tiểu luận TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ PHÁP TRỊ CỦA HÀN PHI TỬ VÀ GIÁ TRỊ LỊCH SỬ CỦA NÓ - Pdf 26

TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ PHÁP TRỊ CỦA HÀN PHI TỬ
VÀ GIÁ TRỊ LỊCH SỬ CỦA NÓ
Tác phẩm Hàn Phi Tử là một tác phẩm độc đáo, và là công trình
quan trọng nhất của chính trị học Trung Hoa, là một trong những tác phẩm
đầu tiên của chính trị học thế giới. Về tư tưởng nó xác lập trường phái pháp
gia, một trong bốn trường phái lớn nhất của Trung Quốc (Nho, Pháp, Mặc,
Đạo). Nó là một trong những công trình cực kỳ hấp dẫn, viết cách đây
2.300 năm nhưng ai cũng giật mình về tính thời sự của nó, ta có cảm tưởng
tác giả là người hiện nay, nói bằng ngôn ngữ và cách lý luận hôm nay về
cách quan hệ giữa người với người, không chỉ ở Trung Hoa mà cả thế giới,
trong đó có Việt Nam. Đó là một con người có đầu óc lỗi lạc của Trung
Hoa và của xã hội loài người. Ngày nay chúng ta nghiên cứu tư tưởng Hàn
Phi vẫn thấy những tác nhân hợp lý của nó, vẫn đầy tính thực tiễn trong đời
sống xã hội, trong ứng xử giữa người với người, trong quản lý và thuật trị
mới. Tư tưởng của ông tồn tại lâu như vậy đó là vì nó có tính giáo dục sâu
sắc, dạy đời, dạy người sống tốt đời đẹp đạo, có lý có tình, trên cơ sở vận
dụng một cách linh hoạt vào thực tiễn cuộc sống.
1. Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm
Hàn Phi Tử (280 - 232 TCN). Tiểu sử của ông đã được Tư Mã
Thiên để lại trong bộ sử ký. Hàn Phi là công tử nước Hàn nhưng không
phải là người được nối ngôi. Hoàn cảnh ấy đủ giúp Phi ngay từ bé đã thấy
quan hệ vua tôi và cách trị nước. Sau đó ông theo học Tuân Tử, nhà học giả
lớn nhất thời bấy giờ. Hàn Phi tiếp thu Nho giáo, do đó rất thông thạo về
lịch sử.
Cùng học có Lý Tư sau này là thừa tướng nước Tần. Hàn Phi học
rộng, biết sâu, yêu nước, muốn nước Hàn vững mạnh bằng chủ trương pháp
trị, nhưng không thành. Ông viết sách bàn về việc trị nước, sách được dâng
lên Tần Thủy Hoàng. Vua Tần Thủy Hoàng vô cùng khâm phục nói: "Ta
1
được làm bạn với người này thì có chết cũng không uổng". Hàn Phi được
giao làm sứ giả sang nước Tần làm thuyết khách, để cứu nước Hàn khỏi bị

trị tội thì dân chịu chết không oán, lấy pháp luật mà định công lao thì dân
được thưởng mà không cho là ân đức. Cho nên quan lại sai khiến dân mà
có pháp luật chống nhau với quan lại. Người dưới lấy pháp luật phục vụ
người trên, bọn dối trá không thể lừa chủ được, bọn ghen ghét không thể có
cái hung ác, bọn xu nịnh không thể khoe cái khéo, ngoài ngàn dặm không
dám làm điều trái.
