z
CNH - HĐH và vai trò của nó trong quá trình tiến lên CNXH ở nước ta
Tiểu luận kinh tế chính trị
Đề tài: Khoa học chủ nghĩa
1
PHẦN I : MỞ ĐẦU
Đất nước ta bước vào thời kì quá độ lên CNXH khi mà nền sản xuất chưa
vận động theo con đường bình thường của nó. Lịch sử đã để lại cho chúng ta
một nền sản xuất nghèo nàn và lạc hậu, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, lực
lượng sản xuất rất thấp kém. Nhưng ngày nay khi độc lập dân tộc gắn kiền
với CNXH là một xu thế tất yếu của lịch sử, khi giai cấp công nhân đã nắm
quyền lãnh đạo cách mạng thì kết thúc cuộc cách mạng dân tộc dân chủ cũng là
lúc bắt đầu cuộc cách mạng XHCN. Cách mạnh XHCN ở nước ta là một quá
trình biến đổi cách mạng toàn điện, sâu sắc và triệt để. đó là một quá trình vừa
xoá bỏ cái cũ, vừa xây dựng cái mới từ gốc đến ngọn. Phải tạo ra cả cơ sở kinh
tế lẫn kiến trúc thượng tầng mới, tạo ra của cải đời sồng vật chất mới lẫn đời
sống tinh thần và văn hoá mới. Do đó, trong quá trình đi lên CNXH chúng ta
phải tiến hành công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nước.theo quan điểm của ban
chấp hành trung ương Đảng khoá VII đã khẳng định“Công nghiệp hoá-hiện đại
hoá là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh
CHƯƠNG I: CỞ SỞ LÝ LUẬN
1. Nội dung khoa học công nghệ
Hiện nay cuộc cách mạng khoa học- công nghệ có nhiều nội dung phong
phú, trong đó có thể chỉ ra những nội dung nổi bật sau:
- Cách mạng về phương pháp sản xuất: đó là tự động hoá. Ngoài phạm vi
tự động như trước đây, hiện nay tự động hoá còn bao gồm cả việc sử dụng rộng
rãi người máy thay thế con người trong quá trình vận hành sản xuất.
- Cách mạng về năng lượng: bên cạnh những năng lượng truyền thống mà
con người sử dụng trước kia như nhiệt điện, thuỷ điện thì ngày nay con người
càng tạo ra nhiều năng lượng mới và sử dụng chúng rộng rãi trong sản xuất như
năng lượng nguyên tử, năng lượng mặt trời.
- Cách mạng về vật liệu mới : ngày nay ngoài việc sử dụng các vật liệu tự
nhiên, con người ngày càng tạo ra nhiều vật liệu tự nhiên, con người ngày càng
tạo ra nhiều vật liệu nhân tạo mới thay thế có hiệu quả cho các vật tự nhiên khi
mà các vật liệu tự nhiên đang có xu hướng ngày càng cạn dần .
- Cách mạng về công nghệ sinh học, các thành tựu của cuộc cách mạng
này đang được áp dụng rông rãi trong lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, y tế,
hoá chất, bảo vệ môi trường sinh thái.
- Cách mạng về điện tử và tin học : đây là lĩnh vực hiện nay loài người
đang đặc biệt quan tâm trong đó phải kể đến lĩnh vực máy tính điện tử.
Như vậy, khoa học công nghệ ngày nay bao gồm một phạm vi rộng, nó
không chỉ là các phương tiện, thiết bị do con người sáng tạo ra mà còn là các bí
quyết biến các nguồn lực có sẵn thành sản phẩm. Với ý nghĩ đó khi mói tới công
nghệ thì sẽ cũng bao hàm cả kỹ thuật. đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khoa
học, kĩ thuật luôn nắn bó chặt chẽ với nhau : khoa học là tiền đề trực tiếp của
công nghệ và công nghệ lại là kết quả của khoa học.
