MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Sự ra đời và phát triển của hệ thống các ngân hàng thương mại cổ
phần (NHTMCP) là kết quả của chính sách đổi mới hệ thống ngân hàng Việt
Nam sau những năm 1990. Chính sự xuất hiện của các NHTMCP đã làm tăng
tính cạnh tranh trên thị trường tài chính ngân hàng, góp phần quan trọng trong
việc tập trung nguồn vốn vào một hệ thống tài chính trung gian chuyên
nghiệp và lành mạnh, phục vụ hiệu quả cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá của đất nước. Các NHTMCP ở Việt Nam đã và đang tiến hành đổi
mới, tái cơ cấu, không ngừng cải tổ để củng cố năng lực quản lý, hoạt động
của mình; đồng thời luôn nỗ lực tìm chỗ đứng trong bối cảnh có rất nhiều
cạnh tranh khốc liệt. Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, thế giới và trong
nước đã chứng kiến hàng loạt sự đổ vỡ, sáp nhập, tái cơ cấu hệ thống ngân
hàng của hàng loạt các ngân hàng tên tuổi và có bề dầy hoạt động hàng trăm
năm như Lehman Brothers - định chế tài chính đã từng là ngân hàng lớn thứ
tư của Mỹ với 158 năm tuổi phá sản hôm 15/9/2008. Tiếp theo đó, hàng loạt
ngân hàng khác cũng phải phải tiến hành sáp nhập và thậm chí tuyên bố phá
sản như: Merrill Lynch, Countrywide Financial, Bear Stearns, Ameribank
[33]. Đối với Việt Nam, cạnh tranh trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng cũng
là một quy luật kinh tế khách quan, tồn tại tất yếu khi chúng ta chủ trương
phát triển hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) ổn định, vững chắc, đáp
ứng được đòi hỏi của nền kinh tế thị trường trong hoàn cảnh hiện nay và thời
gian sắp tới.
Đứng trước áp lực cạnh tranh mạnh mẽ và nhiều phía như vậy, trong
khi năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam nhỏ bé, năng lực cạnh tranh
thấp, hệ thống quản trị điều hành còn nhiều bất cập nên các ngân hàng Việt
Nam sẽ khó đứng vững và phát triển trong thời kỳ hội nhập nếu không có
1
chiến lược phát triển phát triển phù hợp. Việc tăng giới hạn sở hữu của nhà
đầu tư chiến lược nước ngoài vào các NHTMCP Việt Nam kéo theo hệ quả tất
yếu của xu hướng thâu tóm, can thiệp sâu hơn vào bộ máy tổ chức, quản lý và
vấn đề này trên góc độ đánh giá chung và góc độ quản lý kinh tế. Vì thế, việc
phân tích các quy định pháp luật và thực tiễn của việc niêm yết cổ phiếu của
NHTMCP trên TTCK vẫn là rất cần thiết vì nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng
trong việc nâng cao năng lực hoạt động của các NHTMCP trong bối cảnh
hiện nay.
Ngoài ra, từ thực tế phát sinh trong quá trình công tác tại MB, tôi đã
thu được những kiến thức thực tế bổ ích về hoạt động của ngân hàng, trong đó
tôi đặc biệt quan tâm tới chế định pháp lý về niêm yết cổ phiếu của Ngân
hàng trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh; diễn biến quá
trình hoạt động trước và sau niêm yết của MB và đề xuất các giải pháp cho
việc nâng cao hiệu quả hoạt động niêm yết tại MB.