Đến đời Chiến Quốc, Thương Ưởng ở nước Tần triều đại Tần
Hiếu Công đề cao pháp luật. Luật pháp có từ trước đó nhưng chỉ có tầng
lớp quan lại biết đến, nhưng đến đời Thương Ưởng thì nhà nước cho
công bố rộng rãi và công khai cho mọi người biết trên thân của đỉnh
đồng. Pháp luật là mệnh lệnh ban bố rõ ràng ở nơi của công, hình phạt
chắc chắn đối với lòng dân, thưởng cho những kẻ cẩn thận giữ pháp luật,
phạt những kẻ làm trái lệnh. Ông đặt ra quy chế tố cáo lẫn nhau để xét
thực sự, cho các nhà kết thành từng nhóm năm nhà, mười nhà cùng nhau
chịu tội, thưởng hậu mà chắc chắn, hình phạt nặng và dứt khoát. Sử ký
Tư Mã Thiên dùng: "Ưởng sai chia quân thành từng nhóm, năm hộ,
mười hộ, phải kiểm soát nhau vì bị giàng buộc vào nhau. Ai không tố
cáo kẻ gian thì bị chém ngang lưng, ai tố cáo kẻ gian thì cũng được
thưởng ngang với chém đầu quân địch; người che giấu quân gian bị phạt
ngang với người đầu hàng quân địch. Gia đình có hai người con trai trở
lên mà không chia của riêng thì bắt đánh thuế gấp đôi. Ai có công thì cứ
theo bậc mà thưởng, ai đánh nhau về việc riêng thì đều bị hình phạt lớn
hay nhỏ, tùy theo nặng hay nhẹ mà trị. Ai ra sức vào nghề nghiệp gốc,
cày cấy, dệt vải, cung cấp nhiều lúa thì được tha khỏi sưu dịch. Trái lại
ai theo cái lợi trên ngọn (ý nói buôn bán) cùng những người lười và
nghèo thì đều bắt cùng với vợ con làm nô. Định cấp bậc tước trật cao
thấp rõ ràng, ghi tên các ruộng vườn, thần thiếp áo quần theo số liệu
3
từng nhà. Ai có công thì hiển vinh, ai không có công thì tuy giàu có cũng
không được vinh hoa. Như vậy nguyên lý cơ bản của biện pháp Thương

Hàn Phi Tử là người kết hợp cả ba phái: Pháp - Thuật - Thế. Trong
hoàn cảnh xã hội lúc đó Phi đau xót: Các vua chúa, trước hết là nước Hàn
chẳng lo soi sáng pháp chế, nắm lấy cái thế để chế ngự bầy tôi, lo cho nước
giàu dân mạnh, dùng những người tài giỏi, trái lại họ nghe theo bọn sâu
mọt làm hại nước. Ông có sẵn kiến thức vô cùng uyên bác để tiếp thu Tuân
Tử, ông kiểm soát lại tình hình chính trị của các thời đại, lý giải tại sao
nước này mạnh, nước kia yếu, thời kỳ này cường thịnh thời kỳ kia suy đồi.
Ông thấy lý do là rất đơn giản. Những người nhà vua cần dựa vào để bảo
vệ đất nước là những người tài giỏi, binh sĩ, người cày thì vứt bỏ. Trái lại
nhà vua lo nuôi bọn lừa dối, làm hại đến nước, không ai chịu xây dựng một
kỷ cương, pháp luật để làm cho dân giàu nước mạnh và chỉ vâng theo ham
thích nhất thời. Càng hiểu được sự thực ông càng thất vọng. Ông phẫn uất
trong cảnh cô độc, thấy cái khó trong việc nói sự thực. Phi là người có tật,
ông nói ngọng - không thành công trong việc nói, ông dốc hết tâm trí vào
việc viết, mong để lại cho đời sau các học thuyết mà ông tin là sẽ làm cho
dân yên nước mạnh.
Việc pháp gia chọn phương pháp - pháp trị không phải xuất phát từ
ý muốn chủ quan mà xuất phát từ những tiền đề lý luận, tiền đề lịch sử xã
hội quan niệm về đạo đức luân lý nhất định. Đó là bản tính ác của con
người được khởi xướng từ Tuân Tử mà Hàn Phi đã vận dụng phép trị nước
của mình.
