BÀI TẬP CÁ NHÂN SỐ 1 – TỐ TỤNG DÂN SỰ
1. Luật tố tụng dân sự chỉ quy định trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự.
Sai. Luật TTDS không phải chỉ quy định trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự. Vì Theo
quy định tại Điều 1 BLTTDS 2004 (sđ, bx 2011) thì: Luật TTDS quy định về trình tự thủ
tục khởi kiện để Tòa án giải quyết các vụ án dân sự; trình tự, thủ tục yêu cầu để Tòa án giải
quyết việc dân sự; trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự và việc dân sự (gọi chung là vụ
việc dân sự) tại TA và thi hành án dân sự.
Như vậy, theo quy định này thì LTTDS không chỉ quy định về trình tự thủ tục giải
quyết vụ án dân sự mà còn quy định về trình tự thủ tục giải quyết việc dân sự tại Tòa án và
thi hành án dân sự.
2. Chỉ quan hệ giữa Tòa án với đương sự phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án và
được quy phạm pháp luật tố tụng dân sự điều chỉnh mới là quan hệ pháp luật tố tụng
dân sự.
Sai. Đối tượng điều chỉnh của Luật TTDSVN là các quan hệ giữa TA, VKS, CQTHA,
đương sự, người đại diện của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên
dịch và những người liên quan phát sinh trong TTDS. Theo đó, đối tượng điều chỉnh của
LTTDS bao gồm: quan hệ giữa TA, VKS, CQTHA với đương sự, người đại diện của đương
sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ĐS, người làm chứng, người giám định,
người phiên dịch và những người liên quan; Quan hệ giữa TA, VKS, CQTHA với nhau;
Quan hệ giữa đương sự với những người liên quan.
Quan hệ PLTTDS là quan hệ giữa TA, VKS, CQTHA, ĐS, Người đại diện của ĐS,
người làm chứng, người giám định, người phiên dịch và những người liên quan phát sinh
trong TTDS và được các QPPL TTDS điều chỉnh.
Như vậy, quan hệ PLTTDS không chỉ bao gồm quan hệ giữa tòa án với đương sự mà
còn bao gồm cả quan hệ giữa VKS, CQTHA, người đại diện của đương sự, người làm
chứng,… Do đó, khẳng định trên là sai.
3. Việc sơ thẩm tất cả các vụ việc dân sự đều phải có hội thẩm nhân dân tham gia.
Sai. Vụ việc dân sự là các vụ việc phát sịnh từ QHPLDS, hôn nhân và gia đình, KD,
TM và LĐ do Tòa án giải quyết. Vụ việc dân sự bao gồm vụ án dân sự và việc dân sự.
Căn cứ theo quy định tại Điều 52 BLTTDS năm 2004 quy định: “ Hội đồng xét xử sơ
thẩm vụ án dân sự gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân. Trong trường hợp đặc
nguyên tắc xét xử tập thể.
6. Mọi vụ việc dân sự đều phải trải qua hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm.
Sai. Tòa án xét xử theo hai cấp có ý nghĩa quan trọng, vừa đảm bảo cho tòa án xét xử
đúng vụ án dân sự vừa đảm bảo cho đương sự bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của
2
họ trước tòa án. Đây là nguyên tắc của LTTDS. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp các
vụ việc dân sự đều phải trải quan hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm.
Điều 17 BLTTDS quy định: “… Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo,
kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm….”.
Đồng thời, Điều 316 BLTTDS quy định: “người yêu cầu……”. Quyết định giải quyết
việc dân sự bị kháng cáo, kháng nghị thì được Tòa án cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo
thủ tục phúc thẩm.
Theo hai quy định trên thì những bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị phải xét
xử theo thủ tục phúc thẩm. Nếu không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
trong thời hạn luật định thì bản án, quyết định đó có hiệu lực pháp luật.
Bên cạnh đó, Điều 188 BLTTDS quy định: “Quyết định công nhận sự thỏa thuận … ”
Theo đó, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự không bị kháng cáo, kháng
nghị mà có hiệu lực pháp luật ngay. Ví dụ: công nhận thuận tình ly hôn.