Vấn đề niêm yết cổ phiếu của NHTM trên TTCK được một số tác giả
nghiên cứu như: Luận văn thạc sỹ “Niêm yết cổ phiếu của các ngân hàng
thương mại cổ phần trên thị trường chứng khoán Việt Nam” của tác giả Bùi
Văn Thành; Luận văn thạc sỹ “Thông tin và minh bạch thông tin trên thị
trường chứng khoán” của tác giả Lê Trường Vinh; Luận văn thạc sỹ “Một số
giải pháp nhằm đẩy mạnh việc niêm yết cổ phiếu của các ngân hàng thương
mại trên thị trường chứng khoán Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Thanh
Huyền; Luận án tiến sỹ “Hoạt động của các công ty chứng khoán tại Việt
Nam” của tác giả Lê Thị Hương Lan…
3. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về NHTM,
NHTMCP và TTCK, luận văn nghiên cứu một cách toàn diện về thực trạng
hoạt động của NHTMCP nói chung, của MB nói riêng về niêm yết cổ phiếu
3
trên TTCK Việt Nam làm sáng tỏ cơ sở thực tiễn cho việc niêm yết của MB
trên TTCK và các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của NHTMCP nói
chung và của MB trên TTCK. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể được xác định là:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về NHTM và TTCK, vai trò của
NHTM và TTCK trong nền kinh tế thị trường;
yết cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần.
Chương 2: Thực tiễn niêm yết cổ phiếu của Ngân hàng thương mại cổ
phần Quân đội.
Chương 3: Định hướng và các giải pháp nâng cao hiệu quả liên quan
đến niêm yết trên thị trường chứng khoán của các ngân hàng thương mại cổ
phần Việt Nam và Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội.
5
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN,
NIÊM YẾT CỔ PHIẾU TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ NIÊM YẾT CỔ PHIẾU
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ
PHẦN VÀ NIÊM YẾT CỔ PHIẾU TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1.1. Nhận diện về ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh
doanh tiền tệ, tín dụng và các dịch vụ liên quan đến hoạt động tài chính tiền tệ
ngân hàng theo quy định của pháp luật, phục vụ các doanh nghiệp và các
thành phần kinh tế khác vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục
tiêu kinh tế của Nhà nước. Tổ chức và hoạt động của NHTM được thực hiện
theo các quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Ngân hàng Nhà nước
và các quy định hiện hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Ngân hàng thương mại đóng vai trò là một định chế tài chính trung
gian, là nhân tố quan trọng trong việc khai thông nguồn vốn tiết kiệm đáp ứng
nhu cầu đầu tư, tiêu dùng của các chủ thể trong nền kinh tế. Đồng thời nó
cũng giữ vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cho nền kinh tế vận hành hữu
hiệu thông qua các kênh huy động vốn từ dân cư và phân phối lại nguồn vốn
đó thông qua các hình thức cấp tín dụng.
Đạo luật ngân hàng của Cộng hòa Pháp năm 1941 đưa ra khái niệm:
“Ngân hàng thương mại là những cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là
“đi vay để cho vay”, nghĩa là NHTM sử dụng nguồn vốn huy động thông qua
các kênh huy động và tái sử dụng nguồn vốn đó để thực hiện cấp tín dụng,
giải ngân đến các đối tượng có nhu cầu vay vốn và đáp ứng được điều kiện do
NHTM đặt ra trên nguyên tắc có lãi và đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật.
7
NHTM là một định chế tài chính trung gian có vị trí quan trọng nhất
trong việc khai thông các nguồn vốn đáp ứng nhu cầu đầu tư của các chủ thể
trong nền kinh tế, đồng thời nó cũng có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo
cho nền kinh tế vận hành nhịp nhàng, hữu hiệu. NHTM hoạt động theo định
chế tài chính tổng hợp và là thành viên chủ yếu tham gia vào hoạt động của
thị trường tiền tệ cũng như thị trường vốn.
Chức năng trung gian tài chính của NHTM bao gồm chức năng trung
gian tín dụng và chức năng trung gian thanh toán cho các doanh nghiệp, cá
nhân trong nền kinh tế. Chức năng trung gian tín dụng của NHTM là việc
ngân hàng làm cầu nối giữa người có vốn và người có nhu cầu sử dụng vốn,
hay nói các khác NHTM đóng vai trò vừa là chủ thể đi vay, vừa là chủ thể cho
vay trong nền kinh tế [27].
