnh hưởng tốt tới cách đọc của
học sinh rất nhiều. Bởi học sinh Tiểu học rất hay bắt chước giọng đọc, lời nói
Trang7
Một số biện pháp rèn luyện phát âm l/n cho học sinh lớp 3
Người viết: Nguyễn Thị Tươi
của thầy cô giáo. Hơn nữa giọng đọc, ngôn ngữ, lời nói, của thầy cô là trực
quan sinh động, cụ thể trong các giờ học.
Việc đọc mẫu, lời nói, ngôn ngữ của giáo viên có tầm quan trọng như
vậy nên khi đọc, nói, phát âm l/n tôi nghĩ giáo viên cần phải chú trọng và
không phát âm sai l/n. Nhưng để có được giọng đọc chuẩn, phát âm đúng l/n
là một quá trình giáo viên phải tự rèn luyện. Tự bản thân rèn luyện chưa đủ,
tôi thường đưa vấn đề này ra đề nghị trong tổ sinh hoạt chuyên môn. Tổ
chúng tôi gồm có 12 người. Trong đó có tới 3 người ( kể cả tôi ) còn ngọng
l/n. Chúng tôi đã tổ chức thảo luận về phân biệt l/n; tr/ch; s/x;…và tìm cách
khắc phục việc luyện phát âm l/n của bản thân và sửa lỗi chính tả cho học
sinh. Những góp ý, ý kiến của đồng nghiệp đưa ra, chúng tôi đã tiếp thu, rèn
luyện.
Về phía nhà trường rất quan tâm tới vấn đề này. Dưới sự chỉ đạo của
BGH, nhà trường đã đưa ra tiêu chí cần cho học sinh thi đọc với yêu cầu: Đọc
đúng, đọc nhanh, đọc hiểu cho từng lớp. Từ đó, mỗi giáo viên tự rút kinh nghiệm
cho mình và có ý thức tự giác trong việc rèn đọc, sửa ngọng bằng cách:
+ Luyện đọc hàng ngày ở hai dạng: Đọc thành tiếng và đọc thầm ở các

b3 – Khi luyện l/n giáo viên giúp học sinh phân biệt:
Phụ âm 1
+ Đặc điểm và cách đọc:
Phụ âm “l” là một phụ âm biên, vì khi
phát âm hơi thoát ra hai bên nhiều
hơn. Muốn phát âm đúng cần phải
uốn lưỡi và đặt đầu lưỡi vào bên
trong của lợi thuộc hàm trên.
Khi phát âm hơi cũng bị đẩy rất
nhanh qua đầu lưỡi và thoát ra khỏi
miệng.
Ví dụ: Đi lên
Tiến lên
Phụ âm n
+ Đặc điểm và cách đọc:
Phụ âm “n” là một phụ âm tắc ở
đầu lưỡi. Khi phát âm hơi bật qua
cả mũi và miệng. Muốn phát âm
đúng cần phải đặt đầu lưỡi và lợi
thuộc hàm trên cho sát chân răng
rồi mới phát âm.
Chú ý khi phát âm không uốn lưỡi.
Ví dụ: Trở nên
Nước Việt Nam
Ăn no
Trang9
Một số biện pháp rèn luyện phát âm l/n cho học sinh lớp 3
Người viết: Nguyễn Thị Tươi
Lo lắng
Long lanh…