Hàn Phi lý luận: Sự thay đổi về dân số và số lượng của cải trong xã
hội. Đàn ông không cần cày cấy vì đã có sản phẩm cây cỏ đủ ăn, đàn bà
không cần dệt vải vì đã có lông chim, da thú để mặc, lúc đó người ít, của
cải dư thừa, mọi người không tranh giành nhau nên không cần thưởng phạt,
lúc ấy con người cai trị tự nhiên. Khi con người đã đông (chúng ta vẫn nói
5
người khôn, của khó) của cải ít đi, mọi người làm việc vất vả mà vẫn không
đủ ăn, cho nên phải tranh giành nhau, cướp giật, gây chiến tranh lúc này
phải cần đến pháp luật.

Tư tưởng chính trị cơ bản của Hàn Phi có thể tóm tắt theo những
nét chính sau đây:
Thứ nhất; Tư tưởng coi trọng pháp luật
Theo Hàn Phi, việc dùng pháp luật là tất nhiên bởi vì bản tính người
không phải là thiện, số người thiện tuy có nhưng ít, chờ người ta làm điều
thiện không phải là cách cai trị hiệu quả, vừa phải dùng pháp luật để khiến
người ta không làm điều ác. Hàn Phi khẳng định tầm quan trọng của pháp
luật: "Bỏ pháp luật và thuật trị nước mà lấy cái tâm để trị thì Nghiêu cũng
không chỉ chỉnh đốn được một nước. Bỏ cái quy, cái củ mà lấy ý mà đo đạc
bừa thì Hề Trọng (quan coi xe cộ của Hạ Vũ) không thể làm thành một
bánh xe. Bỏ thước tấc để so sánh cái dài, cái ngắn, thì Vương Nhĩ (tên
người vợ khéo ngày xưa) không thể nêu được chỗ ở giữa. Nhưng nếu một
ông vua trung bình nắm lấy pháp luật mà trị nước, một người thợ vụng giữ
cái quy, cái củ, cái thước, cái tấc, thì vạn điều không sai một điều. Kẻ làm
vua chúa nếu có thể bỏ được các điều mà người giỏi cũng không làm được,
để giữ cái mà người vụng làm vạn điều không sai một thì sức người dùng
được hết mà công danh được xác lập" [4, tr. 252] pháp luật phải công khai:
"Pháp luật là cái chép để ở trong sách vở, đặc nơi cửa công, ban bố cho
trăm họ". Đã lập pháp luật thì cả nước đều biết, không ai được tự ý thay
đổi: "Pháp luật không hùa theo người sang. Sợi dây dọi không uốn mình
theo cây gỗ cong. Khi đã thi hành pháp luật thì kẻ khôn cũng không thể từ,
kẻ dũng cũng không dám tranh. Trừng trị cái sai không tránh kẻ đại thần,
thưởng cái đúng không bỏ kẻ thất phu. Cho nên đều sửa chữa được sự sai
lầm của người trên, trị được cái gian của kẻ dưới, trừ được loạn, sửa được
điều sai, thống nhất đường lối của dân không gì bằng pháp luật" [4, tr. 62].
7
Có pháp luật rồi để khen thưởng hay trừng phạt thì phải xét cái sự
thực đã làm ra (hình) và tên gọi của công việc (danh) có phù hợp với nhau
không. Điều này đã được Hàn Phi nêu rõ: "Bậc làm vua muốn cấm chuyện
gian tà thì phải xét kỹ tên gọi và việc làm xem có hợp với nhau không, phải

người khác quyền này mà bị cướp mất ngôi báu: Tử Hãn nói với vua Tống:
"Việc khen thưởng và tăng cấp là điều dân chúng thích xin bệ hạ tự làm
lấy. Việc giết chóc và dùng hình phạt là điều dân chúng ghét, thần xin nhận
làm". Do đó, vua nước Tống bỏ mất hình phạt để giao cho Tử Hãn sử dụng.
Kết quả vua Tống bị cướp ngôi. Điền Thường chỉ dùng ân đức mà Giản
Công bị giết, Tử Hãn chỉ dùng hình phạt mà vua Tống bị cướp ngôi. Như
vậy pháp là căn cứ khách quan để định rõ danh phận, phải trái, công tội từ
đó mọi người biết rõ bổn phận của mình tất cả cứ đúng mực thước, đúng
pháp luật mà làm thì xã hội ổn định.
