MỤC LỤC
1
THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
STT Viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt
1 UI User interface Giao diện người dùng
2 OS operating system Hệ điều hành
3 SDK Software development kit Bộ phát triển phần mềm
4 IDE Integrated development
environment
Môi trường tích hợp các công cụ
cho phát triển phần mềm
5 ADT Android Developer Tools Công cụ phát triển Android
6 APK Android application package Tập tin gói ứng dụng Android
7 IPA IOS application Tập tin gói ứng dụng IOS
8 MIDP Mobile Information Device
Profile
Hồ sơ thiết bị thông tin di động (là
hồ sơ công bố việc sử dụng java
trên các thiết bị di động)
9 WAP Wireless Application
Protocol
Giao thức ứng dụng không dây
10 API Application Programming
Interface
Giao diện lập trình ứng dụng
11 CPU Central Processing Unit Bộ xử lý trung tâm
12 GPU Graphics processing unit Bộ xử lý đồ họa
13 RAM Random Access Memory Bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên
14 ROM Read-Only Memory Bộ nhớ chỉ đọc
15 SoC System-on-chip Hệ thống trên chip
16 USB Universal Serial Bus Một chuẩn kết nối trên máy tính
động nâng cấp từ GPRS
31 2G second-generation Công nghệ truyền thong thế hệ hai
32 3G third-generation Công nghệ truyền thong thế hệ ba
33 4G fourth-generation Công nghệ truyền thong thế hệ tư
34 LTE Long Term Evolution Một chuẩn nâng cấp cho mạng 4G
35 GPS Global Positioning System Hệ thống định vị toàn cầu
36 NFC Near-Field Communications Kết nối không dây tầm gần
37 Wi-Fi Wireless Fidelity Mạng không dây sử dụng sóng vô
tuyến
38 MHL
Mobile High-Definition Link Liên kết hình ảnh độ nết cao trên điện
thoại
3
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ
4
LỜI NÓI ĐẦU
Năm 1876 cuộc gọi đầu tiên bằng điện thoại ra đời đánh dấu một sự thay
đổi quan trọng trong thông tin liên lạc của con người. Quá trình phát triển của
thiết bị điện thoại luôn luôn diễn ra với nhiều thay đổi và đưa đến cho con người
nhiều lợi ích.
Những năm cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 cùng với sự phát triển của khoa
học máy tính công nghệ điện thoại cũng được phát triển nhanh chóng đưa đến
cho con người nhiều tiện ích ngoài sức tưởng tượng.
Sự ra đời của những chiếc điện thoại thông minh với nhiều tính năng ưu
việt được con người khai thác gần như nó trở thành người bạn không thể tách rời
với mỗi người. Với chiếc điện thoại thông minh con người không chỉ gọi điện và
nhắn tin thông thường, nó có thể thay thế một chiếc máy tính cá nhân giúp con
người kết nối internet, kiểm tra thư điện tử, điều khiển máy tính, giám sát
camera, thanh toán tiền… mọi lúc mọi nơi.
Điện thoại thông minh với nhiều ưu việt nhưng ít ai biết đến sự ra đời, các
Chiếc điện thoại được coi là di động đầu tiên được quảng cáo vào năm
1967 với tên gọi Carry phone. Vào thời điểm đó, để sử dụng được điện thoại di
động thì người ta phải mang theo một chiếc hộp máy nặng đến 4,5 kg. Cùng với
giá cao nên nó gần như không được phổ biến lúc bấy giờ.
Hình 1.4: Chiếc điện thoại được coi là di động đầu tiên
7
Cho đến ngày 3 tháng 4 năm 1973 thì điện thoại đi động thực sự được ra
đời bởi Martin Cooper, một nhà phát minh tiên phong làm việc cho Motorola tại
New York. Martin Cooper đã thực hiện cuộc gọi đến cho một kỹ sư khác của
hãng công nghệ đối thủ, với mục đích để… khoe về thành tích mà mình và
Motorola vừa đạt được. Motorola đã giành chiến thắng trong việc xây dựng
thành công chiếc điện thoại di động đầu tiên trên thế giới.