4
5
Phát triển công nghiệp hoá hiện đại hoá là quá trình phát triển và nâng cao
trình độ công nghiệp. Việc nâng cao trình độ công nghệ được thực hiện trong
quá trình điện khí hoá, cơ giới hoá, tự động hoá, tin học hoá, hoá học hoá và
sinh học hoá. Trong các ngành lĩnh vực kinh tế quốc dân, các thành phần kinh
tế, các vùng kinh tế của đát nước trong đó cần ưu tiên đưa ngành công nghệ hiện
đại thích hợp vào các ngành, các lĩnh vực, các thành phần kinh tế, các vùng lãnh
thổ mũi nhọn trọng điểm, đạt hiệu quả kinh tế cao, tích luỹ nhanh và lớn. Có như
vậy mới tạo khả năng thu hút và thúc đẩy CNH- HĐH các ngành, các lĩnh vực
và các thành phần kinh tế.
6
CHƯƠNGII: CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.Sự cần thiết phải phát triển KH- CN
Cách mạng KH- CN đã và đang diễn ra mạnh mẽ ở các nước phát triển,
tức là ở những nước đã trải qua thời kì cách mạng công nghệ, đã xác lập được
nền sản xuất cơ khí hoá đã có nền KH và CN tiên tiến. Tuy nhiên, nó không chỉ
hạn chế trong ranh giới của các nước phát triển mà ảnh hưởng của nó đang lan
ra tất cả các nước trên thế giới . Có thể nói cách mạng KH- CN là một hiện
tượng toàn cầu, hiện tượng quốc tế sớm hay muộn nó sẽ đến với tất cả dân tộc
và các quốc gia trên trái đất
Là một hiện tượng toàn cầu, cuộc mạng KH- CN mang trong bản thân nó
những qui luật chung, phổ biến, chúng tác động vào tất cả các loại hình cách
mạng KH- KT. Nhưng mặt khác, mỗi nước tiến hành cuộc cách mạng này trong
những điều kiện riêng của đất nước mình cho nên cách mạng KH- KT ở những
nước khác nhau cũng mang những màu sắc, những đặc điểm khác nhau. Do đó,
khi xem xét cuộc cách mạng KH- KT ở nước ta cần phải đặt nó trong bối cảnh
hành thành công cuộc cách mạng KH- CN
Do đó, điều kiện kiên quyết để tiến hành cách mạng KH- CN ở nước ta là
phải tiến hành cải tạo xã hội sâu sắc, chống chủ nghĩa đế quốc, chống chủ nghĩa
thực dân mới và các thế lực phản động để đi lên CNXH.
Sau 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, khoa học và công nghệ nước ta
bước đầu có sự chuyển biến tích cực. Tuy nhiên cho đến nay, nền khoa học và
kỹ thuật nước ta vẫn đang trong tình trạng lạc hậu, chậm phát triển chưa đáp
ứng được yêu cầu của đất nước
Về trình độ kỹ thuật- công nghệ, so với các nước tiên tiến nhất trên thế
giới, chúng ta lạc hậu từ 50 đến 100 năm, so với các nước tiên tiến ở mức trung
bình ta lạc hậu từ 1 đến 2 thế hệ
Với thực trạng đó, việc tiến hành cuộc cách mạng khoa học – công nghệ
ở nước ta không chỉ được coi là tất yếu khách quan, mà còn là một đòi hỏi bức
xúc để đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
8
Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là đến năm 2020 về cơ bản
nước ta trở thành nước công nghiệp. Khác với các nước đi đàu, công nghiệp hoá
nước ta đòi hỏi phải thực hiện rút ngắn. chỉ có như thế, chúng ta mới có thể sớm
rút ngắn được khoảng cách và tiến tới đuổi kịp các nước phát triển. Công nghiệp
hoá phải gắn liền với hiện đại hoá
Cùng với đó, yêu cầu đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường cũng đòi hỏi
chúng ta phải phát triển khoa học và công nghệ. Để chuyển sang nền kinh tế thị
trường hiện đại từ điểm xuất phát thấp, nước ta không thể đi theo các bước tuần
tự như các nước đi trước đã làm, mà phải phát triển theo kiểu “nhảy vọt”,”rút
ngắn”. Đây vừa là cơ hội để tận dụng lợi thế của nước phát triển sau, vừa là
thách thức đòi hỏi phải vượt qua. Muốn phát triển nhanh kinh tế thị trường theo
cách thức như vậy, nhất thiết phải đẩy mạnh phát triển khoa học- công nghệ.