Ngân hàng thương mại thực hiện chức năng trung gian thanh toán khi
ngân hàng thực hiện theo yêu cầu của khách hàng như trích một khoản tiền
trên tài khoản tiền gửi để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc nhập vào
một khoản tiền gửi của khách hàng từ tiền bán hàng hoá hoặc các khoản phải
thu khác theo lệnh của chủ tài khoản hoặc người được ủy quyền. Hiện nay,
NHTM nắm giữ phần lớn các khoản chi trả, thanh toán về hàng hóa và dịch
vụ của các doanh nghiệp và một bộ phận dân cư.
Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng và thanh toán, NHTM có
điều kiện thuận lợi về thông tin, quan hệ với các doanh nghiệp từ đó có khả
năng làm tư vấn tài chính, tư vấn đầu tư, đại lý phát hành cổ phiếu, trái phiếu
doanh nghiệp, đại lý bảo hiểm, ngân hàng lưu ký chứng khoán NHTM cũng
có thể tham gia trực tiếp vào thị trường tiền tệ thông qua việc mua bán các
loại chứng khoán hoặc đơn thuần làm dịch vụ kinh doanh tiền tệ để thu lợi
con, công ty liên kết để thực hiện hoạt động kinh doanh sau đây: Bảo lãnh
phát hành chứng khoán, môi giới chứng khoán; quản lý, phân phối chứng chỉ
9
quỹ đầu tư chứng khoán; quản lý danh mục đầu tư chứng khoán và mua, bán
cổ phiếu; cho thuê tài chính; bảo hiểm. NHTM được thành lập, mua lại công
ty con, công ty liên kết hoạt động trong lĩnh vực quản lý tài sản bảo đảm, kiều
hối, kinh doanh ngoại hối, vàng, bao thanh toán, phát hành thẻ tín dụng, tín
dụng tiêu dùng, dịch vụ trung gian thanh toán, thông tin tín dụng.
- Tham gia thị trường tiền tệ: NHTM được tham gia đấu thầu tín phiếu
Kho bạc, mua, bán công cụ chuyển nhượng, trái phiếu Chính phủ, tín phiếu
Kho bạc, tín phiếu Ngân hàng Nhà nước và các giấy tờ có giá khác trên thị
trường tiền tệ.
- Kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối và sản phẩm phái sinh: Sau
khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản, NHTM được kinh
doanh, cung ứng dịch vụ cho khách hàng ở trong nước và nước ngoài các sản
phẩm sau đây: Ngoại hối; phái sinh về tỷ giá, lãi suất, ngoại hối, tiền tệ và tài
sản tài chính khác.
- Nghiệp vụ ủy thác và đại lý: NHTM được quyền ủy thác, nhận ủy
thác, đại lý trong lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kinh doanh bảo
hiểm, quản lý tài sản theo quy định của NHNN.
- Các hoạt động kinh doanh khác của NHTM: Dịch vụ quản lý tiền
mặt, tư vấn ngân hàng, tài chính; các dịch vụ bảo quản tài sản, cho thuê tủ, két
an toàn; tư vấn tài chính doanh nghiệp, tư vấn mua, bán, hợp nhất, sáp nhập
doanh nghiệp và tư vấn đầu tư; mua, bán trái phiếu Chính phủ, trái phiếu
doanh nghiệp; dịch vụ môi giới tiền tệ; lưu ký chứng khoán, kinh doanh vàng
và các hoạt động kinh doanh khác liên quan đến hoạt động ngân hàng sau khi
được NHNN chấp thuận bằng văn bản.
1.1.3. Tổng quan về niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng
khoán của ngân hàng thương mại cổ phần
1.1.3.1. Khái niệm thị trường chứng khoán
chất đây là quá trình vận động của tư bản, chuyển từ tư bản sở hữu sang tư
bản kinh doanh.
11
Thị trường chứng khoán không giống như thị trường các loại hàng hóa
thông thường, hàng hóa trên TTCK là quyền sở hữu về tư bản. Như vậy, có
thể nói, bản chất của TTCK là thị trường thể hiện mối quan hệ giữa cung và
cầu của vốn đầu tư mà ở đó giá cả của chứng khoán chứa đựng thông tin về
chi phí vốn hay giá cả của vốn đầu tư. TTCK chính là hình thức phát triển bậc
cao của nền sản xuất và lưu thông hàng hóa [27].