nào, nảy lộc học sinh phần lớn đọc theo n hoặc l cả hai tiếng .Ví dụ như lối
lào,nối nào.
- Bài tập đọc: “Ở lại với chiến khu” trang 13 T.V3 tập 2. Học sinh được
luyện đọc đúng, phát âm các từ : lúc lâu, lúc này, van lơn, lạnh tối.
- Học sinh khi phát âm Tiếng Việt gặp l/n đã khó, còn ngọng khi đọc,
phát âm tiếng phiên âm nước ngoài có l/n còn khó hơn.
- Bài đọc thêm: “Người trí thức yêu nước” trang 28 T.V3 tập 2 có từ: Pê-
ni-xi-lin.
- Bài tập đọc: “Tiếng đàn” trang 54 T.V3 tập 2 có từ vi-ô-lông.
* Các ví dụ khi học bài tập đọc thể loại thơ:
- Đọc các bài thơ, khi đọc cần ngắt nhịp thơ sao cho đúng đã là khó. Vậy
khi gặp l/n càng phải chú trọng phát âm chuẩn nếu không sẽ không diễn đạt
được nội dung của bài thơ. Đọc từ ngọng dẫn đến nghĩa sai, nội dung sai.
- Bài tập đọc: “ Bận” trang 59 T.V3 tập 1. Các từ học sinh luyện phát
âm: làm lửa, cấy lúa, thổi nấu.
Làm lửa: lửa có nghĩa là lửa cháy.
Đọc ngọng lửa thành nửa: một nửa, làm một nửa có nghĩa là chưa xong.
- Bài tập đọc: “Cái cầu” trang 34 T.V3 tập 2. Học sinh cần đọc chuẩn, phát
âm đúng l/n kết hợp ngắt đúng nhịp thơ. Các từ có l/n cần phát âm là: chum
nước, lá tre, lối.
Câu thơ có từ “chum nước”:
Nhện qua chum nước/ bắc cầu tơ nhỏ/.
Ngắt nhịp như trên là đúng song cũng có trường hợp học sinh đã đọc
ngọng: nước thành lước lại còn ngắt nhịp sai như : Nhện qua chum/ lước bắc
cầu tơ nhỏ/.
Trang11
Một số biện pháp rèn luyện phát âm l/n cho học sinh lớp 3
Người viết: Nguyễn Thị Tươi
Như vậy việc đọc đúng l/n còn phải chú trong đến các nhịp thơ sẽ đảm
bảo được nội dung bài. Hay cũng trong bài thơ trên trong câu thơ :

VD : Anh ta đã nên người.
+ Thường là từ quan hệ
Vì thế…nên…
Trang12
Một số biện pháp rèn luyện phát âm l/n cho học sinh lớp 3
Người viết: Nguyễn Thị Tươi
lên.
+ Đi lên : Bạn An đi lên bảng.
* Cặp : Lộ - Nộ
Lộ
+ Từ Hán Việt lộ là con đường
VD : Lộ trình, lộ phí, xa lộ.
+ Lộ còn có nghĩa là bày ra ngoài.
VD : Lộ diện.
• Cặp : Lội - Nội
Lội
+ Là từ chỉ hoạtđộng.
VD : Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ
non.
( Tố Hữu )
• Cặp: Lắng - Nắng
Lắng
+ Là từ chỉ trạng thái ( hoạt động )
VD: Em ơi, hãy lắng nghe
• Cặp : Lặng - Nặng
Lặng
+ Từ chỉ trạng thái.
VD : Lặng nghe mẹ kể ngày xưa…
( Tố Hữu )
• Cặp : Lắp - Nắp

Người viết: Nguyễn Thị Tươi
• Cặp : Lấy - nấy
Lấy
+ Từ chỉ hành động
VD : Con trai lấy vợ, con gái lấy
chồng.
• Cặp : Lạt - nạt
Lạt
+ Là từ chỉ sự vật
VD : Lạt mềm buộc chặt
( Thành ngữ )
• Cặp : Lắm - Nắm
Lắm
+ Là phụ từ chỉ mức độ
VD : Đẹp lắm
Nhiều lắm

VD: Nắp xoong, nắp chai…
Nấy
+ Là phụ từ sóng đôi
VD: Tôi bảo gì nó nghe nấy
Nạt
+ Từ chỉ hành động
VD: Nịnh trên nạt dưới là bản chất
của bọn địa chủ cường hào.
Nắm
(1) Là từ chỉ hoạt động
VD: Nắm tay lại…
(2) Là từ chỉ đơn vị
VD: Sương mai một nắm hao gầy.