Thứ hai: Trọng thuật
Hàn Phi phê bình Thương Ưởng rằng, chỉ có pháp luật nhưng
không có thuật thì không biết rõ kẻ gian. Dù pháp luật có tô vẽ giải thích ra
rõ mười phần, người làm tôi vẫn ngược lại dùng nó để làm chỗ dựa để mưu
đồ lợi riêng Do vậy người làm chúa phải có "thuật", theo Hàn Phi
"Thuật" là cái nằm kín đáo trong bụng, để so sánh các đầu mối của sự việc
và ngấm ngầm cai trị các bề tôi. Dùng "Thuật" thì làm cho kẻ thân gần gũi
cũng không ai biết được. Dùng "Thuật" để biết tính trung hay gian của "bầy
tôi", do đó mà điều khiển được "bầy tôi", "bầy tôi" không làm hết trách
nhiệm của mình hay vượt quá trách nhiệm của mình đều bị xử phạt. Dùng
"Thuật" cũng biết được "công", "danh", "lời nói", "việc làm" của "quần
thần". Những cái đó không xứng với nhau cũng bị phạt. Thuật còn là sử
dụng nhân tài của các bậc đế vương. Thực chất "thuật" của Hàn Phi chỉ là
thủ đoạn của "người làm vua" dùng để điều khiển cho các quan lại phải giữ
gìn pháp luật và tuân theo mệnh lệnh. Nhưng thuật của Hàn Phi là phải đi
kèm với tính chất và hiệu lực của pháp luật.
9
Theo Lão Tử: Thuật vô vi là lý thuyết của ông. Nhưng Đạo đức kinh
của Lão Tử thuần túy là tác phẩm tư biện, Hàn Phi đã biến thành tác phẩm
thuần túy thực dụng, chứa đựng toàn mánh khóe mưu mô. Đây cũng là đóng
góp riêng của ông về thuật trị nước. Hàn Phi chỉ rõ "vô vi" là danh từ kép "cái

quyền lực để cưỡng bức người thì dẫu người làm vua có "thuật" điều khiển
các "bầy tôi", cũng không thể bảo đảm cho "bầy tôi" phục tùng sự cai trị
của vua. Đồng thời dẫu có pháp luật nhưng nhân dân không tuân theo cũng
không thể đảm bảo cho pháp luật được thực hiện có hiệu lực. Cho nên ông
cho rằng "Thế" là điều đặc biệt cần thiết. Quan niệm về "Thế" của Hàn Phi
là một thứ quyền lực đặt ra cho phù hợp với yêu cầu của pháp luật chứ
không phải thứ quyền lực nảy sinh một cách "tự nhiên" trong "chủ nghĩa
nhân trị". "Thế" còn là vị thế, địa vị, thế lực, quyền uy của người cầm đầu
chính thể, là xu thế của lịch sử. Ông ví Ngựa trở được nặng và đi được xa
là vì sức gân, chúa chinh phục được vì có uy thế.
Mối quan hệ giữa "Thuật" và "Thế":
"Thuật" và "Thế" quan hệ chặt chẽ với nhau: Một nước là gì? là cái
xe của nhà vua, "Thế" là gì? là ngựa của nhà vua. Không có thuật để điều
khiển xe ngựa ấy, dẫu cho thân vất vả, cũng không tránh khỏi loạn, có thuật
để điều khiển xe ngựa ấy, thân vẫn ở nơi an nhàn mà lại được công to bằng
các bậc đế vương. Quan hệ giữa "thế" và "pháp":
Theo Hàn Phi nếu cái thế (quyền lực) nằm trong tay người kém
cũng có thể làm rối loạn pháp luật và gây tai họa cho nước. Cho nên quyền
lực (thế) được đặt ra cho những "người trung bình". "Pháp" và "Thế" không
tách rời nhau. "người trung bình" là người ở giữa người tài giỏi (như
Nghiêu, Thuấn) và người kém (như Kiệt Trụ) và biết giữ gìn "Pháp" và
"Thế" thì nước yên trị, nếu trái "pháp", bỏ "thế" thì nước nổi loạn.