Như vậy, không phải trong mọi trường hợp vụ việc dân sự đều phải trải qua hai cấp sơ
thẩm và phúc thẩm. Vụ việc dân sự phải trải qua hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm khi bản án,
quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị. Nếu bản án, quyết định không bị kháng cáo,
kháng nghị thì không phải xét xử theo thủ tục phúc thẩm và trong trường hợp quyết định
công nhân sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay không được kháng
cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
7. Tòa án có trách nhiệm hòa giải đối với tất cả các vụ việc dân sự.
Sai. Điều 10 BLTTDS quy định: “Tòa án có trách nhiệm hòa giải và tạo điều kiện
thuận lợi…”. Thông qua hòa giải tòa án có thể giải quyết vụ án dân sự mà không nhất thiết
phải thông qua việc xét xử. Do đó, trách nhiệm hòa giải của Tòa án được pháp luật quy định
là một nguyên tắc cơ bản của TTDS. Tuy nhiên, Tòa án không có trách nhiệm hòa giải tất cả
các vụ việc dân sự.
phúc thẩm các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết tranh chấp và các thỏa
thuận này là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội thì được hội đồng xét xử
phúc thẩm công nhận sự thỏa thuận. (Khoản 1 Điều 270).
Như vậy, không phải mọi trường hợp thỏa thuận của các đương sự về việc giải quyết
tranh chấp đều được tòa án công nhận. Thỏa thuận này được công nhân khi thỏa thuận là tự
nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội.
10. Đương sự có nghĩa vụ nhờ người bảo vệ quyền lợi cho mình trong tất cả các vụ
việc dân sự.
Sai. Bảo vệ quyền lợi của đương sự là quyền của các đương sự trong vụ việc dân sự
chứ không phải là nghĩa vụ của đương sự. Đương sự chỉ có thể bảo vệ được quyền, lợi ích
4
hợp pháp của mình khi thực hiện được các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của họ. Quyền
bảo vệ của đương sự được ghi nhận là một nguyên tắc cơ bản của LTTDS.
Theo Điều 9 BLTTDS quy định: “đương sự….”. ĐƯơng sự có thể tự mình bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc ủy quyền, nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của mình.
Pháp luật TTDS cũng ghi nhận đây là một quyền của đương sự tại Điểm i, Khoản 2
Điều 58 BLTTDS: “Tự bảo vệ….”.
Những người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người được đương sự
nhờ và được Tòa án chấp nhận. Những người này bao gồm: Luật sư, trợ giúp viên pháp lý
và người tham gia trợ giúp pháp lý, công dân VN … (Điều 63 BLTTDS).
Như vậy, đương sự có quyền tự mình bảo vệ quyền lợi của mình hoặc nhờ người khác
bảo vệ quyền lợi cho mình. Bảo vệ quyền lợi cho đương sự là quyền của đương sự không
phải là nghĩa vụ nhờ người khác bảo vệ quyền lợi cho mình trong vụ việc dân sự.
11. Các tranh chấp về KD,TM thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án chỉ là các
tranh chấp phát sinh giữa cá nhân, tổ chức có đăng kí kinh doanh và đều nhằm
mục đích lợi nhuận.
Sai. Theo Điều 29 BLTTDS thì các tranh chấp về KD, TM thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án bao gồm: các tranh chấp phát sinh trong hoạt động KD, TM giữa các cá
nhân, tổ chức có đăng kí kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; Tranh chấp về
Toà án nhân dân giải quyết”.
Bên cạnh đó, Khoản 3 Điều 8 NQ 05/2012 quy định: “Khi xác định điều kiện khởi
kiện vụ án dân sự mà đối tượng khởi kiện là quyền sử dụng đất thì thực hiện như sau:
a) Đối với tranh chấp ai có quyền sử dụng đất thì phải tiến hành hòa giải tại Ủy ban nhân
dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp theo quy định tại Điều 135 của Luật Đất đai.
b) Đối với tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất như: tranh chấp về giao dịch liên
quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung
của vợ chồng là quyền sử dụng đất,… thì không phải tiến hành hòa giải tại Ủy ban nhân
dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp nhưng vẫn phải thực hiện thủ tục hoà giải
theo quy định của BLTTDS”. Theo quy định này thì trước khi khởi kiện ra Tòa án cần phải
được hòa giải. Nếu hòa giải thành thì Tòa án không giải quyết.
Như vậy, không phải mọi tranh chấp về quyền sử dụng đất đều thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án.
14. Mọi yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha mẹ đều thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự.
6
Sai. Theo Điều 27 và 28 BLTTDS thì Tòa án chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp
về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ. Việc yêu cầu xác định cha, mẹ
cho con và xác định con cho cha, mẹ không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo
Thủ tục tố tụng dân sự.