Hình 1.5: Martin Cooper và chiếc điện thoại di động đầu tiên
Trên thực tế, nhiều người, ngay cả các nhân viên làm việc tại Motorola
cũng không tin rằng điện thoại di động có thể trở thành một sản phẩm tiêu dùng
phổ biến. Tuy nhiên Cooper và các đồng sự trong nhóm phát triển của mình
không tin như vậy, và ông đã đúng. 10 năm sau cuộc gọi lịch sử đầu tiên, chiếc
điện thoại di động của Motorola đã xuất hiện trên thị trường với giá bán lẻ lên
đến gần 4.000 USD.
1.2. Sự ra đời và phát triển của điện thoại thông minh
Ngày nay, sau gần nửa thế kỷ tồn tại và phát triển, điện thoại di động đã
trở nên phổ biến và xuất hiện ở khắp nơi trên thế giới. Theo thống kê của Liên
Hợp Quốc, hiện có khoảng 6 tỷ thuê bao di động trên toàn cầu, và ngày càng
nhiều người dùng chuyển từ các điện thoại cơ bản sang điện thoại thông minh.
Ước tính hiện có khoảng 1 tỷ điện thoại thông minh được sử dụng trên toàn thế
giới.
8
Điện thoại thông minh không như những chiếc điện thoại thông thường,
nó có bộ vi xử lý, ram, bộ lưu trữ… và sử dụng một hệ điều hành. Nó vượt xa
chức năng nghe gọi, nhắn tin, giải trí trên điện thoại thông thường. Người dùng
những chiếc điện thoại thông minh chạy hệ điều hành Windows Mobile.
10
Hình 1.8: Một điện thoại thông minh sử dụng hệ điều hành Windows Mobile
- Sự phát triển của điện thoại thông minh thời đó gần như chỉ dành cho
Nokia với những chiếc điện thoại thông minh chạy hệ điều hành Symbian. Đến
năm 2007 hãng Apple giới thiệu với thế giới chiếc điện thoại với tên IPhone 2G
sử dụng hệ điều hành IOS. Chiếc IPhone 2G được coi là diện mạo hoàn toàn
mới cho điện thoại thông minh. Thế giới coi IPhone 2G là điện thoại thông minh
đúng nghĩa đầu tiên.
Hình 1.9: IPhone 2G điện thoại thông minh đúng nghĩa đầu tiên
- Cuối năm 2007 đầu năm 2008 những hệ điều hành sử dụng cho điện
thoại thông minh ngoài IOS trên IPhone 2G chủ yếu là Windows Mobile,
Symbian, Backbery OS. Nhưng cùng thời điểm này Google cũng đã giới thiệu
Android, một hệ điều hành mã nguồn mở cho điện thoại thông minh. Và sau đó
những chiếc điện thoại thông minh chạy hệ điều hành Android liên tục được ra
đời trên thế giới.
11
Hình 1.10: Chiếc Google G1 điện thoại Android đầu tiên trên thế giới
- Năm 2010 thị trường điện thoại thông minh phát triển mạnh mẽ với sự
chiếm lĩnh của những chiếc điện thoại chạy hệ điều hành Android và IOS.
Microsoft nhận thấy Windows Mobile của họ đang bị quên lãng chính vì thế
tháng 2 năm 2010 Microsoft chính thức giới thiệu hệ điều hành Windows Phone
7 và con đường của Microsoft là đúng đắn, cho đến nay Microsoft đã giới thiệu
Windows Phone 8 và trở thành một trong ba hệ điều hành chính cùng Android
và IOS cho điện thoại thông minh.
Hình 1.11: Hệ điều hành Windows Phone 7 trên HTC HD 7
1.3.Ưu nhược điểm của điện thoại thông minh
Điện thoại thông minh có tất cả những tính năng cơ bản của điện thoại di
động thông thường như nghe gọi nhắn tin văn bản nhưng vì sao nó được gọi là
điện thoại thông minh? Nó là sự kết hợp của điện thoại di động thông thường
nhưng chất lượng và độ bền cũng không thể so sánh được với điện thoại di động
thông thường.
13
CHƯƠNG 2. HỆ ĐIỀU HÀNH
SỬ DỤNG TRONG ĐIỆN THOẠI THÔNG MINH
Điện thoại thông minh cũng giống như máy tính cá nhân nó có hệ điều
hành điều khiển hệ thống, giúp thiết bị giao tiếp với người dùng. Trên thực tế hệ
điều hành của điện thoại thông minh ít nhiều cũng liên quan đến các hệ điều
hành trên máy tính cá nhân. Hiện nay điện thoại thông minh sử dụng 3 hệ điều
hành chính là Android của Google được phát triển từ Linux, IOS của Apple nhà
phát hành OS X trên Imac và Macbook, Windows Phone của Microsoft, nhà
phát hành hệ điều hành Windows được sử dụng nhiều nhất trên máy tính cá
nhân. Ngoài ra còn rất nhiều hệ điều hành khác được sử dụng trên điên thoại
thông minh.