1.1.3.2. Niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán
Niêm yết chứng khoán được coi là quá trình “định danh” các chứng
khoán đáp ứng đủ tiêu chuẩn được giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán.
Cụ thể là việc đưa các chứng khoán có đủ tiêu chuẩn vào đăng ký và giao dịch
tại thị trường giao dịch tập trung (là các Sở giao dịch chứng khoán). Cụ thể,
đây là quá trình Sở giao dịch chứng khoán xem xét và chấp thuận cho công ty
phát hành có chứng khoán được phép niêm yết và giao dịch trên Sở giao dịch
chứng khoán nếu công ty đó đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn, điều kiện mà Sở
giao dịch chứng khoán đó đề ra, phù hợp quy định pháp luật về chứng khoán.
Hoạt động niêm yết đòi hỏi phải đảm bảo sự tin cậy đối với nhà đầu
tư. Các công ty xin niêm yết phải có đáp ứng được các điều kiện để niêm yết
và công khai thông tin, hồ sơ doanh nghiệp đối với nhà đầu tư. Điều kiện này
được quy định cụ thể trong quy chế về niêm yết chứng khoán do Sở giao dịch
chứng khoán ban hành. Yêu cầu quan trọng nhất trong vấn đề niêm yết là yêu
cầu về công bố thông tin của công ty. Các nhà đầu tư và công chúng phải nắm
được đầy đủ các thông tin và có cơ hội nắm bắt thông tin do công ty phát hành,
đảm bảo sự công bằng trong tiếp nhận thông tin, kể cả các thông tin mang
tính chất định kỳ hoặc thông tin bất thường có tác động đến giá cả, khối lượng
chứng khoán giao dịch cũng như tình hình hoạt động của tổ chức phát hành.
Chúng ta có thể thấy, mục đích cơ bản của niêm yết cổ phiếu là nhằm
bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư và đảm bảo duy trì sự hoạt động lành mạnh
13
Niêm yết cổ phiếu của các NHTMCP có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, NHTMCP thực hiện niêm yết phải đáp ứng đồng thời điều
kiện theo quy định pháp luật về chứng khoán và ngân hàng với các chỉ tiêu
tài chính cụ thể
Tỷ số tài chính là các tỷ số được cấu trúc và tính toán từ dữ liệu các
báo cáo tài chính của NHTM nhằm phản ánh và đánh giá một đặc tính nào đó
trong hoạt động tài chính của Ngân hàng.
Để thực hiện niêm yết, ngoài việc đáp ứng các quy định pháp luật về
chứng khoán, các NHTMCPC phải đảm bảo tuân thủ các điều kiện theo pháp
luật về ngân hàng; trong đó các NHTMCP phải thỏa mãn các chỉ tiêu tài
chính do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định như: Đảm bảo về thời gian
hoạt động tối thiểu, về vốn điều lệ, về bảo đảm an toàn trong hoạt động; về
phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro …
Việc quy định các NHTMCP phải đảm bảo các điều kiện này là cần
thiết do ngân hàng là lĩnh vực đặc thù, hoạt động ngân hàng có tính ảnh
hưởng dây chuyền và tác động trực tiếp tới hoạt động của các ngành nghề
khác trong nền kinh tế.
Thứ hai, thủ tục, trình tự thực hiện niêm yết cổ phiếu của các
NHTMCP phải được sự chấp thuận của cơ quan quản lý trực tiếp là Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam.
Theo đó, các NHTMCP thực hiện niêm yết phải tuân thủ quy trình,
thủ tục chấp thuận niêm yết trên TTCK theo quy định của Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam.
Sau khi văn bản chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước đối với việc
tổ chức tín dụng cổ phần niêm yết trên TTCK có hiệu lực, NHTMCP phải
thực hiện đăng ký niêm yết trên TTCK theo quy định của pháp luật về
chứng khoán.