Thưởng phạt là công cụ rất quan trọng. Vì vậy nếu thưởng phạt
không thỏa đáng sẽ không răn được ai và xã hội sẽ loạn. Nhưng để có được
11
thưởng phạt thỏa đáng thì phải có các tiêu chuẩn phải trái, khen chê được
đặt ra như những mực thước quy củ.
Theo Hàn Phi, hình phạt nghiêm khắc sẽ loại bỏ được sáu hạng
người: bọn hàng giặc chạy dài, sợ chết, bọn tự cao học đạo, tự lập ra các học
thuyết và bọn lìa xa pháp luật, bọn ăn chơi xa xỉ, bọn bạo ngược, ngạo mạn,

lớn; tham lam bướng bỉnh lại vụng giao thiệp thì có thể mất. Điều này cũng
giúp chúng ta vận dụng trong chính sách ngoại giao hiện nay nhất là chính
sách đối với các nước lớn. Nếu chúng ta không linh hoạt, mềm dẻo thì
những vấn đề bất lợi vẫn có thể xảy ra. Trong những năm gần đây nước ta
đã có sách lược ngoại giao mềm dẻo, Việt Nam sẵn sàng là bạn với tất cả
các nước trên thế giới. Quan hệ với Trung Quốc chúng ta thực hiện 16 chữ
vàng. Song đất nước ta còn khó khăn do ảnh hưởng của hai cuộc chiến
tranh kéo dài, việc phát triển kinh tế là rất cần thiết đòi hỏi chúng ta cần
phải có những quyết sách đúng đắn hơn nữa.
Điềm 41 ghi kho nhà nước trống rỗng mà quan đại thần nhiều của
cải. Các hộ dân trong nước nghèo mà dân trú ngụ giàu. Kẻ sĩ lo cày và
chiến đấu thì nghèo, dân làm nghề ngọn được lợi thì có thể mất. Câu này
liên tưởng đến chúng ta hiện nay, với 80% nhân dân lao động của chúng ta
còn khó khăn, vất vả đầu tắt mặt tối nhưng chỉ tạm đủ ăn, trong khi chi phí
tiêu dùng lại quá lớn, tiền con cái học hành, ốm đau trong khi đó một bộ
phận nhỏ cán bộ làm ở vị trí hậu hĩnh lại giàu có, làm nhức nhối trong xã
hội, một số doanh nghiệp thì chỉ lo bóc tách của nhà nước chứ không lo sản
xuất hàng hóa đây cũng là điều chưa tốt cho xã hội chúng ta hôm nay.
Trên đây chỉ là một vài điểm được minh chứng để làm rõ thêm tư
tưởng của Hàn Phi về những điềm ông đã cảnh báo. Những điềm mất nước
đó không phải là nói rằng thế nào cũng mất nước, mà là có thể mất. Hai
Nghiêu không thể cùng làm cho nhau thành vương. Hai Kiệt không thể làm
13
cho nhau mất. Cái then chốt khiến cho nhà vua mất nước là ở chỗ nơi trị
nơi loạn, nơi mạnh nơi yếu khác xa nhau.
Cây gỗ bị gãy thế nào cũng có mọt ở trong. Cái tường bị đổ thế nào
cũng có lỗ hở ở trong. Thế nhưng cây gỗ tuy bị mọt nhưng không có gió
mạnh thì không gãy. Cái tường tuy có chỗ hở nhưng không có mưa to thì
không đổ. Bậc vua chúa có muôn cỗ xe, biết dùng thuật trị nước thi hành
pháp luật để làm mưa làm gió đối với những ông vua có điềm mất nước thì

chúng tuyệt vọng, không biết kêu vào đâu. Điều này vẫn còn có ý nghĩa hết
sức thực tiễn đối với việc sử dụng con người hiện nay, nhất là chọn những
người vào những công việc quan trọng. Trong công tác tổ chức cán bộ của
chúng ta hiện nay đã có quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bổ nhiệm, về lý
thuyết thì tốt nhưng trong thực tế thì còn phải làm tốt hơn.