2.1 Windows Mobile và Windows Phone của Microsoft
Hình 2.1: Logo hệ điều hành Windows của Microsoft
Hệ điều hành Windows của Microsoft được sử dụng rất nhiều trên máy
tính cá nhân và hầu như ai cũng biết. Microsoft không dừng lại ở việc phát triển
hệ điều hành cho máy tính, những năm đầu thế kỷ 21 họ phát hành bản
Windows CE cho thiết bị máy tính bỏ túi (pocket PC) dần dần cùng với sự ra
đời và phát triển của điện thoại thông minh Microsoft tích hợp máy tính bỏ túi
và điện thoại thông thường cho ra đời những chiếc điện thoại thông minh chạy
hệ điều hành Windows Mobile. Đến năm 2010 sự lỗi thời của Windows Mobile
được Microsoft làm mới bởi hệ điều hành Windows Phone.
14
2.1.1. Windows Mobile
Windows Mobile là một hệ điều hành loại thu gọn kết hợp với một bộ các
ứng dụng cơ bản cho các thiết bị di động dựa trên giao diện lập trình ứng dụng
Win32 của Microsoft. Các thiết bị chạy Windows Mobile bao gồm Pocket PC,
Điện thoại thông minh, Portable Media Center, và các máy tính lắp sẵn (on-
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thất bại chủ yếu là do quá ít hãng sản xuất phần
cứng mặn mà với nó. Tại thời điểm đó người dùng cũng ít lựa chọn vì giá thành
thiết bị đầu cuối cao mà độ ổn định màn hình cảm ứng lại không cao.
2.1.2 Windows Phone
Windows Phone là hệ điều hành của Microsoft dành cho điện thoại thông
minh kế tục nền tảng Windows Mobile, mặc dù chúng không tương thích với
nhau. Khác với Windows Mobile, Windows Phone tập trung vào sự phát triển
của chợ ứng dụng Marketplace - nơi các nhà phát triển có thể cung cấp sản
phẩm tới người dùng. Windows Phone được bán vào tháng 10 năm 2010 và đầu
năm 2011 tại Châu Á.
16
Phiên bản mới nhất hiện tại là Windows Phone 8. Microsoft còn đang
phát triển bản Windows Phone Apollo Plus, và trong tương lai có thể còn có
Windows Blue (hay có thể là Windows 9) giúp tương thích với hệ điều hành
Windows trên máy tính. Với Windows Phone, Microsoft đã phát triển giao diện
người dùng mới mang tên Modern (trước đây tên là Metro) - tích hợp khả năng
liên kết với các phần cứng và phần mềm của hãng thứ ba một cách dễ dàng.
Phần mềm trên Windows Phone cũng gần tương đối với phần mềm trên máy
tính với đầy đủ tính năng độc đáo và thú vị hơn rất nhiều so với Windows
Mobile.
2.1.2.1. Windows Phone 7
Windows Phone 7 được ra mắt vào ngày 15 tháng 2 năm 2010 ở Mobile
World Congress tại Barcelona, Tây Ban Nha và chính thức bán ra vào ngày 8
tháng 11 năm 2010 tại Mỹ.
Ban đầu Microsoft phát hành bản cập nhật No Do, tiếp sau đó là bản nâng
cấp lớn Mango (còn được biết là Windows Phone 7.5) vào tháng 5 năm 2011.
Bản cập nhật này bao gồm phiên bản di động rút gọn của Internet Explorer 9
trên máy tính, đa nhiệm cho phần mềm của công ty thứ ba, hợp nhất Twitter vào
People Hub, và cho phép đăng nhập SkyDrive.