14
Thứ ba, NHTMCP có thể tham gia trên TTCK với hai tư cách khác
hạn do khi tham gia niêm yết trên TTCK do NHTMCP có thể thu hút vốn dài
hạn một cách nhanh chóng, thuận tiện, dễ dàng từ việc phát hành cổ phiếu dựa
trên tính thanh khoản cao và uy tín trên thị trường. Các ngân hàng không phải
thanh toán lãi vay cũng như phải trả vốn gốc giống như việc vay nợ truyền
thống thông qua hợp đồng tín dụng. Các NHTMCP niêm yết từ đó sẽ rất chủ
động trong việc sử dụng nguồn vốn huy động được cho mục tiêu kinh doanh
hàng năm, chiến lược và mục tiêu kinh doanh dài hạn của mình. Điều này
cũng được coi là yếu tố quan trọng nhất khi các NHTMCP quyết định niêm
yết cổ phiếu trên TTCK. Đặc biệt là trong điều kiện hiện nay, áp lực tăng vốn
đối với các Ngân hàng đang luôn là vấn đề then chốt để các Ngân hàng tăng
cường năng lực hoạt động, mở rộng trụ sở, phát triển sản phẩm dịch vụ, tăng
cường năng lực đầu tư tài chính.
Hai là, tham gia niêm yết cổ phiếu giúp nâng cao tính thanh khoản
cho cổ phiếu của NHTM.
Nhờ có TTCK, các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ
sở hữu thành tiền mặt hoặc mua bán sang các loại chứng khoán khác khi họ
muốn. Có thể nói rằng, khả năng thanh khoản là một trong những đặc tính hấp
dẫn của chứng khoán đối với nhà đầu tư. Khi thanh khoản tăng, dòng vốn đầu
tư đổ vào thị trường trở nên mạnh mẽ hơn, nghĩa là tính thanh khoản chính là
yếu tố thu hút các nhà đầu tư gia nhập vào thị trường này. Ngược lại, khi thị
trường hoạt động càng năng động và hiệu quả thì càng có khả năng nâng cao
tính thanh khoản của các loại chứng khoán giao dịch trên thị trường.
Khi cổ phiếu các NHTMCP được niêm yết, chúng có thể được nâng
cao tính thanh khoản, mở rộng phạm vi chấp nhận làm tài sản bảo đảm và dễ
dàng được sử dụng phục vụ cho các mục đích về tài chính, thừa kế và các
mục đích khác. Hơn nữa, các cổ phiếu được niêm yết có thể được mua với số
lượng rất nhỏ, do đó các nhà đầu tư có vốn nhỏ vẫn có thể dễ dàng trở thành
cổ đông của NHTMCP.
16
Ba là, quảng bá thương hiệu NHTMCP niêm yết.
1.2. PHÁP LUẬT VỀ NIÊM YẾT CỔ PHIẾU CỦA CÁC NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM
Trước yêu cầu đổi mới và phát triển kinh tế, phù hợp với các điều hiện
kinh tế - chính trị và xã hội trong nước và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, trên
cơ sở tham khảo có chọn lọc các kinh nghiệm và mô hình TTCK trên thế giới,
Việt Nam đã quyết định thành lập TTCK với những đặc thù riêng biệt: về chủ
trương, ban đầu sẽ thành lập hai trung tâm giao dịch chứng khoán ở Thành
phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, sau đó khi thị trường đã phát triển thì sẽ chuyển
thành Sở giao dịch chứng khoán. Hiện tại đã phát triển thành hai Sở giao dịch
chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội.
Sự ra đời và phát triển của TTCK Việt Nam được đánh dấu bằng việc
đưa vào vận hành Trung tâm giao dịch chứng khoán tại Thành phố Hồ Chí
Minh ngày 20/7/2000 và thực hiện phiên giao dịch đầu tiên ngày 28/7/2000.
1.2.1. Các chủ thể có liên quan trong quá trình niêm yết cổ phiếu
của ngân hàng thương mại cổ phần trên thị trường chứng khoán
Như đã phân tích ở trên, TTCK là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch
mua bán chứng khoán trung và dài hạn. Việc mua bán này được tiến hành ở
thị trường sơ cấp khi người mua mua được chứng khoán lần đầu từ những
người phát hành, và ở những thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các
chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp. Như vậy, xét về mặt hình
thức, TTCK chỉ là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán, chuyển nhượng
các loại chứng khoán, qua đó thay đổi chủ thể nắm giữ chứng khoán [27].