Theo đó, Tòa án chỉ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về xác định cha, mẹ cho
con hoặc xác định cho con cha, mẹ (khoản 4 Điều 27 BL TTDS 2004)
Tòa không có thẩm quyền giải quyết đối với các yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc
xác định con cho cha mẹ. Trong trường hợp này, đương sự có thể yêu cầu cơ quan hộ tịch
giải quyết theo thủ tục đăng kí hộ tịch. Cụ thể về vấn đề này được quy định tại NĐ
158/2005 như sau,
+ Điều 32 quy định về điều kiện đăng ký nhận cha mẹ con là tự nguyện và không có
tranh chấp.
+ Điều 33 quy định về Thẩm quyền đăng ký việc nhận cha, mẹ, con “Ủy ban nhân dân
cấp xã, nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận là cha, mẹ, con thực hiện đăng ký
Sai. Vì: Tòa án có thẩm quyền giải quyết các vụ việc phát sinh từ quan hệ PLLĐ do
PLLĐ điều chỉnh, trừ các yêu cầu về giải quyết đình công.
Khoản 2 Điều 32 BLTTDS quy định: Tòa án chỉ có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục
tố tụng dân sự các tranh chấp lao động tập thể về quyền giữa tập thể người lao động với
người sử dụng lao động theo quy định của pháp luật về lao động đã được Chủ tịch UBND
cấp huyện giải quyết mà NLĐ hoặc NSDLĐ không đồng ý,…
Ngoài ra, Điều 203 BLLĐ 2012 quy định: Thẩm quyền giải quyết tranh chấp LĐTT về
quyền gồm: Hòa giải viên LĐ, Chủ tịch UBND cấp huyện, TAND. Thẩm quyền giải quyết
tranh chấp LĐTT về lợi ích thuộc về Hòa giải viên LĐ, Hội đồng trọng tài LĐ.
Như vậy, không phải mọi trường hợp TA đều có thẩm quyền giải quyết tranh chấp
LĐTT về quyền và lợi ích. TA chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp LĐTT về quyền.
17. Tất cả các vụ việc dân sự mà có đương sự ở nước ngoài đều thuộc thẩm quyền
sơ thẩm của TAND tỉnh, tp trực thuộc trung ương.
Sai. Theo BLTTDS, điểm c khoản 1 Điều 34 có dẫn chiếu đến khoản 3 Điều 33 quy
định tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền sở thẩm: “….
Trích khoản 3 Điều 33…”
8
Tuy nhiên, không phải tất cả các vụ việc dân sự mà có đương sự ở nước ngoài đều
thuộc thẩm quyền sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Có
hai trường hợp ngoại lệ đó là:
Khoản 2, Điều 7 NQ03/2013: Đối với yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật, giải
quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha, mẹ và con, về
nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên
giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam, thì
theo quy định tại khoản 3 Điều 102 của Luật Hôn nhân và Gia đình là thuộc thẩm quyền
giải quyết của Toà án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi cư trú của
công dân Việt Nam.
Khoản 5 quy định: Không thay đổi thẩm quyền giải quyết của Toà án
a) Đối với vụ việc dân sự không thuộc một trong các trường hợp được quy định tại
khoản 3 Điều 33 của BLTTDS; được hướng dẫn tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này và được
hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha, mẹ và con, về nhận cha, mẹ,
con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công
dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam, thì theo quy định tại
khoản 3 Điều 102 của Luật Hôn nhân và Gia đình là thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà
án nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi cư trú của công dân Việt Nam.
Khoản 5 quy định: Không thay đổi thẩm quyền giải quyết của Toà án
a) Đối với vụ việc dân sự không thuộc một trong các trường hợp được quy định tại
khoản 3 Điều 33 của BLTTDS; được hướng dẫn tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này và được
Toà án nhân dân cấp huyện thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền, nếu trong quá trình giải
quyết mới có sự thay đổi, như có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải uỷ thác
tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho
Toà án, Cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, thì theo quy định tại Điều 412 của
BLTTDS, Toà án nhân dân cấp huyện đã thụ lý tiếp tục giải quyết vụ việc dân sự đó.
20. Mọi vụ việc dân sự mà có đương sự là người nước ngoài đều thuộc thẩm quyền
xét xử sơ thẩm của TAND cấp tỉnh.
Sai. Có trường hợp ngoại lệ. Tương tự câu 19
21. Theo PLTTDS hiện hành, đối với các tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền của
TAND cấp huyện thì các đương sự vẫn có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng
văn bản yêu cầu TA cấp tỉnh giải quyết.