Đẩy mạnh phát triển khoa học và công nghệ đối với nước ta không chỉ
để một mặt, hỗ trợ cho việc giải quyết có hiệu quả hơn, mặt khác thúc đẩy việc
hình thành một số lĩnh vực sản xuất công nghệ cao với quy mô phù hợp để tạo ta
các sản phẩm thay thế nhập và tạo chỗ đứng trên thị trường quốc tế.
Trong số những hướng công nghệ cao, cần quan tâm đầy đủ tới khâu tin
học hoá một số lĩnh vực hoạt động kinh tế xã hội. Cần có quyết tâm trong việc
đầu tư phát triển một số lĩnh vực sản xuất gắn với các hương ưu tiên của chương
trình tổng hợp tiến bộ KH- CN. Đó là dịp tốt để VN tham gia vào phân công lao
động quốc tế về một số sản phẩm có hàm lượng khoa học cao
c. Thúc đẩy việc nâng cao trình độ kỹ thuật và công nghệ của các xí nghiệp
nhỏ, của khu vực tiểu thủ công nghệp cả ở thành thị và nông thôn.
Kinh nghiệm thực tiễn chỉ ra rằng để có thể thực hiện có hiệu quả chiếm
lược này, việc nhanh chóng khắc phục sự lạc hậu về công nghệ, sự yêú kém về
năng lực quản lý, sự thiếu hụt về lực lượng lao động có kỹ thuật là yêu cầu bức
bách phải giải quyết .Bởi vậy việc giành một phần nỗ lực đủ mạnh hướng vào
việc giải quyết các nhu cầu khoa học và công nghệ phục vụ phát triển công
nghiệp nông thôn có tầm quan trọng đặc biệt
10
Những phân tích nêu trên đã tới gợi ý quan trọng là chiến lược phát triển
khoa học và kỹ thuật không thể không quan tâm đến việc nâng cao trình độ kỹ
thuật và công nghệ ,cải tiến và nên coi đây là một hướng có ý nghĩa chiến lược
cả trước mắt và lâu dài .
d.Kết hợp hữu cơ việc tập trung nỗ lực giải quyết các vấn đề trước mắt và
tiếp tục tăng cường tiềm lực khoa học và kỹ thuật nhằm đáp ứng những yêu
cầu mới của giai đoạn phát triển tiếp theo
3. Vai trò của KH- CN đối với một số lĩnh vực
a. Với sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông thôn và phát triển
nông thôn
Gần 20 năm qua sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn đã đạt được
trường đúng hướng mới có thể chuyển cơ cấu sản xuất nông nghiệp từ thuần
nông, độc canh sang đa dạng hoá cây trồng. Hiện nay việc chuyển đổi kinh tế
nông thôn từ nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ mới chỉ xuất hiện ở một số
ven vùng có cơ sở hạ tầng kỹ thuật, có trình độ dân trí cao, có khả năng tiếp thu
các tiến bộ kỹ thuật
-Giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng nông, lâm, thuỷ sản hàng năm tuy
chiếm gần 40% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của cả nước, nhưng nhìn
chung, năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nông sản hàng hoá còn thấp
so với các nước trong khu vực và trên thế giới, khiến cho các sản phẩm làm ra
tiêu thụ khó khăn, ảnh hưởng bất lợi đến thu nhập của người sản xuất. KH-CN
chưa có sự tác động cần thiết và hiệu quả bản đảm tính ổn định, bền vững của
nông sản hàng hoá khi gặp phải rủi ro của thiên tai và thị trường
- Phát triển công nghệ chế biến là nhiệm vụ hàng đầu trong quá trình thực
hiện CNH- HĐH nông nghiệp, nông thôn, nhưng phát triển công nghiệp, chế
biến như thế nào lại là vấn đề bức xúc đang đòi hỏi nghiên cứu và làm rõ
- Gần đây, Nhà nước tiếp tục tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ
thuật cho nông nghiệp, nông thôn. Hiện có rất nhiều vấn đề về kỹ thuật để bảo
đảm hiệu quả vốn đầu tư của nhà nước chưa được giải quyết tốt. Do đó, nông
nghiệp, nông thôn đang rất cần có sự tác động của lực lượng KH- CN
12
Tình hình trên khẳng định vai trò của KH- CN trong quá trình thực hiện
CNH- HĐH nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay và đó cũng chính là
những yêu cầu bức xúc đặt ra đối với các nhà khoa học vì sự phát triển của nông
nghiệp, nông thôn. Tuy nhiên, để huy động được các lực lượng KH- CN phục vụ
nông nghiệp, nông thôn, chú ý các vấn đề về tổ chức bộ máy, cơ chế vận hành
và các chính sách tác động, trong đó cốt lõi là giải quyết hợp lý lợi ích cho
người làm nghiên cứu, triển khai các thành tựu của KH- CN.
Việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật, công nghệ, áp dụng các tiến bộ kỹ
quan thuận lợi cho sự phát triển đột biến, nhảy vọt và bứt phá về kinh tế ở những
dân tộc, quốc gia, hay khu vực nhất định trong những thời điểm, thời kỳ hay giai
đoạn nhất định. Nhưng để tranh thủ tân dụng và phát huy được hết tiềm năng
của cơ hội bên ngoài này thì điều kiện tất yếu và tối thiểu là ở bên trong phải
chuẩn bị xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và bồi dưỡng nhân tố con người lao
động ở một nức độ tương ứng, thích đáng. Kinh nghiệm thế giới về việc giải
quyết mối quan hệ “ con người- tư kiệu sản xuất- khoa học” một cách cân đối,
hài hoà để tạo ra hiệu quả tổng hợp tối đa và tối ưu về kỹ thuật là khá toàn diện
và
phong phú
Việc xây dựng rõ vị trí tương quan vai trò và ảnh hưởng của KH- CN trong
hệ thống các thành tố lực lượng sản xuất như trên đã đồng thời làm sáng tỏ giới
hạn tác động của nó về mặt xã hội. Sự phát triển của khoa học không trực tiếp
dẫn tới sự thay đổi quan hệ sản xuất và chế độ sở hữu. Trái lại, vai trò “ cách
mạng hoá “ của khoa học đối với việc thúc đẩy sự tăng trưởng của lực lượng sản
xuất lại bị chế ước bởi một quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng xã hội
nhất định. Nói cách khác, tiềm năng thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển của
khoa học là vô tận, nhưng mức độ, giới hạn hiện thực hoá tiềm năng này lại phụ
thuộc “ khuôn khổ “ của quan hệ sản xuất thống trị
Tuy nhiên, sự phát triển như vũ bão của cách mạng KH- CN hiện đại đang
diễn ra từng ngày, từng giờ ở khắp mọi nơi trên thế giới đã có tác dụng cụ thể.
Sức tiến công vũ bão của phong trào giải phong dân tộc, giai cấp tư sản đã chủ
14
động ra sức đẩy mạnh cuộc cách mạng KH- KT, sử dụng các thành quả của nó
để phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế một cách thành công
Tuy không lạc quan đến mức vội vã và ngộ nhận mà cho rằng, cuộc cách
mạng KH- CN hiện đại sẽ tự động và trực tiếp đưa ngay đến một xã hội thực sự
là “ hậu TBCN “, nhưng chúng ta vẫn có thể ghi nhận những thành tựu lớn lao
hành tinh, hay sản xuất ra máy tính điện tử và người máy công nghiệp thay thế
nhiều hoạt động phức tạp của mình.
Khi còn ở trình độ thấp, khoa học tác động tới kỹ thuật và sản xuất còn rất
yếu, nhưng đã phát triển đến trình độ cao như ngày nay thì nó tác động mạnh mẽ
và trực tiếp tới sản xuất. Kỹ thuật và công nghệ là kết quả sự vận dụng những
hiểu biết, tri thức khoa học của con người để sáng tạo, cải biến các công cụ,
phương tiện phục vụ cho hoạt động sản xuất và các hoạt động khác của xã hội.
Khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì dứt khoát phải gắn liền với
kỹ thuật và công nghệ. Song như thế chưa đủ. Khoa học còn phải được người lai
động tiếp thu vận dụng để nâng cao kỹ năng, kỹ xảo lao động, phát triển tư duy
kinh tế nhanh nhạy, trau dồi đạo đức, lối sống, v v, mới có thể trở thành lực
lượng sản xuất trực tiếp và mạnh mẽ. Người lao động là chủ thể sử dụng các
phương tiện kỹ thuật. Do đó họ không thể sử dụng được các phương tiện hiện
đại để lao động tốt nếu có trình độ học vấn thấp và không được đào tạo, hay đào
tạo kém.
Có thể nói, khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp vì mấy lẽ sau:
1. Nền sản xuất hiện nay đang phát triển mạnh mẽ, ngày càng có tính chất
quốc tế cao, biến động mau lẹ, phức tạp đang đặt ra nhiều vần đề, mà thiếu khoa
học thì không thể giải quyết và phát triển nhanh chóng được. Đồng thời bản thân
nền khoa học hiện đại cũng đã phát tiển đến mức có đủ điều kiện để có thể giải
quyết được những vấn đề của sản xuất.
2.Ngày nay các máy móc kỹ thuật, công nghệ ngày càng hiện đại, tinh vi
và có hàm lượng trí tuệ cao, thị trường mở rộng, phong phú, phức tạp và đầu
biến động, hợp tác giao lưu nhưng cạnh tranh giữa các quốc gia cũng gay gắt.
Muốn sản xuất đạt chất lượng và hiệu quả cao, người lao dộng không thể chỉ
16
dừng lại ở những kinh nghiệm cảm tính, mà còn rất cần có nhiều tri thức khoa
học, kỹ thuật và kinh tế. Mặt khác, khoa học phải được con người vận dụng vào
để từ đó cần chú trọng các biện pháp tác động về mọi mặt : giáo dục, đào tạo,
tuyên truyền, phổ biến, kích thích kinh tế và các biện pháp khác
Đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học
Đào tạo là khâu đầu tiên của một chu trình hình thành và sử dụng nguồn
nhân lực quốc gia về mặt khoa học và công nghệ. Nói đến đào tạo đối với nguồn
nhân lực này trước hết phải kể đến toàn bộ hệ thống giáp dục các cấp, từ phổ
thông cơ sở, phổ thông trung học, giáo dục chuyên nghiệp đến đại học và trên
đại học.
Tuy nhiên, so với yêu cầu chuẩn bị cán bộ khoa học và công nghệ để đẩy
mạnh công nghệ hoá trong giai đoạn sắp tới thì đội ngũ cán bộ ấy vẫn thiếu về
số lượng và yếu về chất lượng. Không thể vì một số khó khăn trước mắt mà hạn
chế qui mô và tốc độ đào tạo. Con người luôn luôn là vốn quý nhất và đào tạo
nhân lực lao động khoa học là vấn đề chiến lược trọng yếu mà bất cứ nước nào
muốn phát triển thành công cũng đều phải hết sức quan tâm
Hệ thống giáo dục phổ thông, khâu đầu của đào tạo khoa học và công
nghệ của chúng ta hiện nay đang gặp rất nhiều khó khăn. Và hệ thống giáo dục
đại học và chuyên nghiệp còn nhỏ bé, chưa cân đối với các bậc học trong hệ
thống giáo dục quốc dân. Về cơ bản, cách giáo dục của ta còn nặng về trang bị
kiến thức, nặng về lý thuyết, nhẹ về bồi dưỡng kỹ năng thực hành, ít chú trọng
phương pháp tự đào tạo trong hoạt động thực tiễn. Đó cũng là nhược điểm phổ
biến của hệ thống giáo dục của nhiển nước xã hội chủ nghĩa mà một bộ phận
quan trọng cán bộ khoa học và công nghệ của chúng ta đã được đào tạo qua .
Chúng ta không thể vừa lòng với tình trạng sử dụng cán bộ khoa học và
công nghệ không bình thường như hiện nay và càng không thể định con đường
phát triển của ngành đào tạo đại học,mà không tính đến bước phát mạnh mẽ của
nước ta sau này. Dù có những khó khăn tạm thời ngày hôm nay, chúng ta vẫn
phải ra sức mở rộng quy mô và tốc độ đào tạo nhân lực nhân lực khoa học và
18
19
hành với tốc độ nhanh cần phải có cơ chế, chính sách và biện pháp huy động
được nguồn vốn nhiều nhất, quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả nhất.