Các quan đại thần bè đảng với nhau, bên trong cùng nhau che đậy
nhà vua, làm lợi cho nhau, bên ngoài thì giả vờ ghét nhau để tỏ ra vô tư,
cùng làm tai mắt cho nhau để rình mò chỗ sơ hở của nhà vua. Nhà vua bị
che đậy không có cách nào nghe được, tuy có cái tiếng là chủ nhưng không
có cái thực, bầy tôi nắm lấy pháp luật mà thi hành. Tình hình thiên tử nhà
Chu là như thế. Nếu cho mượn quyền thế của mình thì trên và dưới. Thay
đổi địa vị cho nên nói không thể cho bầy tôi mượn quyền thế.
Bậc vua sáng vững chắc ở bên trong cho nên không sai sót ở bên
ngoài. Sai lầm về cái ở gần nhà mà lại không mất cái ở xa là điều không có.
Cho nên nhà Chu cướp được nhà Ân là vì sự sai lầm của triều đình. Ví thử
nhà Ân không có lỗi ở triều đình thì nhà Chu sẽ không dám nhòm ngó đến
sợi lông mùa thu ở biên giới. Còn nói gì đến việc thay đổi địa vị? Đạo của
bậc vua sáng là đúng với pháp luật, pháp luật của ông ta hợp với lòng
người. Cho nên khi cai trị thì theo đúng pháp luật. Liên hệ với chúng ta
hiện nay luật của chúng ta cũng đã có tương đối đầy đủ, nhưng việc thi
15
hành pháp luật thì chưa nghiêm. Nhiều vụ án xử thế nào cũng đúng, các
văn bản dưới luật còn nhiều, còn chồng chéo nhau, tạo ra kẽ hở cho pháp
luật.
Trong Thiên XXVI. Đạo giữ nước
Cái thiện sinh ra như cây cỏ mùa xuân, cái ác chết đi như cây cỏ
mùa thu. Cho nên dân được khuyến khích dốc hết sức mà vui vẻ trong việc
tận tình làm việc. Pháp luật rõ ràng thì người hiền không cướp của kẻ kém,
người mạnh không thể hiếp kẻ yếu. Người đông không thể hung bạo với kẻ
ít. Gửi thiên hạ cho cái phép tắc của Nghiêu thì kẻ sĩ thẳng thắn không bỏ

Lý thuyết Hàn Phi được Tần Thủy Hoàng dùng để thống nhất
Trung Quốc. Ở thời Chiến Quốc Trung Quốc bị chia ra hàng trăm tiểu
quốc, xâu xé lẫn nhau chiến tranh đẫm máu. Thanh gươm chuyên chế để
thống nhất Trung Quốc là điều cần thiết để lập lại trật tự xã hội, do vậy
phải giết một người để cứu triệu người là lẽ tất nhiên.
Nước Tần lúc đó không phải là vùng đất trù phú, không phải ở vị trí
trung tâm, không phải là nơi có văn hóa phát triển. Nhưng trong mấy thế kỷ
từ thời Tần Hiếu Công cho tới cuối thời chiến quốc. Nhà Tần lại hội đủ các
điều kiện để chuyển lên chế độ phong kiến Trung ương tập quyền. Về kinh
tế nhà Tần phát triển tư hữu về tư liệu sản xuất, thống nhất đo lường, đặt ra
ngạch thuế khóa thích hợp, do đó kích thích được sản xuất. Về chính trị
thực hiện hai lần biến pháp, tổ chức hành chính theo chế độ quận huyện,
chủ trương mọi quyền tập trung vào ông vua, thực hành chế độ, pháp trị
nghiêm ngặt, làm cho nước có kỷ cương, trật tự, chính quyền có hiệu lực.