Theo pháp luật tố tụng hiện hành, theo điểm b khoản 1 Điều 35, “các bên đương sự chỉ
có quyền thỏa thuận với nhau … trích luật…”
10
Như vậy, các bên đương sự chỉ có thể thỏa thuận về việc giải quyết TC tại tòa án nơi
cư trú, làm việc của nguyên đơn; và Việc thỏa thuận đó không được trái với quy định tại
Điều 33 và Điều 34 của BLTTDS.
Ví dụ: Trong vụ án, nguyên đơn A cư trú tại huyện M của tỉnh N và bị đơn B cư trú tại
huyện X của tỉnh Y. Theo nguyên tắc Tòa án huyện X tỉnh Y nơi bị đơn B cư trú có thẩm
quyền. Nếu các bên thỏa thuận Tòa án nơi nguyên đơn A cư trú thì phải bảo đảm thẩm
quyền của cấp Tòa án. Nếu vụ án thuộc thẩm quyền Tòa án cấp huyện thì thỏa thuận chỉ
được chấp nhận khi các đương sự thỏa thuận Tòa án huyện M của tỉnh N giải quyết. Nếu
thường các giấy tờ, tài liệu liên quan đến bất động sản sẽ do cơ quan nhà đất hoặc chính
quyền địa phương nơi có bất động sản đó lưu trữ. Do vậy, tòa án nơi có bất động sản sẽ là
tòa án có điều kiện tốt nhất để tiến hành xác minh, xem xét tại ch• tình trạng của bất động
sản và thu thập các giấy tờ, tài liệu liên quan đến bất động sản. Đối với các tranh chấp về
BĐS, các bên đương sự không có quyền thỏa thuận về việc yêu cầu tòa án nơi có bất động
sản giải quyết”.
Việc quy định như vậy bởi lẽ: Bất động sản là một loại tài sản gắn liền với đất không
thể chuyển dịch được và thông thường các giấy tờ, tài liệu có liên quan đến bất động sản sẽ
do cơ quan quản lí đất đai hoặc chính quyền địa phương nơi có bất động sản đó lưu giữ. Do
vậy, tòa án nơi có BĐS sẽ là TA có điều kiện tốt nhất để tiến hành xác minh, xem xét tại
ch• tình trạng của bất động sản và thu thập các giấy tờ, tài liệu liên quan đến BĐS.
Đối với các tranh chấp về BĐS, các bên đương sự không có quyền thỏa thuận về việc yêu
cầu tòa án nới không có bất động sản giải quyết.
24. Theo PL TTDS hiện hành, đối với vụ án ly hôn đồng thời có yêu cầu giải quyết
tranh chấp về tài sản là bất động sản thì chỉ có tòa án nơi cư trú, nơi làm việc
của bị đơn mới có thẩm quyền giải quyết.
Sai. theo điều 8 khoản 4 Nghị quyết 03/2012… “Trong vụ án về hôn nhân và gia đình, thừa
kế tài sản, mà có tranh chấp về bất động sản thì thẩm quyền giải quyết của Tòa án được
xác định theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 35 của BLTTDS.”
Tại điều 35 khoản 1 điểm a, b BLTTDS quy định: “Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ:
1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Toà án theo lãnh thổ được xác định như sau:
12
a) Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị
đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về
dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25,
27, 29 và 31 của Bộ luật này;
b) Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Toà án nơi cư trú,
làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn,
nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia
đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật
làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn,
nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia
đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật
này;”
theo điểm b khoản 1 điều 36 BLTTDS: “Thẩm quyền của Toà án theo sự lựa chọn của
nguyên đơn, người yêu cầu
1. Nguyên đơn có quyền lựa chọn Toà án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia
đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong các trường hợp sau đây:
b) Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể yêu
cầu Toà án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết;
27. Đối với tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì chỉ Tòa án nơi cư trú, làm
việc hoặc nơi có trụ sở của bị đơn mới có thẩm quyền giải quyết
Sai. điểm b khoản 1 điều 36 và điểm b khoản 1 điều 35
Điều 35. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổThẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của
Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:
b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi
cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của
nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân
sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các
điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;
14
Điều 36. Thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu[sửa]
1. Nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và
gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong các trường hợp sau đây:
g) Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa
án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết;
28. Trong mọi trường hợp, tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi
hành án theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự đều do Tòa án nơi cư trú,
làm việc hoặc nơi có trụ sở giải quyết
Sai vì:
- Theo điểm a khoản 1 Điều 35, … trích luật…
- Tuy nhiên, theo điểm b khoản 1 Điều 35, …trích luật…
Do đó, không phải trong mọi trường hợp đối với tranh chấp về…., có trường hợp nếu các
bên đương sự thỏa thuận được với nhau thì có thể yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của
nguyên đơn.
16