Vấn đề huy động vốn cho quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá có ý
nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế nước ta. Song song với việc huy động các
nguồn vốn, vấn đề sử dụng, bảo toàn và phát triển vốn cũng có ý nghĩa cực kỳ
quan trọng. Yêu cầu bảo toàn vốn được thể hiện trước hết trong công tác tổ chức
tài chính, có nghĩa là phải lựa chọn các phương án tối ưu trong tạo nguồn tài
chính. Sự cần thiết của chế độ bảo toàn và phát triển vốn trước hết xuất phát từ
yêu cầu của cơ chế quản lý kinh tế mới, phải hoạch toán kinh tế kinh doanh,
xuất phát từ yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá là phải đảm
bảo tính hiệu quả kinh tế cao. Vì vậy, để quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
và dản xuất kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế cao, để nền kinh tế phát triển bền
vững, tất yếu phải bảo toàn và phát triển vốn, phải nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn
CHƯƠNG III : THỰC TRẠNG KH- CN VIỆT NAM
1. Thành công
KH- CN đã tập trung vào sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ
môi trường. Đã áp dụng các công nghệ và phương pháp nghiên cứu tiên tiến:
viễn thám, địa vật lý… vào công tác điều tra, thăm dò tài nguyên thiên nhiên.
Nhiều kết quả nghiên cứu môi trường được đánh giá cao : nghiên cứu chính
sánh và biện pháp bảo vệ sự đa dạng sinh học, cân bằng sinh thái và xử lý ô
nhiễm nước, không khí ở các khu công nghiệp tập trung, các thành phố lớn…
các biện pháp trồng rừng, chống suy thái đất, cải tạo đất…
KH- CN đã chú ý phát triển các ngành khoa học tự nhiên và công nghệ
cao. Nhiều thành tựu toán học, cơ học, vất lý của ta… được đánh giá cả ở nước
ngoài. Công nghệ thông tin đã phát triển và mở rộng ứng dụng trong hệ thống
phẩm chất lượng cao : hàng may mặc, thuốc lá, đồ nhựa, cao su, đồ điện máy,
điện tử… Công nghiệp tăng trưởng bình quân khoảng 23% năm 2004 đạt 2,1 tỷ
21
USD, công nghiệp viễn thông đạt 200 triệu USD, máy tính 1 triệu USD, điện tử
730 triệu USD, công nghệ phần mềm 170 triệu USD.
Trong lĩnh vực năng lượng, nhiều công trình, nghiên cứu KH- CN đã tập
trung vào công tác quy hoạch, sử dụng hợp lý các nguồn năng lượng. Đổi mới
CN xây dựng các nhà máy thuỷ điện, nhiệt điện, nghiên cứu các phương pháp
giảm tổn thất năng lượng trong truyền tải điện và đổi mới CN. Hệ thống năng
lượng đã phát triển nhanh chóng : 80% địa bàn xã ở khu vực nông thôn, hơn
50% hộ gia đình đã có điện sử dụng.
Trong giao thông vận tải, KH- CN đã góp phần quan trọng vào việc nâng
cấp và phát triển mạng lưới, đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường sông… đã
xây dựng một số công trình quan trọng bằng việc áp dụng các CN mới : đóng
tàu biển trọng tải 3.000 tấn, công trình hạ tầng cất cánh sân bay Tân Sơn Nhất,
thắng thầu nhiều công trình giao thông ở Lào, Campuchia… với việc áp dụng
CN mới trong gia cố nền móng và thi công mặt đường.