Các chủ thể tham gia trong quá trình niêm yết cổ phiếu của NHTMCP
trên TTCK có thể được chia thành các nhóm sau: nhà phát hành đồng thời là
chủ thể thực hiện niêm yết là các NHTMCP, nhà đầu tư và các tổ chức có liên
quan đến chứng khoán.
18
1.2.1.1. Chủ thể thực hiện niêm yết
Chủ thể thực hiện niêm yết là các NHTMCP thực hiện huy động vốn
thông qua TTCK; hay còn gọi là các “nhà phát hành” chứng khoán. Các
- Có ít nhất 02 năm hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần tính đến
thời điểm đăng ký niêm yết (ngoại trừ các Ngân hàng nhà nước cổ phần hóa
gắn với niêm yết); tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) năm
gần nhất tối thiểu là 5% và hoạt động kinh doanh của hai năm liền trước năm
đăng ký niêm yết phải có lãi; không có các khoản nợ phải trả quá hạn trên 01
năm; không có lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký niêm yết; tuân thủ các quy
định của pháp luật về kế toán báo cáo tài chính;
- Công khai mọi khoản nợ đối với công ty của thành viên Hội đồng
quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc (Tổng Giám đốc), Phó Giám đốc (Phó
Tổng Giám đốc), Kế toán trưởng, cổ đông lớn và những người có liên quan;
- Tối thiểu 20% cổ phiếu có quyền biểu quyết do ít nhất ba trăm (300)
cổ đông không phải cổ đông lớn nắm giữ;
- Cổ đông là cá nhân, tổ chức có đại diện sở hữu là thành viên Hội
đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc (Tổng Giám đốc), Phó Giám đốc
(Phó Tổng Giám đốc) và Kế toán trưởng của công ty; cổ đông lớn là người có
liên quan với thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc (Tổng
Giám đốc), Phó Giám đốc (Phó Tổng Giám đốc) và Kế toán trưởng của công
ty phải cam kết nắm giữ 100% số cổ phiếu do mình sở hữu trong thời gian 06
tháng kể từ ngày niêm yết và 50% số cổ phiếu này trong thời gian 06 tháng
tiếp theo, không tính số cổ phiếu thuộc sở hữu Nhà nước do các cá nhân trên
đại điện nắm giữ;
- Có hồ sơ đăng ký niêm yết cổ phiếu hợp lệ theo quy định.
- Được sự chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
20
1.2.2.2. Điều kiện niêm yết cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ
phần tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
Theo quy mô và đặc điểm của từng Sở giao dịch chứng khoán, việc
quy định điều kiện niêm yết cổ phiếu của từng Sở giao dịch sẽ có sự khác
nhau. Đối với Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội thì điều kiện niêm yết được
quy định thấp hơn so với Sàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí
chỉ tiêu tài chính. Tuy nhiên, do đặc điểm, quy mô và yêu cầu đối với từng Sở
giao dịch nên các chỉ số tài chính cụ thể là có sự khác biệt.
Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh đòi hỏi chủ thể
thực hiện niêm yết phải có quy mô vốn điều lệ lớn hơn rất nhiều so với Sở
giao dịch chứng khoán Hà Nội (120 tỷ so với 30 tỷ); thời gian hoạt động dài
hơn tính đến thời điểm đăng ký niêm yết (2 năm so với 1 năm); đặc biệt là cơ
cấu cổ đông với tỷ lệ cổ phiếu có quyền biểu quyết không phải là cổ đông lớn
phải đặt mức độ cao hơn (20% và so với 15%). Điều này cho thấy: yêu cầu
niêm yết, điều kiện niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí
Minh được xem là quy mô hơn, khó khăn hơn so với Sở giao dịch chứng
khoán Hà Nội. Điều này được lý giải nhằm phù hợp với lịch sử phát triển, quy
mô phát triển và điều kiện đáp ứng của từng Sở giao dịch chứng khoán.