Một bản nâng cấp nhỏ được phát hành năm 2012 là "Tango". Trong bản
những "Live Tiles". Những Tiles này dẫn đến những ứng dụng, tính năng, chức
năng và những thứ khác như tên danh bạ, bookmarks, tập tin nhạc, Người
dùng có thể thêm, sắp xếp hoặc xóa, tuy nhiên nó không đồng nghĩa việc gỡ ứng
dụng ra khỏi thiết bị. Live Tiles hoạt động theo thời gian thực. Ví dụ như Tiles
email sẽ hiện số mail chưa đọc và nội dung của nó, Tiles thời tiết sẽ cập nhật
thông tin thời tiết nhanh nhất, Tiles lịch sẽ hiện những cuộc hẹn trong hôm nay
và ngày mai. Mọi thông báo đều hiện qua các Tiles này, tạo sự tiện dụng cho
người dùng khi không cần thanh thông báo như Android hay IOS. Kể từ
Windows Phone 7.8 và Windows Phone 8, Tiles có thể phóng to hay thu nhỏ
thành các kích cỡ khác gồm nhỏ, vừa và lớn.
Hình 2.6: Giao diện trên Windows Phone
2.1.2.4. Các HUB
Một trong những điểm đặc biệt của Windows Phone đó chính là Hub. Hub
kết hợp những nội dung trong máy và trực tuyến thông qua sự tích hợp của
Windows Phone với những mạng xã hội như Facebook, LinkedIn, Twitter, cũng
như điện toán đám mây. Có các loại Hub:
- Hub ảnh: Trong Hub ảnh sẽ có những tấm ảnh bạn chụp bằng điện thoại
và album Facebook, SkyDrive, từ tài khoản người dùng. Người dùng có thể tải
ảnh lên Facebook ngay tại Hub ảnh.
- Hub danh bạ: Hiển thị danh bạ trong máy hợp với các nguồn khác như
Facebook, Windows Live,
19
- Hub văn phòng: Các tài liệu Microsft Word, Microsoft Excel trong máy
và trên SkyDrive.
- Hub tin nhắn: Gửi tin nhắn trong danh bạ điện thoại và chat Facebook.
- Hub trò chơi: Kết nối với XBOX Live
- Hub media: Kết nối với XBOX Live Musics and Videos
2.1.2.5. Đánh giá
Windows Phone được Microsoft đưa ra để khắc phục thất bại của
Windows Mobile. Và Microsoft có vẻ đã thành công với phiên bản này. Hiện
cảm ứng mượt mà, thường dùng tính năng rung của thiết bị để tạo phản hồi rung
cho người dùng. Những thiết bị phần cứng bên trong như cảm biến ánh sáng,
cảm biến tiệm cận và cảm biến chuyển động được một số ứng dụng sử dụng để
phản hồi một số hành động khác của người dùng, ví dụ như điều chỉnh màn hình
từ chế độ hiển thị dọc sang chế độ hiển thị ngang tùy theo vị trí của thiết bị.
Hình 2.8: Giao diện gốc của Android phiên bản 4.4 Kitkat
Các thiết bị Android sau khi khởi động sẽ hiển thị màn hình chính, điểm
khởi đầu với các thông tin chính trên thiết bị, tương tự như khái niệm desktop
(bàn làm việc) trên máy tính cá nhân. Màn hình chính Android thường gồm
nhiều biểu tượng (icon) và tiện ích (widget), biểu tượng ứng dụng sẽ mở ứng
21
dụng tương ứng, còn tiện ích hiển thị những nội dung sống động, cập nhật tự
động như dự báo thời tiết, hộp thư của người dùng, hoặc những mẩu tin thời sự
ngay trên màn hình chính. Màn hình chính có thể gồm nhiều trang xem được
bằng cách vuốt ra trước hoặc sau, mặc dù giao diện màn hình chính của Android
có thể tùy chỉnh ở mức cao, cho phép người dùng tự do sắp đặt hình dáng cũng
như hành vi của thiết bị theo sở thích. Những ứng dụng do các hãng thứ ba có
trên Google Play và các kho ứng dụng khác còn cho phép người dùng thay đổi
"chủ đề" của màn hình chính, thậm chí bắt chước hình dáng của hệ điều hành
khác như Windows Phone chẳng hạn. Phần lớn những nhà sản xuất, và một số
nhà mạng, thực hiện thay đổi giao diện của các thiết bị Android của họ để phân
biệt với các hãng cạnh tranh.