đọc đúng l/n.
b8 - Hướng dẫn học sinh nhớ một số quy tắc sau khi viết chính tả :
- N không (hoặc ít) kết hợp với âm đệm (chỉ có thể là : noãn) nhưng L lại
kết hợp được (loè loẹt, lở loét, loà xoà, loang lổ, loắt choắt, luẩn quẩn, liên luỵ,
luyến tiếc )
- N xuất hiện trong các từ láy âm ( no nê, nóng nảy, nao núng, ). L
xuất hiện trong các từ láy vần (lệt bệt, lõm bõm, lộp bộp, lờ đờ, lai rai, lim
dim, lơ mơ, lanh chanh, lao xao, lạo xạo…)
b9 - Trong lớp học cần xây dựng đôi bạn cùng tiến vì “học thày không
tày học bạn” : Các em đọc chuẩn l/n giúp đỡ học sinh còn ngọng l/n. Các em
Trang15
Một số biện pháp rèn luyện phát âm l/n cho học sinh lớp 3
Người viết: Nguyễn Thị Tươi
sẽ giúp đỡ nhau trong giờ học tập đọc như đọc đồng thanh, đọc trong nhóm
(nhóm đôi). Các em luôn luôn ghi nhớ sửa cho bạn khi bạn đọc còn ngọng.
Nếu sửa chưa được, giờ ra chơi các em cùng ngồi đọc lại đến khi nào sửa
được mới thôi. Dần dần các em đọc ngọng có ý thức hơn khi đọc, nói, viết có
l/n.
Ví dụ: Lớp tôi có các đôi bạn cùng tiến như: Phương Mai - Văn Hiếu;
Ngân Hà - Thế Anh; Thu Phương - Quốc Thắng; …
b10 – Giáo viên giao phiếu bài tập gồm các tiếng, từ, các câu thơ, câu
văn có l/n cho học sinh đọc còn ngọng về nhà tập phát âm .
VD: - Nổi lên, lên lớp, năng nổ
- Trách lòng hờ hững với lòng
Lửa hương luống để lạnh lùng bấy lâu
(Truyện Kiều )
- Anh nuôi làm lụng bên bếp lửa, vừa nấu vừa nếm hết nửa nồi.
Giáo viên yêu cầu : Mỗi tối các em tập đọc 5 đến 10 lần dưới sự kiểm tra của phụ
huynh.
b11 – Giáo viên cần động viên kịp thời đối với các em tiến bộ bằng

rõ rệt khi phát âm l/n. Cuối năm, bài kiểm tra đọc của Thế Anh đã đạt điểm
khá.
Vậy việc kết hợp giữa gia đình và nhà trường giữ một vai trò quan
trọng. Để học sinh tiến bộ, chúng ta cần phối hợp nhịp nhàng, ăn ý cùng nhau
góp ý, động viên kịp thời, chắc chắn các em sẽ đạt được những điều phụ
huynh và giáo viên mong muốn.
Trang17
Một số biện pháp rèn luyện phát âm l/n cho học sinh lớp 3
Người viết: Nguyễn Thị Tươi
PHẦN IV – KẾT QUẢ
Sau một thời gian chú ý luyện phát âm và sửa ngọng l/n tôi thấy bản
thân tự tin và mạnh dạn hơn trong giao tiếp.
Do kết hợp nhiều biện pháp sửa giọng l/n cho học sinh nên các em học
sinh đã tiến bộ nhiều. Tôi thường xuyên rèn sửa giọng cho các em hằng ngày
trong các giờ tập đọc, chính tả, luyện từ và câu, tập viết, kể chuyện, luyện nói
trong giờ học tập làm văn và luyện đọc diễn cảm trong các giờ tự học. Tôi
thấy chất lượng đọc đúng, đọc hay, ít bị ngọng được nâng cao dần. Cụ thể :
Chất lượng giữa kì I (Năm học 2009-2010) điểm đọc lớp 3D (30 em )
đạt như sau:
XẾP LOẠI ĐIỂM SỐ LƯỢNG TỶ LỆ (%)
Loại giỏi 9 - 10 7 em 23,3
Loại khá 7 - 8 10 em 33,3
Loại trung bình 5 - 6 11 em 36,7
Loại yếu 3 - 4 2 em 6,7
Chất lượng cuối kỳ I đạt được :
XẾP LOẠI ĐIỂM SỐ LƯỢNG TỶ LỆ (%)
Loại giỏi 9 - 10 10 em 33,3
Loại khá 7 - 8 10 em 33,3
Loại trung bình 5 - 6 9 em 30
Loại yếu 3 - 4 1 em 3,4