Về văn hóa tư tưởng, chủ trương quán triệt văn hóa tư tưởng thực dụng và
bá quyền của phái pháp gia làm cho ai đó cũng thấy chỉ có nỗ lực thì mới
17
có quyền lợi và địa vị. Chính điều đó đã làm cho nhà Tần có sức mạnh và
chuyển lên chế độ phong kiến Trung ương tập quyền. Thống nhất Trung
Quốc về một mối đó chính là hiệu pháp của pháp gia mà nhà Tần đã áp
dụng để Trung Quốc thống nhất trong thời gian (221 - 206 TCN).
Ở Việt Nam sau khi đánh đuổi giặc Minh, giành được độc lập dân
tộc, triều Lê trọng đãi công thần. Các công thần này đại đa số là những
người hiếu học hay ít học, họ nắm giữ trọng trách, mâu thuẫn gay gắt giữ
phái dân sự và phái quân sự. Họ lộng hành và tàn sát lẫn nhau. Vua Thái
Tông, Nhân Tông không đủ khả năng kiềm chế tệ hưởng thụ, tham ô, hối
lộ, lợi dụng chức quyền để trục lợi riêng, diễn ra khá phổ biến trong cả trăm
quan trong điều đình lúc ấy. Trong bối cảnh đó vua Lê Thánh Tông lên
ngôi năm 1460. Ông là vị vua anh hùng tài lược, ông chủ trương và dày
công xây dựng một nhà nước quân chủ chuyên chế, đề cao uy quyền và

việc hành chính và thể chế quan chức, mười sắc chỉ về quy định khiếu kiện,
tám sắc chỉ liên quan đến quyền, nghĩa vụ của quan lại trông coi pháp luật,
mười một sắc chỉ về chống tham nhũng, buôn lậu, hối lộ và móc ngoặc.
Năm 1942 đúng vào dịp 500 năm ngày sinh Lê Thánh Tông Bác Hồ
viết cuốn lịch sử nước ta đã ca ngợi ông:
"Vua hiền có Lê Thánh Tông
Mở mang bờ cõi đã khôn lại lành"
Đỉnh cao nhất là năm 1483, bộ quốc triều hình luật mà ta quen gọi
là bộ luật Hồng Đức được chính thức ban hành. Đây là bộ luật tổng hợp
nhiều loại luật (hình sự, dân sự, hôn nhân, tố tụng và gia đình). Nhưng hầu
hết các quy phạm trong bộ luật dù có thuộc lĩnh vực nào cũng được xây
dựng dưới dạng các quy phạm pháp luật hình sự và áp dụng chế tài hình sự.
Bộ luật này có giá trị điều chỉnh các quan hệ xã hội căn bản nhất, trụ cột
nhất tạo nên cơ sở chính trị - xã hội, kinh tế - văn hóa của chế độ nhà Lê
trong một thời gian dài suốt 3 thế kỷ sau đó. Đối với thời Lê Thánh Tông
19
bộ luật tạo ra sự ổn định trật tự xã hội, tăng cường kỷ cương phép nước,
bảo đảm an dân, tạo điều kiện cho sự phát triển đất nước.
3. Kết luận
Học tập nghiên cứu tư tưởng chính trị Hàn Phi chúng ta thấy có
nhiều tác nhân hợp lý có thể vận dụng trong công cuộc đổi mới của đất
nước ta hôm nay. Tác phẩm của ông vẫn còn một số hạn chế do điều kiện
lịch sử lúc đó quy định. Đánh giá một cách khách quan những tác nhân
hợp lý đó, nó đã đóng góp nhiều cho tư tưởng nhân loại. Tư tưởng "Trọng
thế" nhắc chúng ta trong việc giành, giữ thực thi quyền lực chính trị,
"Trọng thuật" nhắc chúng ta khôn khéo, linh hoạt, mềm dẻo trong mọi
lĩnh vực của đời sống xã hội, cũng như trong đối ngoại, đó cũng là chiến
lược, sách lược ứng xử, trong quan hệ, "Trọng pháp" là mọi người phải
được sống trong một xã hội được điều hành bằng pháp luật, đó là xã hội
văn minh, là xã hội con người đang vươn tới. Mọi người phải được sống


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status