Ở phía trên cùng màn hình là thanh trạng thái, hiển thị thông tin về thiết bị
và tình trạng kết nối. Thanh trạng thái này có thể "kéo" xuống để xem màn hình
thông báo gồm thông tin quan trọng hoặc cập nhật của các ứng dụng, như email
hay tin nhắn SMS mới nhận, mà không làm gián đoạn hoặc khiến người dùng
cảm thấy bất tiện. Trong các phiên bản đời đầu, người dùng có thể nhấn vào
thông báo để mở ra ứng dụng tương ứng, về sau này các thông tin cập nhật được
bổ sung theo tính năng, như có khả năng lập tức gọi ngược lại khi có cuộc gọi
nhỡ mà không cần phải mở ứng dụng gọi điện ra. Thông báo sẽ luôn nằm đó cho
web khác. Các ứng dụng trên Google Play cho phép người dùng duyệt, tải về và
cập nhật dễ dàng. Google Play được cài đặt sẵn trên các thiết bị thỏa mãn điều
kiện tương thích của Google. Ứng dụng sẽ tự động lọc ra một danh sách các ứng
dụng tương thích với thiết bị của người dùng, và nhà phát triển có thể giới hạn
ứng dụng của họ chỉ dành cho những nhà mạng cố định hoặc những quốc gia cố
định vì lý do kinh doanh. Nếu người dùng mua một ứng dụng mà họ cảm thấy
không thích, họ được hoàn trả tiền sau 15 phút kể từ lúc tải về, và một vài nhà
mạng còn có khả năng mua giúp các ứng dụng trên Google Play, sau đó tính tiền
vào trong hóa đơn sử dụng hàng tháng của người dùng. Đến tháng 9 năm 2012,
có hơn 675.000 ứng dụng dành cho Android, và số lượng ứng dụng tải về từ
Google Play ước tính đạt 25 tỷ.
Các ứng dụng cho Android được phát triển bằng ngôn ngữ Java sử dụng
Bộ phát triển phần mềm Android (SDK). SDK bao gồm một bộ đầy đủ các công
cụ dùng để phát triển, gồm có công cụ gỡ lỗi, thư viện phần mềm, bộ giả lập
điện thoại dựa trên QEMU, tài liệu hướng dẫn, mã nguồn mẫu, và hướng dẫn
từng bước. Môi trường phát triển tích hợp (IDE) được hỗ trợ chính thức là
Eclipse sử dụng phần bổ sung Android Development Tools (ADT). Các công cụ
23
phát triển khác cũng có sẵn, gồm có Bộ phát triển gốc dành cho các ứng dụng
hoặc phần mở rộng viết bằng C hoặc C++, Google App Inventor, một môi
trường đồ họa cho những nhà lập trình mới bắt đầu, và nhiều nền tảng ứng dụng
web di động đa nền tảng phong phú.
2.2.3 Đánh giá
Android là một hệ điều hành mã nguồn mở không ràng buộc khiến nó trở
thành nền tảng điện thoại thông minh phổ biến nhất thế giới, vượt qua Symbian
vào quý 4 năm 2010, và được các công ty công nghệ lựa chọn khi họ cần một hệ
điều hành không nặng nề, có khả năng tinh chỉnh, và giá rẻ chạy trên các thiết bị
công nghệ cao thay vì tạo dựng từ đầu. Kết quả là mặc dù được thiết kế để chạy
trên điện thoại và máy tính bảng, Android đã xuất hiện trên TiVi, máy chơi
game và các thiết bị điện tử khác. Bản chất mở của Android cũng khích lệ một
gồm cử chỉ như: vuốt, chạm, kéo dãn và thu lại, tất cả đều có tác dụng cụ thể
trong hệ điều hành IOS và giao diện cảm ứng đa điểm của nó. Giao diện IOS
khá đơn giản với màn hình chủ với tên gọi “SpringBoard” chỉ có các biểu tượng
của ứng dụng và một dock phía dưới màn hình để chứa biểu tượng tương ứng
của ứng dụng hay dùng (trên điện thoại thông minh IPhone tối đa 4 biểu tượng).
Ngoài các biểu tượng mặc định như gọi điện, nhắn tin, thư viện… thì khi người
dùng cài một ứng dụng khác nó sẽ hiển thị luôn lên màn hình chủ và xóa biểu
tượng ứng dụng trên màn hình chủ đồng nghĩa với việc xóa hẳn ứng dụng trên
thiết bị. Vì IOS là hệ điều hành không mở nên việc tùy biến giao diện trên IOS
25