Trong viễn thông, đã xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng thông tin hiện đại
bằng việc áp dụng kỹ thuật số, thông tin vệ tinh, cáp sợi quang… đủ mạnh để
hoà nhập mạng thông tin quốc tế và khu vực. Viễn thông nước ta hiện được xếp
vào một trong những nước có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới. Bên cạnh
mạng lưới hữu tuyến điện phát triển rộng khắp với các loại hình dịch vụ đa
dạng, các hệ thống thông tin di động, máy sóng ngắn, cực ngắn, cũng phát triển
mạnh, được các tổ chức kinh tế, cơ quan trong và ngoài nước sử dụng. Thị
trường tin học nước ta những năm qua, có tốc độ tăng trưởng trung bình hằng
năm khoảng 40-50%. Hiện các cơ quan Đảng, chính phủ đang sử dụng hàng vạn
chiếc máy vi tính, trong đó lưu giữ nhiều thông tin, số liệu bí mật quan trọng.
Liên quan đến kinh tế, quốc phòng và an ninh quốc gia. Trên đà ấy, việc sử dụng
rất thấp so với mức bình quân của thế giới hiện là 55.324 USD và kếm các nước
trong khu vực châu Á . Mức đầu tư thấp nhưng lại phân tán và không ít trường
hợp sử dụng lãng phí. Tuy Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, nghị
quyết sáng suốt, nhấn mạnh vai trò của khoa học công nghệ và coi trọng nó
không kém gì các quốc gia khác trên thế giới, nhưng mức đầu tư cho khoa học
vẫn rất thấp. Có 2 khả năng lý giải tình hình trên. Thứ nhất, nếu huy động gấp
23
đôi vốn cho nghiên cứu khoa học và công nghệ thì việc nghiên cứu khoa học có
mang lại hiệu quả thiết thực hay không trong khi trình độ quản lý khoa học hiện
tại còn yếu kém. Thứ hai, ngân sách nhà nước trong nhiều năm thâm hụt, phải
bảo đảm chi cho nhiều ngành cũng quan trọng, do đó mức đầu tư kinh phí cho
khoa học nhiều khi lại phụ thuộc vào quan điểm của người lãnh đạo và các cơ
quan quản lý của Nhà nước. Rốt cục quy định trong các văn bản và chỉ thị của
Đảng dành 2% ngân sách hằng năm cho hoạt động khoa học và công nghệ vẫn
không thực hiện được.
Với mức đầu tư như vậy nên chỗ làm việc chật chội, thiết bị lạc hậu,
phòng thí nghiệm và cụng cụ thí nghiệm thiếu… cơ quan khoa học và công nghệ
chỉ có thể hoạt động cầm chừng, chỉ giải quyết những vấn đề trước mắt mà
không thể tạo ra được thành quả khoa học có tầm chiến lược. Nếu không có các
chính sách điều chỉnh, các cơ quan nghiên cứu khoa học chắc chắn sẽ rơi vào
tình trạng tồi tệ hơn, đội ngũ cán bộ nghiên cứu có thể bị chia xẻ và giã từ những
công việc chuyên môn mà lâu nay họ tâm huyết.
Lực lượng cán bộ nòng cốt thiếu và già yếu
Kết quả điều tra 233 cơ quan khoa học công nghệ chủ yếu thuộc trung
ương cho thấy : trong số 22.313 cán bộ công nhân viên thì số người có trình độ
trên đại học là 2.509 người, cao đẳng và đại học 11.447 người và dưới cao đẳng
là 8.357
Trong số các cán bộ có trình độ tiến sĩ và phó tiến sĩ chỉ có 15,1% là nữ,
một hệ thống, cũng như một nền kinh tế nếu không có hạ tầng cơ sở tốt thì
không thể phát triển được. Trong khoa học nếu chỉ coi trọng những ngành ứng
dụng có lãi nhanh mà coi nhẹ khoa học cơ bản rút cục sẽ đưa khoa học đến chỗ
bế tắc và không có đủ năng lực tiếp thu làm chủ các lĩnh vực khoa học công
nghệ mới.
Những bất cập giữa KH- CN và hoạt động kinh tế ở VN
Mối quan hệ thống nhất giữa hoạt động khoa học công nghệ và hoạt động
kinh tế là cơ sở quan trọng bảo đảm cho sự phát triển của một quốc gia. Tuy
nhiên, ở VN hiện nay giữa hoạt động khoa học công nghệ và hoạt động kinh tế
lại bộc lộ những bất cập rõ rệt