Hiện nay, các NHTMCP đã niêm yết trên TTCK thì hầu hết đều thực
hiện đăng ký niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
do hầu hết các Ngân hàng đều thỏa mãn và đáp ứng tốt các điều kiện niêm yết
theo quy định pháp luật. Việc niêm yết tại một thị trường “quy mô hơn” sẽ
đem lại những lợi ích nhất định đối với các chủ thể niêm yết trên thị trường
này như: nâng cao vị thế và uy tín cho chủ thể niêm yết, tăng khả năng thanh
khoản cho cổ phiếu niêm yết…
22
1.2.3. Trình tự niêm yết cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ
phần ở Việt Nam
1.2.3.1. Thủ tục chấp thuận niêm yết theo quy định của Ngân hàng
Nhà nước
Trong quá trình thực hiện niêm yết cổ phiếu, ngoài việc tuân thủ các
quy định về chứng khoán và TTCK, các NHTM còn phải tuân thủ quy định
chuyên ngành của NHNN; đặc biệt là việc tuân thủ các điều kiện về thời gian
hoạt động, vốn điều lệ, chỉ tiêu an toàn tài chính, tỉ lệ nợ xấu…
Theo quy định tại Thông tư số 26/2012/TT-NHNN ngày 13 tháng 09
năm 2012 về hướng dẫn thủ tục chấp thuận của NHNNVN đối với việc niêm
khoán là cần thiết do đây là lĩnh vực nhạy cảm, có rủi ro cao, hoạt động của
các NHTM luôn được coi là “huyết mạch” của nền kinh tế và có ảnh hưởng
trực tiếp đến tất cả các ngành nghề, lĩnh vực khác. Chỉ các ngân hàng đáp ứng
đầy đủ các điều kiện nêu trên mới được NHNN xem xét chấp thuận việc niêm
yết trên sàn, điều này góp phần đảm bảo an toàn hệ thống của chính các
NHTM tham gia niêm yết cũng như đảm bảo sự phát triển của thị trường
chứng khoản.
Nếu đáp ứng các điều kiện nêu trên, các NHTM phải chuẩn bị hồ sơ
đề nghị chấp thuận niêm yết trên TTCK bao gồm các tài liệu như: Văn bản
của NHTMCP đề nghị Ngân hàng Nhà nước chấp thuận niêm yết trên TTCK;
Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông thông qua việc niêm yết trên TTCK;
Báo cáo tài chính hợp nhất có kiểm toán và báo cáo tài chính riêng lẻ có kiểm
toán của 02 (hai) năm liền kề trước năm đề nghị. Trường hợp năm liền kề
năm đề nghị chưa có báo cáo tài chính có kiểm toán, tổ chức tín dụng cổ phần
gửi kèm hồ sơ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và bảng cân đối kế toán
của năm này, đồng thời có văn bản cam kết bổ sung báo cáo tài chính sau khi
có kết quả kiểm toán.
24
Sau khi nhận được bộ hồ sơ đầy đủ của NHTM, trong thời hạn theo
quy định pháp luật (Hiện nay Thông tư số 26/2012/TT-NHNN ngày 13 tháng
09 năm 2012 về hướng dẫn thủ tục chấp thuận của NHNNVN đối với việc
niêm yết trên TTCK trong nước và nước ngoài của tổ chức tín dụng cổ phần
thì thời hạn là 40 ngày), Ngân hàng Nhà nước có văn bản chấp thuận hoặc
không chấp thuận việc NHTMCP niêm yết trên TTCK. Sau khi văn bản chấp
thuận của Ngân hàng Nhà nước đối với việc tổ chức tín dụng cổ phần niêm
yết trên TTCK có hiệu lực, NHTMCP phải đăng ký niêm yết trên TTCK theo
quy định của pháp luật về chứng khoán.
1.2.3.2. Thủ tục đăng ký niêm yết chứng khoán tại Sở giao dịch
chứng khoán
Thứ nhất, về hồ sơ đăng ký niêm yết chứng khoán.