Tuy nhiên, Tiếng Việt có nhiều phương ngữ, thổ ngữ nên bên cạnh tính thống nhất là
Trang19
Một số biện pháp rèn luyện phát âm l/n cho học sinh lớp 3
Người viết: Nguyễn Thị Tươi
chủ đạo của nó còn có những nét dị biệt khá rõ trong cách phát âm của ba miền : Bắc
– Trung – Nam.
Mặc khác là do một đặc điểm “ rất đặc biệt” người dân sinh sống ở
Phùng Xá phát âm “l”, “n” còn bị ngọng nhiều. Theo tôi muốn thực hiện được
một cách có hiệu quả việc phát âm chuẩn l/n cần :
+ Một là : Đòi hỏi chúng ta phải kiên trì, tỉ mỉ, không nôn nóng trong
rèn luyện và luyện tập phát âm.
+ Hai là : Phải chú ý rèn luyện để thực hiện 4 đúng : Phát âm đúng,
ngắt, nghỉ hơi đúng, đọc đúng thanh điệu và đọc đúng từ.
+ Ba là : Phải luôn có ý thức rèn đọc, nói trong giao tiếp các tiếng chứa
phụ âm l/n.
+ Bốn là : Phải nhớ nghĩa của từ, “mẹo” ở mặt chữ viết để viết đúng
chính tả Tiếng Việt.
Có như vậy thì việc đọc của chúng ta mới thực sự chuẩn mực, đúng và có
sức hấp dẫn. Tạo tiền đề vững chắc cho học sinh học tốt môn ngoại ngữ và các môn
học khác.
PHẦN VI - ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG ĐỀ TÀI
Với đề tài trên, mỗi giáo viên chúng ta đều có thể áp dụng rộng rãi ở tất
cả các lớp. Đặc biệt là lớp đầu cấp lớp 1 cần được quan tâm tuyệt đối. Ngoài
ra, đề tài còn được áp dụng ngoài xã hội đối với tất cả mọi người không kể
Trang20
Một số biện pháp rèn luyện phát âm l/n cho học sinh lớp 3
Người viết: Nguyễn Thị Tươi
tuổi tác, giúp họ có thể phát âm đúng l/n trong giao tiếp, trong công việc… Sự
kiên trì, tỉ mỉ trong quá trình dạy học giáo viên sửa chữa, rèn luyện cho học
sinh dần dần trong các phân môn Tiếng Việt và môn Ngoại ngữ. Từ đó sẽ giúp

A.Cơ sở lý luận ………………… ……………… 1
B.Cơ sở thực tiễn …………………… …………… 2
Phần II: Thực trạng đề tài ……………………… …………4
Trang22
Một số biện pháp rèn luyện phát âm l/n cho học sinh lớp 3
Người viết: Nguyễn Thị Tươi
I-Thuận lợi ……………………………… ………4
II-Khó khăn …………………………… ………4
Phần III: Nội dung đề tài ………………… … …….7
* Biện pháp rèn phát âm đúng l/n … …………7
a)Đối với giáo viên 7
b) Đối với học sinh…………………… ………… ………… 8
c) Đối với phụ huynh……………………….………… …… 16
Phần IV : Kết quả ………………………………….……………18
Phần V: Bài học kinh nghiệm …….……….……………… 20
Phần VI: Điều kiện áp dụng đề tài ………… ……………… 21
Phần VII – Kết luận …………………………….…………… 22
Trang23
Một số biện pháp rèn luyện phát âm l/n cho học sinh lớp 3
Người viết: Nguyễn Thị Tươi
Trang24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status